Nguyễn Quang A - Học tập và làm theo Hồ Chí Minh về biểu tình

  • Bởi Admin
    23/07/2011
    29 phản hồi

    Nguyễn Quang A

    thumb_flex-1304670200996072_file.jpg

    Học tập và làm theo Hồ Chí Minh về biểu tình

    Người ta đánh tráo khái niệm “biểu tình” bằng “tụ tập đông người”. Hãy quay lại với luật pháp hiện hành. Biểu tình là một quyền được Hiến Pháp quy định. Không luật nào, không tổ chức nào và người nào được làm trái hiến pháp. Có quy định nào về thủ tục biểu tình trong luật Việt Nam hiện hành? Tôi tìm thấy sắc lệnh số 31 do cụ Hồ ký. Toàn văn sắc lệnh như sau:

    SẮC LỆNH CỦA CHỦ TỊCH CHÍNH PHỦ LÂM THỜI SỐ 31 NGÀY 13 THÁNG 9 NĂM 1945 CHỦ TỊCH CHÍNH PHỦ LÂM THỜI VIỆT NAM DÂN CHỦ CỘNG HOÀ

    Xét vì tự do hội họp là một trong những nguyên tắc của chế độ Dân chủ cộng hoà;

    Nhưng trong tình thế đặc biệt hiện thời, cần phải xem xét, kiểm soát những cuộc biểu tình, đề tránh những sự bất trắc có thể có ảnh hưởng đáng tiếc đến việc nội trị hay ngoại giao;

    Sau khi Hội đồng các Bộ trưởng đã đồng ý;

    RA SẮC LỆNH:

    Điều thứ 1: Những cuộc biểu tình phải khai trình trước hai mươi bốn giờ với các Uỷ ban nhân dân sở tại trong thời kỳ này.

    Điều thứ 2: Ông Bộ trưởng Nội vụ và các Uỷ ban nhân dân Bắc Trung Nam bộ chịu uỷ nhiệm thi hành sắc lệnh này.

    Hồ Chí Minh

    Không rõ có văn bản pháp lý nào của Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam đã tuyên bố sắc lệnh số 31 của cụ Hồ Chí Minh vô hiệu hay không? Nếu có, đề nghị Bộ Tư Pháp thông báo để nhân dân được rõ.

    Nếu chưa có, thì sắc lệnh 31 vẫn có hiệu lực pháp lý.

    Đảng Cộng Sản Việt Nam đã phát động phong trào học tập cụ Hồ. Tôi thấy cụ Hồ là một lãnh tụ, một chính trị gia lão luyện. Nhân dân ít có thể học được mấy từ Cụ, vì nếu cả 89 triệu dân Việt Nam đều như Cụ, thì đất nước suy sụp vì sẽ chỉ có toàn lãnh tụ và chính trị gia, mà số ấy chỉ là không đáng kể trong dân chúng. Cho nên các lãnh tụ, các cán bộ cấp cao và cán bộ nhà nước mới thực sự là những người cần và phải học cụ Hồ. Và phải học những việc rất cụ thể, không chung chung.

    Liên quan đến quyền biểu tình của người dân đã được hiến định và nếu sắc lệnh 31 đã bị vô hiệu, thì có thể thấy các lãnh đạo, các chính trị gia, các đại biểu Quốc Hội đã chẳng chịu học Hồ Chí Minh và họ phải học ngay và thấu triệt tinh thần của Cụ Hồ về biểu tình để có luật về quyền tự do biểu tình của công dân.

    “Tự do hội họp là một trong những nguyên tắc của chế độ Dân chủ cộng hoà”, câu mở đầu của sắc lệnh tuyên bố một cách chắc nịch về quyền tự do hội họp của người dân mà không thế lực nào có quyền làm mai một. “Nhưng trong tình thế đặc biệt hiện thời, cần phải xem xét, kiểm soát những cuộc biểu tình, đề tránh những sự bất trắc có thể có ảnh hưởng đáng tiếc đến việc nội trị hay ngoại giao” là lý do để cần có sắc lệnh 31.

    Ngay cả trong tình trạng khó khăn như thế của Nhà Nước, quyền tự do biểu tình của người dân vẫn được đảm bảo. Và vì thế “những cuộc biểu tình phải khai trình trước hai mươi bốn giờ với các Uỷ ban nhân dân sở tại trong thời kỳ này”. Nói cách khác biểu tình không phải xin phép mà chỉ cần “khai trình trước”, thông báo trước 24 giờ. Hiện nay tình hình đất nước vững mạnh hơn khi Cụ Hồ ban hành sắc lệnh này rất nhiều, nên chẳng thể có lý do nào để có điều kiện khắt khe hơn điều kiện “khai trình” mà Cụ Hồ đưa ra.

    Không cần phải có Nghị định hay thông tư hướng dẫn mà “Ông Bộ trưởng Nội vụ và các Uỷ ban nhân dân Bắc Trung Nam bộ chịu uỷ nhiệm thi hành sắc lệnh này”. Tức là họ chỉ có việc thi hành.

    Toàn bộ sắc lệnh, kể từ Tiêu đề “sắc lệnh, ngày tháng,…, đến chữ ký Hồ Chí Minh” chỉ vỏn vẹn 155 từ.

    Các lãnh đạo, các đại biểu Quốc Hội nên bỏ ra 5 phút để học Hồ Chí Minh về vấn đề biểu tình và lệnh cho công an cả nước học theo và tôn trọng pháp luật hiện hành, kể cả sắc lệnh 31 của cụ Hồ nếu nó chưa bị Quốc Hội Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam tuyên bố vô hiệu.

    ___________________________

    [*] Bài viết do TS Nguyễn Quang A gửi trực tiếp cho NXD-Blog.
    Xin chân thành cảm ơn tác giả!

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    29 phản hồi

    Đề tài do bác Hồng Sương đưa ra cũng thú vị, có thể dự đoán nhiều người sẽ nhảy vào cãi cọ cho vui.
    Bàn về một nhân vật lịch sử như ông Hồ thì đến tết không xong. Có khi anh chị em một nhà quay sang chửi nhau chưa biết chừng!

    Vui, thú vị mà đi quá xa chủ đề thì nên tự kiềm chế, mạnh dạn chấm dứt. Tôi thừa nhận bác Sương không thua, mà còn ở thế thắng nữa kia.

    Admin nên quyết định đi.
    CHHV sắp ra toà, hãy bàn vào những bài liên quan.

    Có một lối suy nghĩ tôi hiểu khi thấy nhiều người ‘núp bóng râm‘ của đảng như thế, song tôi không ủng hộ. Tôi chấp nhận chuyện có thể chưa hiểu hết nên vào đảng nhưng phải đấu tranh. Cái khó đảng vào dễ ra khó gắp bội nên trí thức lại đành phải tính toán ... cộng trừ nhân chia, cân phân...khôn dại ! Nhưng, nếu quá tự bảo vệ như thế e chẳng làm nên sự thể gì !

    Xin nhớ đến nhiều người đấu tranh và nhận thân phận chết thảm thương trong CCRĐ hay như nhà thơ Hữu Loan đi kéo xe đá ...muốn kể ra niềm đau nỗi chết của trí thức miền Bắc đó thì thật là không xiết.

    Vào đảng CS khó biện minh là mình không là ‘thần dân’ của một trong bộ ba Ông Hồ ông Giáp ông Đồng . Mà cả ba đều sai trong nhóm sai theo CS Mao, đứng về phía sai của lịch sử !

    Nhiều đảng viên còn nói ...không làm chánh trị ! Trời hởi ! vào đảng chánh trị mà không làm chánh trị thì làm kiểng, làm bình phong của kẻ cơ hội ? Một ai vào đảng Việt Tân nhưng nói với CSVN là đảng viên nhưng ...không làm chánh trị có được không ?
    Tất nhiên sau chuyện Tiến sĩ A làm, ông không thể còn bị coi là người cơ hội an phận làm thần dân .

    Tôi rất không tin người CS có sĩ diện để biết xấu hổ sửa sai trước chuyện ‘ăn đàng sóng nói đàng gió’ để ông A dùng biện pháp ‘gậy ông đập lưng ông’ có hiệu quả !

    Khi tổ chức tưởng niệm lính VNCH chết do bảo vệ Hoàng Sa ở Sàigòn cũng không thể xin phép vì xin thì không ai dám cho mà xin ! Biểu tình tụ tập ...thì đành chấp nhận là làm chuyện ...bất hợp pháp ! Chuyện rắc rối với chánh quyền tùy cơ ứng biến ... tính sau !

    Xin có giải thích một chút khi nói đến miền bắc trong bối cảnh ông A là giới chức cao cấp CS thì đó là nói chánh quyền miền Bắc chứ có một sự khác biệt xa xôi giửa người dân miền Bắc và đảng miền Bắc không phải ...ai cũng vậy !

    Hơn nửa nhóm Nhân văn & Giai phẩm bị càn quét sạch sẻ, hồn phi phách tán, là nhóm tinh hoa đất nước hầu hết là người miền Bắc. Người dân miền Bắc thời chiến và bây giờ thì có khác hơn, thấp hơn, so với chính những người miền Bắc tiền chiến hay được đào tạo ở nước ngoài đó !

    Người dân miền Nam Sàigòn trước đây và bây giờ ( không nói nhóm đảng viên CS ) thường so mình với người cùng cấp ở Mỹ Pháp với Thái lan với Singapore về trình độ chuyên môn ,về lương, về khả năng giải quyết vấn đề chuyên môn chứ không có cách so mình với miền bắc vì ...không có ý nghĩa hiệu quả gì cả !

    Trần thị Hồng Sương

    Theo tôi, ý kiến bác Pro-Khakqoan đối với bác Hồng Sương là có thể hiểu được. Tôi hiểu như sau (cá nhân tôi thôi nhé).

    Ông Nguyễn Quang A chỉ lợi dụng một sắc lệnh do ông Hồ ký về biểu tình (từ thời tám hoánh nào ấy) để đấu tranh đòi quyền biểu tình. Thế thôi.
    Nguyễn Quang A viện trưởng IDS, đâu phải tín đồ coi ông Hồ như chúa?. Sao có thể liên hệ chuyện QA đưa ra (và có vẻ đề cao) cái sắc lệnh (nay chẳng ai còn biết tới nữa) với chuyện nông dân ít học ở miền Bắc sùng bái ông Hồ?

    Có lẽ, trong đầu bác HS có một điểm luôn luôn hưng phấn (là dân miền Bắc tôn sùng ông Hồ vì được giáo dục như tín đồ được dạy phải kính Chúa). OK, không sao cả. Bác cứ giữ lấy quan điểm này. Nhưng nếu:
    1) Bác vận dụng nó vào bất cứ khi nào có cơ hội là không đúng, vì dễ lạc đề; Bài của bác QA không định ca ngợi ông Hồ mà chỉ dùng "gậy ông đập lưng ông mà thôi". Các vị CS cứ nói học ông Hồ, thì đây, sắc lệnh đây. Học đi.
    Cách mà bác HS hiểu về QA như vậy, được gọi là cao siêu.
    2) Vận dụng vào ông QA lại càng không đúng. Hiện nay ông QA vẫn là đảng viên. Ông có quyền bỏ đảng. Nhưng như vậy là không khôn.

    Sức tôi chỉ hiểu đến vậy. Chưa chắc đã đúng.

    Cám ơn Bác Pro-Khakqoan vì lời nhận xét nhưng sẽ rất rõ ràng và khuyến khích cho tôi đồng thời hữu ích cho cộng đồng tham gia Dân Luận nếu được bác Pro-Khakqoan cho biết điều bác ‘không thích’ .

    Không thích vì sự thật quá khác cách nghĩ thông thường (của miền Bắc ) hay vì đó không thể là sự thật để tôi xin giải thích thêm hay là sự thật nhưng ...khó lòng chấp nhận ?

    Nói chuyện lịch sử là nói chuyện đã qua có dấu vết chứng cứ chứ không phải là nói chuyện dân chủ sẽ tới còn nhiều câu hỏi. Thứ hai nếu thấy nguyên nhân sai lầm là độc tài và thiếu khả năng trí tuệ thì mới bỏ được lòng tin vào những thành công của các nhà lãnh đạo...kiểu Hai Lúa làm máy bay !

    Tôi tin rằng nếu chúng ta được hiểu rõ lịch sử hiểu đúng bàn cờ chánh trị thế giới mà VN là nước có vai trò bị cả hai phía tranh thủ căng kéo thì con đường thống nhất và hòa giải dân tộc hai miền mới có được.

    Dù từng chọn lựa sai thì miền Bắc đã trãi qua quá nhiều khổ sở trả giá cho sai lầm đó rồi. Giá như ý kiến nhóm Cựu kháng chiến của MTGPMNđược nghe theo thì không tạo thêm thảm trạng thuyền nhân.

    Trần Thị Hồng Sương

    Tôi nghĩ, bác Khakqoan có lý khi viết: Một văn bản được tìm ra, có thể tha hồ suy luận. (nhưng) Phải đặt nó trong bối cảnh.

    Bác Nguyễn Quang A, tìm được cái “sắc lệnh biểu tình” do chủ tịch nước, kiêm thủ tướng ký (rất lâu sau mới có phó thủ tướng là Phạm Văn Đồng) và đưa lên báo như một cách đấu tranh đòi quyền biểu tình.
    Bàn luận vào chủ đề này sẽ đem lại những lợi ích rất thiết thực cho phong trào.
    Nhưng mọi người vẫn có quyền bàn luận theo quan điểm riêng của cá nhân mình mà không liên quan gì đến chủ đề bài viết – như ta đã và đang thấy ở ngay diễn đàn này.

    Trong số các bàn luận, tôi đặc biệt thích thú ý kiến của bạn Hồng Sương.
    Xin noi ngay: Tôi không thích thú về nội dung Hồng Sương viết ra, mà thích thú về cách hiểu, cách suy luận của bạn ấy.

    Hồng Sương cho rằng Nguyễn Quang A (từng là viện trưởng IDS, phản biện tới mức bị đảng CS bức tử) đã được dạy từ bé phải kính yêu bác Hồ, giống như giáo dân được dạy phải kính yêu Chúa.
    Đây là cách hiểu rất cao siêu, khi thấy Quang A có vẻ đề cao cái “sắc lệnh” nói trên.

    Đọc lại bài viết của bác Quang A, nhan đề Học tập và làm theo Hồ Chí Minh về biểu tình, câu hỏi đặt ra là trong bài viết của mình, bác QA muốn ai học tập?
    QA viết: Đảng CS đang phát động “học bác Hồ” nhưng Hồ là nhà chính trị lão luyện, dân chúng không thể học được, mà nếu 89 triệu dân “học được” thì đất nước loạn ngay. QA kết luận: Cho nên, người phải học bác Hồ chính là đám chóp bu trong đảng. Nếu vậy thì họ hãy “học” ngay cái Sắc Lệnh về biểu tình do chính ông Hồ ban hành đây này. Thông điệp của QA thật rõ ràng. Câu hỏi dành cho bạn đọc là: có tán thành cách đấu tranh (dùng gậy ông đập lưng ông) của QA hay không?
    Người bình thường đều hiểu thế.

    Nhưng Hồng Sương lại hiểu cao siêu hơn nhiều.
    Hồng Sương cho rằng cái sắc lệnh này đòi hỏi người biểu tình phải “khai trình” trước 24 giờ chính là cái bẫy, để CS kịp chuẩn bị đàn áp.
    Nếu Hồng Sương đang sống ở nước ngoài (dân biểu tình như cơm bữa) hãy tham khảo Luật Biểu tình coi thử, có cái nước (phải gió) nào mà biểu tình không cần khai trình hay không.

    Thiếu gì nước dân chủ giả hiệu. Ở đó, quyền biểu tình cũng được ghi vào hiến pháp hẳn hoi. Nhưng đợi mỏi mắt vẫn không thấy cái điều trong hiến pháp được cụ thể hoá thành sắc lệnh, luật và nghị định.
    Và nếu bọn dân chủ giả hiệu có nặn ra cái “luật biểu tình” chúng sẽ nghĩ ra vô số tính từ đẹp đẽ để che dấu dã tâm, chứ “bố bảo” chúng nó cũng không dám mở đầu bằng câu Xét vì tự do hội họp là một trong những nguyên tắc của chế độ Dân chủ cộng hoà đâu. Mở đầu bằng câu đó thì các câu sau cũng phải phù hợp với tinh thần câu mở đầu, mà không được "chửi" lại một nguyên lý.

    Bác QA yêu cầu đám chóp bu hiện nay rêu rao “học bác Hồ” hãy học ngay cái câu mở đầu ấy, nếu như họ bị đẩy vào cái thế không thể thoái thác ban hành Luật Biểu Tình. Dẫu rằng, sẽ còn lâu lắm.

    Nói tóm lại, tôi thích cách hiểu và cách suy luận cao siêu của HS. Nó cao siêu, chứ không bình thường như của những người bình thường.

    Các vị giỏi lý thuyết và suy luận quá. Một văn bản được tìm ra, có thể tha hồ suy luận. Phải đặt nó trong bối cảnh.

    Stalin về nguyên tắc cũng chỉ là một phiếu, nhưng vẫn lũng đoạn được cả ban chấp hành đảng CS LX suốt 29 năm. Stalin kết tội "chết" 2 uy viên bộ chính trị (cùng thời Lenin) mà ban chấp hành bỏ phiếu tán thành mới kinh chứ, trong khi Stalin chỉ là một phiếu.
    Chuyện đời xưa nói với người thời nay, thật khó.
    Chính tôi cũng không tin những chuyện của người già kể lại cho mình. Sau, nghĩ rằng các cụ có định kể lại cho thằng tôi nghe đâu, mà là do mình hỏi han thôi. Cái đáng lưu ý là bối cảnh.

    Tôi đưa tư liệu mà tôi có, chính tôi cúng thấy còn nhiều điểm nghi vấn trong cái khối tư liệu này cơ mà. Do vậy, khi chia xẻ, tôi nói những điều tôi "cho là đúng" hoặc "tưởng là đúng", nhưng bao giờ cũng kèm bối cảnh. Nhờ nguồn của người già, mà khi ghi chép có thể hỏi thêm những gì có vẻ vô lý. Khi bối cảnh được nêu, sự vô lý giàm đi nhiều, hoặc mất hẳn. Đấy là điều tôi suy nghĩ và coi trọng.

    Lấy ví dụ về câu hỏi "uy tín ông Hồ" và "ông Hồ chỉ là một phiếu" mà có bạn hỏi lại (sau khi bạn đó tự suy luận). Điều vô lý thấy rõ là... chả lẽ khi bỏ phiếu thì ông Hồ có quyền bỏ nhiều phiếu?

    Chuyện ông Hồ rất uy tín có 2 giai đoạn.
    - Giai đoạn đầu, từ khi ông lập được mặt trận Việt Minh 1941 đến năm 1952 (1953?) khi VN chưa tiến hành CCRD. Cuộc kháng chiến hoàn toàn dựa vào sự giúp đỡ của LX và TQ, thế mà khi sang xin viện trợ thì bị LX ép thực thi "đấu tranh giai cấp" mới bỏ mẹ chứ! Hồ quá biết Stalin không tin mình "cách mạng triệt để", thì nay chính là dịp thử thách gay cấn liên quan tới sinh tử của HCM. Trong khi đó thì đấu tranh giai cấp rất được lòng phái trẻ trong đảng (Trường Chinh, Lê Đức Thọ: cùng lứa với Trần Phú, Hà Huy Tập...). Họ chỉ muốn cách mạng tiến nhanh để chính họ tận mắt thấy CNXH được thực hiện ở VN. Nước ta mang tên XHCN ngay khi Lê Duẩn, Trường Chinh, Lê Đức Thọ còn sống. Bộ ba này chỉ là 3 phiểu, nhưng ban chấp hành trung wowng phải nghe một phép. Kinh chưa!
    Ở giai đoạn đầu, HCM đề xuất gì, toàn ban chấp hành trung ương nghe răm rắp. Thể hiện ở kết quả bỏ phiếu bao giờ cũng đạt 100% "thuận".
    Tuyệt đa số dân mù chữ, họ coi HCM như thánh, khiến những ủy viên trung wowng có hậm hực cũng tạm nén.

    - Giai đoạn sau, uy tín HCM trong dân vẫn không hề giảm. Dân không thể biết gì về những thay đổi trong trung wowng đảng. Đảng vẫn đề cao HCM cho đến tận ngày ông chết, vì đây là biểu tượng để mọi người dân đoàn kết quanh đảng. Chỉ có sống thời đó mới hiểu. Mao Trạch Đông còn hơn ông Hồ cơ: chết 15 năm, vẫn cứ được coi là thánh. Và đến nay hình tợng Mao đã sứt mẻ lớn, nhưng chớ tưởng rằng đảng CS TQ không cần hình ảnh Mao nữa. Tôi cũng từng nhầm to cho tới khi du lịch TQ năm 2009.

    Nhưng uy tín HCM trong trung ương thì bắt đầu giảm từ sau cải cách RD, tức là từ khi công khai "đấu trang giai cấp" - biểu hiện bằng tỷ lệ phiếu "thuận" trước những chủ trương do HCM đưa ra.
    Đến khi Lê Duản là tổng bí thư, thì vị thế HCM rõ dần. Người đề xuất chủ trương không còn là HCM nữa.

    Tôi chuyển sang quan tâm cái khác rồi.

    KhakQoan viết:
    ...
    Muốn tiến lên XHCN, cần tiêu diệt bóc lột. Địa chủ bị tiêu diệt trước, nhưng lan sang cả phú nông và trung nông. Quy củ và văn hóa làng xã bị đảo lộn. Nhất định ông Hồ phải chịu trách nhiệm rồi. Nếu định hạ bệ một thần tượng mà hiện nay đảng CS đang bám vào (như cái pháo cuối cùng) thì dịp này nên kết tội ông Hồ thật nặng vào.

    ...

    Mới gởi trả lời cho bác KhakQoan xong thì lại thấy bài này.

    Tôi chỉ muốn việc nào ra việc nấy chứ không cần phải hạ bệ ai cả. Thần thánh hóa về mọi mặt, hàng ngày, một nhân vật, chỉ thể hiện dân trí thấp kém mà thôi.
    Ai cũng có sai phạm, lồi lầm lớn nhỏ. Ông Hồ cũng thế thôi.

    Tôi vẫn thích con người Nguyễn Ái Quốc thời hai cụ Phan hơn là con người Hồ Chí Minh. Hai con người này hoàn toàn khác nhau. Đáng tiếc !

    Các bác có thêm tư liệu nào thì cứ đưa ra bàn luận nhưng tôi nghĩ rất khó kiểm chứng.

    KhakQoan viết:
    Hỏi cụ già BC, cụ bảo: Các cháu không biết địa vị ông Hồ về sau này đâu. Từ địa vị chủ tịch đảng (thực quyền), ông chỉ còn là chủ tịch ban chấp hành trung ương (cái tên tôn kính, nhưng không thực quyền). Từ đó, ông chỉ là MỘT PHIẾU mỗi khi bộ chính trị hay ban chấp hành trung ương quyết định những vấn đề quan trọng.

    Bạn KhakQoan,

    Bác Khách Qua Đường có nhận xét chính xác. Cha mẹ tôi có kể thời xưa ở Saigon vẫn có biểu tình phản đối ông Hồ. Bạn có thể gặp những người sống ở miền nam vào lứa tuổi ngoài 55 để hỏi (khéo).

    Nếu bạn cho rằng "uy tín ông Hồ rất cao trước đây" đến nỗi chính phủ VNCH không dám đụng đến uy tín ông Hồ, thế thì tại sao ông Hồ lại mất thực quyền ngay chính với đàn em của mình ?
    Dĩ nhiên là mỗi người một phiếu, chẳng lẽ một người lại nhiều phiếu thì trở thành "gian lận" hay sao ?
    Nếu ông Hồ có uy tín cao như vậy thì Giáp, Chinh, Đồng, ... đều ủng hộ bằng lá phiếu của họ.

    Khách Qua Đường viết:
    KhakQoan viết:

    “Uy tín ông Hồ rất cao trước đây. Chính phủ VNCH chưa bao giờ dại dột đụng đến uy tín ông Hồ.”

    Xin thưa thẳng với bác “KhakQoan” rằng nhận định trên đây của bác là KHÔNG ĐÚNG. Thuở tôi còn nhỏ, vào những năm 1954-55 từ thời Cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm trong nền Đệ Nhất VNCH, và cả nhiều năm sau đó, đi đâu cũng thấy treo nhiều bảng vẽ hình ông Hồ đang cõng con rắn thè lưỡi đỏ rực, với hàng chữ : “ HỒ CHÍ MINH CÕNG RẮN CẮN GÀ NHÀ” (ý nói ông Hồ rước TÀU vào hại VN). Vậy chính phủ VNCH không những DÁM đụng đến “uy tín” ông Hồ mà còn chửi thẳng vào mặt ông ấy là theo TÀU hại nước.

    Thưa Bác Nguyễn Quang A tất nhiên vì được dạy kính yêu Bác Hồ từ lúc còn bé đã thành tiềm thức như người có đạo không cần suy nghĩ tự dưng ...kính sợ Chúa nguyện tùng phục Chúa ! Vì lòng tin sai đó bác A mới cố công gây dựng chánh phủ CSVN để cuối cùng cũng nhận ra điều độc tài khó lòng chấp nhận !

    Nếu người có kiến thức và bản lĩnh chánh trị sẽ thấy ngay ban hành sắc lệnh đó chính là để ngăn cản biểu tình. Chánh phủ 1945 là chánh phủ không Cộng Sản, đa đảng, do sự dàn xếp của Tưởng giới Thạch. Dưới áp lực của Tưởng Giới Thạch Ông Nguyễn Tất Thành còn phải tuyên bố giải thể đảng CS nửa kia !

    Không phải là chiến thuật chiến lược gì đâu kiểu CSVN ngày nay giải thích mà điều này khiến Liên Xô nổi giận không tiếp kiến ông Nguyễn Tất Thành xin gặp để giải thích !

    Cho nên không thể có điều luật nói rõ ...cấm biểu tình. Ban hành luật biểu tình du người biểu tình vào thế bị ...diệt gọn trước khi biểu tình là lối chánh trị xảo quyết mà người trình độ thấp nhiều tham vọng cá nhân như nhóm ông Hồ thường cho là ...khôn ngoan !!

    Lúc đó đảng Việt Minh hải ngoại, đảng Đại Việt và nhiều nhóm có nhiều cuộc diễu hành và biểu tình họp tố cáo tính độc tài và nhân thân mờ ám của Nguyễn Tất Thành (xem hồi ký của Bác Giáp phê phán chê bai khi nói về các cuộc biểu tình của đảng phái của cụ Nguyễn Hải Thần này được bác Giáp mô tả là trên chiếc xe có gắn súng !)

    Luật biểu tình các nước chỉ có quy định là ‘bất bạo động’phá họai bất cứ tài sản gì cũng phải ra tòa và bồi thường. Thứ hai là không làm ảnh hưởng công việc làm ăn của người khác nằm trong khu vực biểu tình.

    Cụ Nguyễn Hải Thần và nhóm Đại Việt bị truy sát sau đó. Ông Phạm văn Đồng là cấp phó của Cụ Hải Thần đại diện còn lại đem Việt Minh hải ngọai không Cộng Sản biến thành Việt Minh Cộng Sản khi cộng tác với ông Hồ dành lấy chức Thủ tướng trọn đời.

    Phân tích điều phải báo trước 24 giờ là kiểu : ” Lạy ông tôi ở bụi này !” Đó là lý do có các việc thanh toán như vụ phố Ôn Như Hầu thay vì có biểu tình !
    Biểu tình là cái van an toàn để chánh phủ phải chú ý thay đổi chánh sách nếu không thì chánh phủ đang chủ trương đàn áp độc tài !

    Trần Thị Hồng Sương

    1- Tôi xin lỗi. Có lẽ vì trực tiếp gõ keyboard trả lời (quá dài) nên tôi có thiếu sót. Cho đến khi ông Hồ mất (1969) người được giáo nhiệm vụ theo dõi thông tin miền Nam qua đài phát thanh cho biết: không lần nào đài này đụng đến uy tín ông Hồ. Còn báo chí miền Nam lọt ra miền Bắc không nhiều, nên khi đó người theo dõi này không thể biết họ đã viết gì. Tôi không có tư liệu sau 1969 báo chí và phát thanh miến Nam nói gì về ông Hồ.

    2- Ý kiến của tôi về ông Hồ: Dù ở cương vị thực quyền tối cao (1945-1952), hay khi chỉ còn hư quyền (sau 1953), ông Hồ vẫn phải chịu trách nhiệm về mọi tai họa do thực hiện (quá tả) chủ nghĩa Mác Lê.
    Lịch sử khách quan sẽ làm minh bạch và đầy đủ: Trong từng vấn đề, từng sự việc, ông Hồ chịu trách nhiệm đến đâu. Ngay vụ Mậu Thân, dù ông có ý kiến khác, ông vẫn phải chịu trách nhiệm. Khi họp bộ Chính Trị, ông hỏi han rất kỹ... mong làm bộc lộ những điều kiện chưa chín muồi, nhưng không thể làm xoay chuyển suy nghĩ của mọi người đang quá hăng tiết. Khi Lê Duản cam đoan không đại thắng sẽ từ chức, thì chính ông Hồ cũng phải bỏ phiếu "thuận" để bảo mạng. Lịch sử sẽ đánh giá cả cái chuyện "bảo mạng" này nữa. Đó là việc của giới sử học có đủ tài liệu và công tâm, chứ không phải các nhà sử học của đảng.
    Không biết đời tôi có hy vọng thấy được những gì còn trong bóng tối hay không.

    Từ chính sách đoàn kết rộng rãi toàn dân "không phân biệt giàu nghèo", mà nay đi tới khối đoàn kết "lấy công nông binh làm hạt nhân" là bước bản lề làm đảo lộn mọi thứ trước đó. Khi đảng CS tái xuất hiện (đảng Lao Động) thì khối đoàn kết còn thay đổi tiếp: Công Nông Binh đoàn kết quanh đảng (vành ngoài là tiểu tư sản, tư sản yêu nước). Do bắt đầu CCRD nên địa chủ bị loại khỏi "toàn dân".
    Quý bạn có tài liệu giải mật của Nga về Stalin bắt Hồ phải tiến hành cải cách ruộng đất hay không? Hồ bị đe dọa tới mức ngồi lặng đi trước mặt Stalin (trong một chuyến đi bí mật sang Moscou). Và Stalin giao cho Tầu chỉ đạo trực tiếp cuộc CCRD. Chính cụ BC (do biết chữ Hán, ngoài tiếng Anh, Pháp) đã được cử trực tiếp làm việc với cố vấn Tầu ở Thái Nguyên về triển khai cải cách RD. Họ giả vờ khiêm tốn, tôn trọng chủ quyền, nhưng ý kiến của họ mới là tối hậu. Để giảm oan cho các cố vấn Tầu, có lẽ nên biết thêm một tư liệu, họ đã rất thành thật cung cấp cho VN con số của họ: Tỷ lệ địa chủ (ở bên Tầu) chiếm khoảng 5% dân số. Khi khảo sát tài sản của bà Nguyễn Thị Năm, họ nghĩ "nói chung" địa chủ ở VN cũng giầu có như ở TQ. Áp dụng vào VN 2 điều này thì bỏ mẹ rồi: thảm họa đã xảy ra - như ta biết. Cha tôi là cán bộ của đảng, thoát ly gia đình, mẹ tôi buôn bán vặt, ở quê bà nội tôi là nông dân sống bằng một mẫu ruộng. Năm 1952 bà nội tôi mất, cha tôi bị... quy là địa chủ. Bị đuổi về quê chịu tội trước nông dân, cha tôi chứng kiến tận mắt mọi điều điên đảo, cả về luân thường đạo lý... Vậy mà nay, khi viết lại về CCRD cha tôi rất tỉnh táo, khách quan. Ông chẳng sợ gì mà không đụng đến ông Hồ.

    1952-53 Đó là thời điềm ở miền bắc VN bắt đầu chính thức đưa "đấu tranh giai cấp" vào các văn bản và vào thực tiễn. Trước đó, mọi lời kêu gọi của ông Hồ đều có câu (đại ý) toàn dân VN không phân biệt nam nữ, tuổi tác, nghề nghiệp, giàu nghèo, sang hèn... Về sau, đã khác hẳn. Từ 1953, khi khai lý lịch bắt đầu có 2 mục: thành phần giai cấp bản thân và thành phần xuất thân. Lý lịch tôi: xuất thân: địa chủ + cán bộ + tiểu thương (đó là thành phần giai cấp của cha và mẹ); còn bản thân là tiểu tư sản (tức là tư sản nhỏ, mà tài sản là cây bút viết). Còn gì lố bịch và nực cười hơn?).

    Muốn tiến lên XHCN, cần tiêu diệt bóc lột. Địa chủ bị tiêu diệt trước, nhưng lan sang cả phú nông và trung nông. Quy củ và văn hóa làng xã bị đảo lộn. Nhất định ông Hồ phải chịu trách nhiệm rồi. Nếu định hạ bệ một thần tượng mà hiện nay đảng CS đang bám vào (như cái pháo cuối cùng) thì dịp này nên kết tội ông Hồ thật nặng vào.

    Tiếp đó, đảng tiêu diệt tư sản. May cho tư sản miền bắc, lẽ ra họ phải "chết" nhưng vì có miền nam trông vào (đảng CS không muốn để lộ ra sự tàn bạo) nên tư sản miền Bắc tuy vẫn phải chết, nhưng cái chết kéo dài, không tàn khốc quá.
    Sau đó, đảng sờ đến giai cấp tiểu tư sản. Bắt đầu từ trung nông (bắt buộc phải vào hợp tác xã do bần nông và cố nông lãnh đạo); rồi đến tiểu thương... Đúng lúc đang thực thi "hợp tác hoá" thì mấy ông văn nghệ sĩ đòi tự do. Lập tức vụ Nhân văn xảy ra và cuộc cải tạo trí thức và văn nghệ sĩ diễn ra. Nhất định ông Hồ có phần trách nhiệm, nếu cần, chúng ta cứ quy cho ông trách nhiệm số 1.
    Đây là tư liệu tôi có được. Chẳng hiểu nó khách quan đến đâu. Chính tôi cũng muốn kiếm tra để khỏi bị đánh lừa tới khi chết mà không biết bị lừa.

    Xin phép quý bạn, tôi chuyển sang viết bài nhân dịp DL đăng lại một bài cũ của ông GS Nguyễn Minh Thuyết (về trí thức).
    Tạm ngừng. Mà có lẽ tôi cũng cạn tư liệu cống hiến cho quý bạn rồi.

    KhakQoan viết:

    “Uy tín ông Hồ rất cao trước đây. Chính phủ VNCH chưa bao giờ dại dột đụng đến uy tín ông Hồ.”

    Xin thưa thẳng với bác “KhakQoan” rằng nhận định trên đây của bác là KHÔNG ĐÚNG. Thuở tôi còn nhỏ, vào những năm 1954-55 từ thời Cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm trong nền Đệ Nhất VNCH, và cả nhiều năm sau đó, đi đâu cũng thấy treo nhiều bảng vẽ hình ông Hồ đang cõng con rắn thè lưỡi đỏ rực, với hàng chữ : “ HỒ CHÍ MINH CÕNG RẮN CẮN GÀ NHÀ” (ý nói ông Hồ rước TÀU vào hại VN). Vậy chính phủ VNCH không những DÁM đụng đến “uy tín” ông Hồ mà còn chửi thẳng vào mặt ông ấy là theo TÀU hại nước.

    Thưa bác Khach Quan,

    Xét về phương diện dân tộc, ông Hồ và đảng CSVN đã đắc tội vì đã xóa bỏ Định Chế Làng Nước, một tuyệt tác chính trị ngàn đời của Tổ Tiên. Làng là một cơ cấu sinh hoạt tự do tự lập, với nếp sống thân thương và bình đẳng, mà chúng ta gọi nhau là Đồng Bào (Đồng: cùng, Bào: bọc) trong tinh thần Bọc Mẹ Trăm Con của Con Cháu Tiên Rồng. Làng còn là nơi bảo toàn lực lượng dân quân, bảo vệ và nung đúc tinh thần yêu nước của mọi người, và cũng là nơi bảo tồn nếp sống thuần túy dân tộc, dầu trong thời bình cũng như thời loạn.

    Đặc tính nền tảng của Làng Xã Việt là người dân tự ý tới ở, quy tụ thành làng. Tuy cách khởi lập có khác nhau, nhưng điều kiện tiên quyết trong việc Dựng Làng vẫn là lợi ích và sự tự quyết của những người quy tụ, không ai bắt buộc ai. Làng được thành lập không chỉ vì lợi ích vật chất, biến nơi khô cằn hoang vu thành miền phì nhiêu trù phú, mà còn vì lợi ích tinh thần. Làng giúp cho người dân thoát nạn sống cảnh bơ vơ thiếu nơi nương tựa, trái lại đã giúp cho toàn dân có cuộc sống xum vầy đầm ấm, tươi mát trong Xã Hội Đồng Bào.

    Nếu chỉ để thu tích của cải lợi lộc, dầu dưới bất cứ hình thức nào, như chủ trương của xâm lăng, của đế quốc, của phong kiến, của tư bản, hay của cộng sản như Hồ Chí Minh và Đảng CSVN đã làm, thì chẳng những không giúp ích gì cho Dân Tộc, mà còn làm cho Dân Tộc thêm khốn khổ, biến Dân Tộc thành nô lệ hay thành thú vật, máy móc như tình trạng đời sống dân Việt trước mắt hiện nay.

    Thú thật, có nhiều câu hỏi của quý bạn tôi không trả lời nổi, vì thời điểm 1945-46 cha mẹ tôi còn là hai đứa trẻ, chưa gặp nhau… thì làm sao tôi biết được bối cảnh khi đó.
    Còn dựa vào câu chữ của cái Sắc Lệnh để suy luận rộng ra, thì khả năng tôi làm sao bén gót các bạn?
    May, tôi chấp bút 200 trang cho cụ Bằng Công (ngoài ra, cụ này đã có vài bài trên Dân Luận). Ông già này mắt đã mờ (nhìn màn hình không rõ), tay đã run (không gõ nổi bàn phím), nhưng vốn là trí thức cũ, đầu óc còn sáng suốt… Tôi dựa vào những gì có trong 200 trang để trả lời mà thôi. Ngoài ra, tôi xin phép được… tịt. Giá mà chúng ta có một cuộc họp, gồm toàn những người thật sự muốn hiểu biết lịch sử; tôi sẽ kính thỉnh cụ già lụ khụ này chống gậy lò dò tới dự. Miễn là chớ hỏi móc, hỏi xỏ cái ông già đáng thương này.

    Một Sắc Lệnh có cách hành văn riêng, một phần là để mọi người thấy được quyền uy. Sắc lệnh, là lệnh của bậc tối cao trong một nước. Bất cứ “lệnh” nào nếu dài dòng đều giảm uy. Bất cứ lệnh nào cũng phải chỉ định người thi hành. Nếu sắc lệnh chỉ định “uỷ ban xã thi hành” thì còn gì là uy nữa. Sắc Lệnh của ông Hồ chỉ định 2 bộ trưởng…
    Nhưng thôi, tôi chỉ nói những điều tôi “cho là đúng” hoặc “tưởng là đúng”. Sẽ có nhiều bạn hỏi tiếp, dẫu tôi có trả lời tiếp thì các bạn sẽ dồn tôi đến chỗ… tịt ngòi, mới thôi. Tôi cũng chỉ ở lứa tuổi các bạn thôi; còn các cụ Tô Hải, Bằng Công mới hiểu rõ bối cảnh 1945-46.

    Sắc Lệnh sau khi ban hành không thể có ngay nghị định. Có nghị định rồi, còn phải hướng dẫn cho các cấp chính quyền (liên quan) cách thực thi. Hiện nay, một số nước vẫn dùng sắc lệnh và để nó đi vào thực tế phải mất it nhất hàng năm hay vài năm. Quý vị có thể kiểm tra tút suỵt điều này, không những ở VN mà ở một số nước. Huống hồ năm 1945, khi số người biết chữ quốc ngữ tối đa là 5%, mà Sắc Lệnh lại chỉ đăng ở Công Báo nên rất ít người tiếp cận. Cụ Bằng Công (2011) nói rằng không hề biết nó. Bác Quang A bới được ra nó chắc là tốn công lắm. Có thể nói Sắc Lệnh này của chính phủ lâm thời bị chìm đi, bị quên lãng nhanh do tình hình khẩn trương và rối ren khi đó. Số cực hiếm người tiếp cận sắc lệnh này, có lẽ nay đã chết hết rồi.
    Nay lôi nó ra, hạch hỏi rằng “nó chưa từng bị các chính phủ kế nhiệm bãi bỏ” thì… về lý là rất đúng. Đó cũng là một cách đấu tranh cần vận dụng.
    Nói thật nhé, các vị thân sinh ra Nguyễn Phú Trọng hay Trương Tấn Sang cũng cóc biết có cái sắc lệnh này để mà nhắc hai thằng con cân nhắc chuyện “bãi bỏ” hay không bãi bỏ nó. Dẫu sao, việc làm của bác Quang A cũng cho thấy chính quyền hiện nay kém xa về dân chủ cách đây trên 60 năm.
    Nếu định tìm hiểu lịch sử, chúng ta sẽ có câu hỏi khác. Nếu muốn hạ bệ một thần tượng mà CS đang đề cao, chúng ta sẽ hỏi khác. Đó là quyền ngôn luận. Cứ hỏi, sợ đếch gì ai. Chỉ có điều ai đủ tư cách và hiểu biết để trả lời? Chả lẽ lại là… tôi - hiện diện dưới một cái nick?

    Thế thì vì sao sau này ông Hồ không ban hành những sắc lệnh tương tự nhưng tiến bộ hơn (trong đó có kèm điều khoản bãi bỏ sắc lệnh cũ). Câu này thì bố tôi cũng không trả lời nổi. Hỏi cụ già BC, cụ bảo: Các cháu không biết địa vị ông Hồ về sau này đâu. Từ địa vị chủ tịch đảng (thực quyền), ông chỉ còn là chủ tịch ban chấp hành trung ương (cái tên tôn kính, nhưng không thực quyền). Từ đó, ông chỉ là MỘT PHIẾU mỗi khi bộ chính trị hay ban chấp hành trung ương quyết định những vấn đề quan trọng. Khi ông Hồ (và ông Giáp) có ý cản trở Tổng tấn công Mậu Thân, bọn quá tả trong đảng còn định “thịt” ông ấy cơ. Nhà chính trị lõi đời này (một phiếu) không thể làm gì khác, nhưng đã khéo léo dẫn Lê Duẩn đến chỗ phải hứa: Nếu Tổng tiến công không thắng lợi thì xin từ chức. Chúng ta dễ hiểu, cho đến khi chết Lê Duẩn vẫn bắt báo chí và Lịch Sử ca ngợi “thắng lợi” Mậu Thân. Nhưng, tôi đang lạc đề.

    Nhìn ông Hồ dưới con mặt Lịch Sử hay Chính Trị là tuỳ từng người, tuỳ quan điểm và mục tiêu. Uy tín ông Hồ rất cao trước đây. Chính phủ VNCH chưa bao giờ dại dột đụng đến uy tín ông Hồ. Trước mắt người già và dân thường (nông dân), ông Hồ là thánh, cho đến khi thế hệ già nua chết đi và đồng bào nông dân bỏ nghề nông trong quá trình công-nghiệp-hoá. Do vậy đảng CS vẫn cố đề cao ông Hồ, còn phe Dân Chủ quốc nội không dám nói ngược (tội phỉ báng, điều 88 sẽ gô cổ họ lại, dù họ là Nguyễn Quang A) do vậy bài bản của họ là vạch ra “đảng ta” chưa theo đúng lời bác Hồ dạy”. Ví dụ, bác Nguyễn Quang A đưa ra cái sắc lệnh về biểu tình. Còn ở nước ngoài, người Việt cóc sợ đảng, họ làm khác: Bôi nhọ hình ảnh “cao quý” của ông Hồ. Cả hai cùng mục tiêu, nhưng đôi khi chưa hiểu nhau và quay sang… chửi nhau. Cả hai bên đều nhìn ông Hồ dưới nhãn quan chính trị, mục tiêu chính trị. Còn tôi, do ảnh hưởng của nhà nghiên cứu Bằng Công, tôi không chỉ nhìn dưới nhãn quan chính trị mà thôi.

    Ông Hồ có tư tưởng dân chủ không (một bạn hỏi). Tôi không dám trả lời. Ông được bối cảnh lịch sử trao cho viết 2 văn bản: Tuyên Ngôn độc lập và Hiến Pháp đầu tiên. Nhiều người tin rằng bất cứ ai trong hoàn cảnh ấy đều đem toàn bộ hiểu biết, tâm huyết (tim) và lý trí (óc) hoàn thành sứ mạng. Biết rằng hậu thế sẽ phán xét hai văn bản này.
    Có người bảo ông nói thì hay, nhưng khi làm thì ngược lại. Lần cho tới gốc, cái ông chính thức "nói" và muốn "làm" theo nó lần đầu tiên với dân Việt là bản Luận Cương 1930. Xin đọc lại nó. Ông kêu gọi đoàn kết cả với địa chủ, tư sản yêu nước. Ngay năm đó, Luận Cương bị bãi bỏ, thay bằng Luận Cương Trần Phú. Địa vị tối cao của ông Hồ được phục hồi khi ông thành lập mặt trận Việt Minh, ngày 19-5-1941 (không thể có, nếu còn Trần Phú: một ủy viên của quốc tế CS; còn ông Hồ là "cán bộ" của vụ Phương Đông nằm trong QTCS).

    Thôi, tôi cạn vốn rồi. Và chưa biết toà soạn Dân Luận có chấp nhận comment lê thê như thế này không.

    KhakQoan viết:

    “Khi Pháp được phép thay thế lực lượng đồng minh, từ Sài Gòn ra đóng cả ở Hà Nội nữa, thì nguy cơ chiến tranh thấy rõ. Tình hình khẩn trương, căng thẳng. Chẳng ai nghĩ tới biểu tình, chẳng ai nhớ tới cái sắc lệnh biểu tình. Chẳng ông bộ trưởng nào của chính phủ mới (do bầu cử) nghĩ tới việc ra nghị định về cái sắc lệnh của chính phủ trước đó. Mọi suy nghĩ tập trung vào đối phó với Pháp (chắc chắn sẽ đánh VN).
    Sau khi Trần Phú, Lê Hống Phong, Hà Huy Tập chết vì con đường đấu tranh bạo động, quá tả (bị tử hình do khởi nghĩa Nam Kỳ 1940); ông Hồ trở lại địa vị tối cao, có điều kiện thực thi những tư tưởng mà ông cho là phù hợp. Sáu (6) lần liên hệ với tổng thống Mỹ thất bại, ông chỉ còn con đường trông vào Nga, Tầu để đánh Pháp. Pháp là đế quốc lạc hậu và già nua nhất (quá chậm chạp tuân theo nghị quyết Cựu Kim Sơn: Trao trả quyền tự trị cho thuộc địa), đưa đến chiến tranh Việt Pháp 1946-1954. VN là thuộc địa cuối cùng được trao trả quyền tự trị, nhưng Pháp trao cho chính phủ của quốc trưởng Bảo Đại, thân Pháp, bù nhìn.
    Sau tháng 8-1945 Ông thật sự muốn một chính phủ liên hiệp. Ông Hồ xuất thân gia đình nho giáo, đã mời nhiều nhà nho và trí thức có tư tưởng dân chủ vào chính phủ.
    Ngay năm ông thành lập đảng (1930), Stalin đã bắt đảng của ông phải bao quát cả cách mạng đông dương (đảng CSVN đổi tên theo chỉ thị của quoc tế CS). Ông phải theo. Sáu tháng sau đó, cương lĩnh nặng tính dân tộc của ông bị cánh trẻ phê phán nặng nề, thay bằng cương lĩnh khuynh tả (có câu "trước làm CM quốc gia, sau làm CM quôc tế"). Trần Phú, Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập (kém ông 20 tuổi) đã đấu ông tơi bời và đều được Stalin đặt vào địa vị cao hơn ông (cấp trên của ông Hồ). Họ chết trước năm 1945 nhưng cùng thế hệ với họ vẫn còn Trường Chinh, Lê Duẩn, Lê Đức Thọ... đều quyết liệt cách mạng, đốt cháy giai đoan... Năm 1970 mà Lê Duẩn còn có lý luận 3 dòng thác CM, trong khi ý thức hệ CS sắp đổ kềnh. Đủ hiểu ông Hồ bị cô lập tới mức nào.”

    Xin hỏi bác KhakQoan rằng theo bác nói ông Hồ có ý thức và tư tưởng DÂN CHỦ nhưng KHÔNG thực hiện được vào năm 1945, 1946 vì “Tình hình khẩn trương, căng thẳng”, vì “ Mọi suy nghĩ tập trung vào đối phó với Pháp (chắc chắn sẽ đánh VN)” v.v... Vậy tại sao sau năm 1954, mãi cho đến năm 1969 (tức là trong suốt 15 năm ông Hồ cai trị ở miền Bắc) ông Hồ KHÔNG CHỊU thực hiện cái tư tưởng và ý thức DÂN CHỦ này ? Chẳng hạn như cho dân ta ở miền Bắc được hưởng các quyền qui định trong bản Hiến pháp năm 1946 của VNDCCH (do chính ông Hồ cầm đầu ban soạn thảo) như các quyền Tự do ngôn luận, Tự do lập hội, Tự do ứng cử và bầu cử, v.v... mà lại cai trị một cách độc tài, độc đảng và độc ác như lịch sử đã chứng tỏ rất rõ ràng qua cái thời bao cấp, qua cuộc Cải Cách Ruộng Đất “long trời lỡ đất”, và qua vụ án Nhân Văn Giai Phẩm v.v... Chả lẽ ông Hồ lại là BÙ NHÌN của đám đàn em như Lê Duẩn, Lê Đức Thọ, Trường Chinh ngay từ năm 1954? Than ôi !

    Theo ngu ý của tôi, chỉ khi nào toàn dân VN trong nước, nhất là đồng bào ta ở miền Bắc vĩ tuyến 17, thoát khỏi đám mây mù lịch sử do tuyên truyền của ĐCSVN giăng ra, để ý thức được rằng cuộc cách mạng mùa thu năm 1945 vì độc lập, tự do của toàn dân VN đã bị ông Hồ Chí MinhĐCSVN ĐÁNH TRÁO bằng cuộc cách mạng XHCN của phe Cộng Sản Quốc Tế 3 do Liên Xô lãnh đạo, thì may ra Tổ quốc ta mới thoát khỏi cảnh bế tắc và nguy cơ mất nước vào tay bá quyền TQ, người đồng chí anh em (và người THẦY vĩ đại) tham lam và tàn ác của ông Hồ.

    Cám ơn bạn KhakQoan.
    Bạn có thể cho biết "tên" bản viết của cụ Bằng Công không, dạng hồi ký ?

    Tôi vẫn có "cảm giác" là ông Hồ đã hoàn toàn thay đổi ý thức hệ sau khi theo Mac-Le. Nguyễn Ái Quốc là một con người khác hẳn Hồ Chí Minh. Có lẽ cải cách ruộng đất đẫm máu và nhân văn giai phẩm cho tôi suy nghĩ này

    KhakQoan viết:
    ...
    Thôi, linh tinh lạc đề quá. Xin lỗi. Nếu không còn việc gì làm cho vui, xin quý vị đọc bản viết của cụ Bằng Công, dạng hồi ký (do tôi chấp bút) dày 200 trang, đang lưu hành trên mạng, để biết thêm về cái thời xa lắc chẳng còn ai muốn nhớ.
    Hồ Gươm viết:

    Nguyễn Quang A - Công an đang quấy rầy tôi

    ...

    6h38’ ngày 24-7-2011

    Nguyễn Quang A

    Nguồn: anhbasam.wordpress.com

    Chúc gia đình bác Nguyễn Quang A luôn gặp may mắn và an lành.
    Bác hãy làm đúng với lương tâm và lẽ phải.
    Trời Phật phù hộ người lương thiện

    Trích dẫn:
    Không cần phải có Nghị định hay thông tư hướng dẫn mà “Ông Bộ trưởng Nội vụ và các Uỷ ban nhân dân Bắc Trung Nam bộ chịu uỷ nhiệm thi hành sắc lệnh này”. Tức là họ chỉ có việc thi hành.

    Như vậy ông Nguyễn Quang A cũng hiểu không giống bác KhakQoan.
    Theo http://en.wikipedia.org/wiki/Decree , It has the force of law

    Tôi cũng hiểu giống như diễn giải của ông Nguyễn Quang A mặc dù có thể giải thích của bác KhakQoan là đúng theo định nghĩa của chính quyền lâm thời 1945.

    Nếu vậy thì sắc lệnh này không đầy đủ và không rõ ràng.

    Đúng ra nên cụ thể hơn điều 2 của sắc lệnh như sau :
    “Ông Bộ trưởng Nội vụ ra nghi định cụ thể về các văn bản hướng dẫn thi hành trong thời hạn xxx ngày kể từ khi có sắc lệnh này. Bộ Nội vụ và các Uỷ ban nhân dân Bắc Trung Nam bộ chịu uỷ nhiệm thi hành sắc lệnh này thông qua các văn bản hướng dẫn thi hành kể từ ngày dd/mm/yyyy”

    dd/mm/yyyy = ngày công bố sắc lệnh + xxx ngày + giai đoạn hướng dẫn các văn bản cho UBND các cấp

    KhakQoan viết:
    Nếu muốn biểu tình hay hội họp mà chỉ cần "khai trình" thì hôm nay nằm mơ cũng không có được.

    Bác KhakQoan diễn giải "khai trình" rất khác với "xin phép".
    Khai trình : mục đích, số người tham dự, thành phần tham dự, lộ trình (xuất phát, đi và đến), ngày, giờ, kéo dài bao lâu, biểu ngữ loại gì, pháo, kèn, trống ...
    Chỉ cần khai trình 24 giờ và không cần xin phép !!!!

    Chính vì vậy tôi cho rằng "Sắc lệnh" này không đầy đủ và không rõ ràng do đó hoàn toàn không khả thi

    KhakQoan viết:
    Ấy, xin chớ quý vị chớ có nghĩ giản đơn rằng sắc lệnh của nguyên thủ quốc gia là cái để trực tiếp thi hành.
    Ngược lại, nó chỉ nói lên tinh thần và những nguyên tắc lớn.
    Không bao giờ sắc lệnh viết dài dòng.
    Dưới nó, còn có các văn bản hướng dẫn thi hành.
    Cả thế giới như vậy.
    Sắc lệnh của ông Hồ cũng vậy.

    Năm 1945, ông Hồ vừa là chủ tịch nước (tổng thống), vừa là thủ tướng (đứng đầu chính phủ), do vậy Sắc Lệnh (cương vị tổng thống) của ông sẽ do thủ tướng thi hành (lại vẫn là ông). Do vậy tinh thần sắc lệnh đảm bảo được hiểu đúng. Trên cương vị thủ tướng, ông chỉ định hai bộ trưởng làm tiếp.

    Mở đầu, Sắc Lệnh nêu một nguyên tắc cơ bản của dân chủ: Xét vì tự do hội họp là một trong những nguyên tắc của chế độ Dân chủ cộng hoà;

    Tiếp đó, sắc lệnh dùng chữ "nhưng", tức là trong hoàn cảnh đặc biệt (khi đó quân ngoại quốc: Anh, Pháp và Tầu - vũ khi mạnh gấp trăm lần quân cách mạng - sắp vào VN, không thích chính quyền mới), nên ít nhiều có sự hạn chế biểu tình.
    Tuy nhiện "hạn chế" vẻn vẹn chỉ gồm có "khai trình" trước 24 giờ. (chúng ta thừa hiểu khai trình rất khác với xin phép). Nếu muốn biểu tình hay hội họp mà chỉ cần "khai trình" thì hôm nay nằm mơ cũng không có được.

    Dưới sắc lệnh, phải có Nghị Định (cụ thể hóa sắc lệnh) để sắc lện đi vào cuộc sống.
    Từ sắc lệnh trên, Nghị Định phải thể hiện ít nhất 2 điều:
    1)Nghị Định phải coi hội họp, biểu tình là một trong những nguyên tắc của chế độ Dân chủ cộng hoà.
    2) Muốn biểu tình, hội họp... chỉ cần "khai trình"
    Còn điều 3, 4, 5... của Nghị Định đương nhiên không được "chửi lại" sắc lệnh và hai điều "gốc" nói trên của Nghị Định.

    Quý vị nào chê bai sắc lệnh xin đọc lại cái sắc lệnh đó một lần nữa và đặt nó vào bối cảnh lịch sử (thời điểm một tháng sau khi có chính quyền.

    Trích dẫn:
    Ngược lại, nó chỉ nói lên tinh thần và những nguyên tắc lớn.
    Không bao giờ sắc lệnh viết dài dòng.
    Dưới nó, còn có các văn bản hướng dẫn thi hành.
    Cả thế giới như vậy.
    Sắc lệnh của ông Hồ cũng vậy.

    Bạn KhakQoan khẳng định "Sắc lệnh của ông Hồ cũng vậy" có nghĩa là "có các văn bản hướng dẫn thi hành" và "Cả thế giới như vậy".

    Bạn KhakQoan có thể vui lòng chỉ rõ cho biết những "văn bản hướng dẫn thi hành" sắc lệnh biểu tình này của ông Hồ là gì không ?
    Tôi không hề biết và có lẽ ông Nguyễn Quang A cũng không biết "các văn bản hướng dẫn thi hành" này !

    Nếu có sắc lệnh mà không hề có các văn bản hướng dẫn thi hành, thì sắc lệnh này của ông Hồ có giá trị thực tế gì không ? Ai, cơ quan nào có nhiệm vụ kiểm soát việc thực thi các sắc lệnh chết này ?

    KhakQoan viết:
    Ấy, xin chớ quý vị chớ có nghĩ giản đơn rằng sắc lệnh của nguyên thủ quốc gia là cái để trực tiếp thi hành.
    Ngược lại, nó chỉ nói lên tinh thần và những nguyên tắc lớn.
    Không bao giờ sắc lệnh viết dài dòng.
    Dưới nó, còn có các văn bản hướng dẫn thi hành.
    Cả thế giới như vậy.
    Sắc lệnh của ông Hồ cũng vậy.

    Năm 1945, ông Hồ vừa là chủ tịch nước (tổng thống), vừa là thủ tướng (đứng đầu chính phủ), do vậy Sắc Lệnh (cương vị tổng thống) của ông sẽ do thủ tướng thi hành (lại vẫn là ông). Do vậy tinh thần sắc lệnh đảm bảo được hiểu đúng. Trên cương vị thủ tướng, ông chỉ định hai bộ trưởng làm tiếp.

    Mở đầu, Sắc Lệnh nêu một nguyên tắc cơ bản của dân chủ: Xét vì tự do hội họp là một trong những nguyên tắc của chế độ Dân chủ cộng hoà;

    Tiếp đó, sắc lệnh dùng chữ "nhưng", tức là trong hoàn cảnh đặc biệt (khi đó quân ngoại quốc: Anh, Pháp và Tầu - vũ khi mạnh gấp trăm lần quân cách mạng - sắp vào VN, không thích chính quyền mới), nên ít nhiều có sự hạn chế biểu tình.
    Tuy nhiện "hạn chế" vẻn vẹn chỉ gồm có "khai trình" trước 24 giờ. (chúng ta thừa hiểu khai trình rất khác với xin phép). Nếu muốn biểu tình hay hội họp mà chỉ cần "khai trình" thì hôm nay nằm mơ cũng không có được.

    Dưới sắc lệnh, phải có Nghị Định (cụ thể hóa sắc lệnh) để sắc lện đi vào cuộc sống.
    Từ sắc lệnh trên, Nghị Định phải thể hiện ít nhất 2 điều:
    1)Nghị Định phải coi hội họp, biểu tình là một trong những nguyên tắc của chế độ Dân chủ cộng hoà.
    2) Muốn biểu tình, hội họp... chỉ cần "khai trình"
    Còn điều 3, 4, 5... của Nghị Định đương nhiên không được "chửi lại" sắc lệnh và hai điều "gốc" nói trên của Nghị Định.

    Quý vị nào chê bai sắc lệnh xin đọc lại cái sắc lệnh đó một lần nữa và đặt nó vào bối cảnh lịch sử (thời điểm một tháng sau khi có chính quyền.

    Quý vị hỏi tiếp nhiều câu khó quá, tôi cứ trả lời theo những gì tôi biết (và tôi "cho là" hoặc "tưởng là" đúng).
    Một văn bản lịch sử cần đặt vào đúng bối cảnh lịch sử để nhận định.

    Chế độ ban hành đạo luật quả là tiến bộ và dân chủ gấp ngàn lần chế độ ra sắc lệnh. Sắc (xưa là vua ban) còn lệnh là chỉ thị của cấp trên buộc cấp dưới phải thi hành. Còn Đạo Luật thì ngay người ký cũng phải thi hành như tất cả mọi người khác.

    Tuy vậy, xin quý vị hiểu cho rằng muốn ban hành Đạo Luật thì phải có một đội ngũ luật gia hùng hậu, am hiểu, và đã trải qua quá trình dài thực thi dân chủ. Một đội ngũ luật gia như vậy chưa thể có vào năm 1945, ông nội tôi bảo rằng năm đó số người biết chữ chỉ chiếm 5% dân sô (kể cả người biết chữ nho đấy nhé). VN vừa mới có độc lập và có chính quyền một tháng (cứ cho là vài năm đi). Chưa một một nước nông nghiệp tự giải phóng nào (trên thế giới) ban hành nổi đạo luật đâu vào những năm đó đâu.
    Cứ mời 100 chuyên gia kỳ cựu đã từng chế bom nguyên tử sang VN giao cho họ cái nhiệm vụ (mà họ đã làm nhoay nhoáy bên nước họ) họ cũng xin lạy thôi.

    Luật chống phân biệt chủng tộc ở một nước có truyền thống dân chủ như Hoa Kỳ mà phải sau gần nửa thế kỷ mới có một thượng nghị sĩ da đen, đến nay mới có một tổng thống da màu.

    Tôi chán ngấy tận cổ cái chế độ độc đảng này, nhưng tôi không hoang tưởng một nước mà hiện nay tới 2/3 (năm 1945 là 95%) đồng bào là nông dân lại có thể có ngay một nền dân chủ, pháp quyền đầy đủ sau khi đảng CS bị loại khỏi chính trường.

    Cái bản yêu cầu 8 điểm có tinh thần và nội dung xuất phát từ nền dân chủ đang được xây dựng và đang hoàn thiện, nhưng là tiến bộ nhất mà loài người đạt được vào thời điểm đó. Nếu ông Hồ (trẻ nhất trong nhóm ký tên, sẽ sống lâu hơn những người khác) là lãnh tụ VN Quốc dân đảng và thành công năm 1945 thì chắc chắn đất nước đã đi con đường khác. Nhưng ông chọn chủ nghĩa Mác lê làm con đường giải phóng dân tộc, tuy thành công bước đầu nhưng hết sức trục trặc cho cá nhân ông về sau.
    Khi ông Hồ ký sắc lệnh thì chính phủ của ông là "lâm thời", ngoài Việt Minh (do CS cầm đầu) còn nhiều đảng phái yêu nước khác cũng ra công khai, hoặc từ bên Tầu về nước hoạt động, cạnh tranh với Việt Minh, thực chất là đối lập nhau về ý thức hệ.
    Bất cần sắc lệnh nói gì, bất cần "khai trình", các đảng phái đối lập cứ huy động quần chúng biểu tình ủng hộ đảng này, phản đối đảng kia.

    Khi Đồng Minh vào VN (tiếp thu đầu hàng của Nhật), ông Hồ cấp tốc tổ chức bầu cử để có chính phủ hợp pháp, thay chính phủ lâm thời, giao tiêp với đồng minh. Chính phủ này đã soạn thảo được bản hiến pháp (do ông Hồ là trưởng ban), nhưng chưa kịp để "toàn dân phúc quyết". Ngày nay có người cứ tưởng rằng tổ chức phúc quyết toàn quốc dễ dàng, đã hạch sách rằng ông Hồ cố tình chậm trễ (bản hiến pháp do ông dốc lòng soạn thảo thì ông chậm trễ để làm gì?).

    Khi Pháp được phép thay thế lực lượng đồng minh, từ Sài Gòn ra đóng cả ở Hà Nội nữa, thì nguy cơ chiến tranh thấy rõ. Tình hình khẩn trương, căng thẳng. Chẳng ai nghĩ tới biểu tình, chẳng ai nhớ tới cái sắc lệnh biểu tình. Chẳng ông bộ trưởng nào của chính phủ mới (do bầu cử) nghĩ tới việc ra nghị định về cái sắc lệnh của chính phủ trước đó. Mọi suy nghĩ tập trung vào đối phó với Pháp (chắc chắn sẽ đánh VN).

    Sau khi Trần Phú, Lê Hống Phong, Hà Huy Tập chết vì con đường đấu tranh bạo động, quá tả (bị tử hình do khởi nghĩa Nam Kỳ 1940); ông Hồ trở lại địa vị tối cao, có điều kiện thực thi những tư tưởng mà ông cho là phù hợp. Sáu (6) lần liên hệ với tổng thống Mỹ thất bại, ông chỉ còn con đường trông vào Nga, Tầu để đánh Pháp. Pháp là đế quốc lạc hậu và già nua nhất (quá chậm chạp tuân theo nghị quyết Cựu Kim Sơn: Trao trả quyền tự trị cho thuộc địa), đưa đến chiến tranh Việt Pháp 1946-1954. VN là thuộc địa cuối cùng được trao trả quyền tự trị, nhưng Pháp trao cho chính phủ của quốc trưởng Bảo Đại, thân Pháp, bù nhìn.

    Sau tháng 8-1945 Ông thật sự muốn một chính phủ liên hiệp. Ông Hồ xuất thân gia đình nho giáo, đã mời nhiều nhà nho và trí thức có tư tưởng dân chủ vào chính phủ.

    Ngay năm ông thành lập đảng (1930), Stalin đã bắt đảng của ông phải bao quát cả cách mạng đông dương (đảng CSVN đổi tên theo chỉ thị của quoc tế CS). Ông phải theo. Sáu tháng sau đó, cương lĩnh nặng tính dân tộc của ông bị cánh trẻ phê phán nặng nề, thay bằng cương lĩnh khuynh tả (có câu "trước làm CM quốc gia, sau làm CM quôc tế"). Trần Phú, Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập (kém ông 20 tuổi) đã đấu ông tơi bời và đều được Stalin đặt vào địa vị cao hơn ông (cấp trên của ông Hồ). Họ chết trước năm 1945 nhưng cùng thế hệ với họ vẫn còn Trường Chinh, Lê Duẩn, Lê Đức Thọ... đều quyết liệt cách mạng, đốt cháy giai đoan... Năm 1970 mà Lê Duẩn còn có lý luận 3 dòng thác CM, trong khi ý thức hệ CS sắp đổ kềnh. Đủ hiểu ông Hồ bị cô lập tới mức nào.

    Thôi, linh tinh lạc đề quá. Xin lỗi. Nếu không còn việc gì làm cho vui, xin quý vị đọc bản viết của cụ Bằng Công, dạng hồi ký (do tôi chấp bút) dày 200 trang, đang lưu hành trên mạng, để biết thêm về cái thời xa lắc chẳng còn ai muốn nhớ.

    Cám ơn bác KhakQoan đóng góp ý kiến.

    Bài đăng lại ở http://danluan.org/node/9405 và Chúng Ta. Bản gốc đăng Thứ sáu, 26/10/2007, 16:39 (GMT+7) ở
    http://suckhoedoisong.vn/8112p0c15/phan-van-truongkien-truc-su-cua-yeu-sach-cua-nhan-dan-viet-nam.htm
    Có đoạn :

    Trích dẫn:
    Phan Văn Trường, kiến trúc sư của “Yêu sách của nhân dân Việt Nam”
    Nếu như không có gì khó khăn khi xác định Yêu sách của nhân dân Việt Nam là kết quả của sự đồng thuận của cả bộ ba ái quốc Phan Văn Trường, Phan Chu Trinh, Nguyễn Tất Thành thì vấn đề đặt ra là ai là người soạn thảo Yêu sách.
    Như vậy Phan Văn Trường là người soạn thảo Yêu sách và trên thực tế văn bản này mang đậm dấu ấn của ông với nhãn quan của một nhà luật học.

    Điểm 7 “Thay chế độ ra các sắc lệnh bằng chế độ ra các đạo luật”

    Tôi hiểu là tuy ông Hồ không tự tay viết 8 điều trong bản yêu sách vì không đủ khả năng tiếng Pháp và kiến thức luật học nhưng ông Hồ có đọc bản yêu sách này và đồng ý. Hy vọng là ông Hồ hiểu để đồng ý.

    Như vậy qua điều 7, chính ông Hồ, cùng với hai cụ Phan, đề nghị “Thay chế độ ra các sắc lệnh bằng chế độ ra các đạo luật”

    Thế tại sao sau này, 1945, ông Hồ vẫn xử dụng "Sắc lệnh" và không xử dụng "đạo luật" ?

    Phải chăng ông Hồ cố tình bắt chước thực dân Pháp để có lợi trong việc cai trị (theo kiểu bình rượu đẹp nhưng rỗng) ?
    Hoặc ông Hồ không nhớ những gì mình đề nghị ?
    Hoặc ông Hồ không hề hiểu những gì mình đề nghị vì chỉ ăn theo ?
    Hoặc sau này ông Hồ học Mac-Le nên chối bỏ những quan điểm dân chủ nêu trong bản yêu sách 8 điều nhưng lại không dám nói ra ?
    ...

    Bác KhakQoan có thể giải thích một cách khách quan được không ? Đây là một điểm của lịch sử

    KhakQoan viết:
    Ấy, xin chớ quý vị chớ có nghĩ giản đơn rằng sắc lệnh của nguyên thủ quốc gia là cái để trực tiếp thi hành.
    Ngược lại, nó chỉ nói lên tinh thần và những nguyên tắc lớn.
    Không bao giờ sắc lệnh viết dài dòng.
    Dưới nó, còn có các văn bản hướng dẫn thi hành.
    Cả thế giới như vậy.
    Sắc lệnh của ông Hồ cũng vậy.

    Năm 1945, ông Hồ vừa là chủ tịch nước (tổng thống), vừa là thủ tướng (đứng đầu chính phủ), do vậy Sắc Lệnh (cương vị tổng thống) của ông sẽ do thủ tướng thi hành (lại vẫn là ông). Do vậy tinh thần sắc lệnh đảm bảo được hiểu đúng. Trên cương vị thủ tướng, ông chỉ định hai bộ trưởng làm tiếp.

    Mở đầu, Sắc Lệnh nêu một nguyên tắc cơ bản của dân chủ: Xét vì tự do hội họp là một trong những nguyên tắc của chế độ Dân chủ cộng hoà;

    Tiếp đó, sắc lệnh dùng chữ "nhưng", tức là trong hoàn cảnh đặc biệt (khi đó quân ngoại quốc: Anh, Pháp và Tầu - vũ khi mạnh gấp trăm lần quân cách mạng - sắp vào VN, không thích chính quyền mới), nên ít nhiều có sự hạn chế biểu tình.
    Tuy nhiện "hạn chế" vẻn vẹn chỉ gồm có "khai trình" trước 24 giờ. (chúng ta thừa hiểu khai trình rất khác với xin phép). Nếu muốn biểu tình hay hội họp mà chỉ cần "khai trình" thì hôm nay nằm mơ cũng không có được.

    Dưới sắc lệnh, phải có Nghị Định (cụ thể hóa sắc lệnh) để sắc lện đi vào cuộc sống.
    Từ sắc lệnh trên, Nghị Định phải thể hiện ít nhất 2 điều:
    1)Nghị Định phải coi hội họp, biểu tình là một trong những nguyên tắc của chế độ Dân chủ cộng hoà.
    2) Muốn biểu tình, hội họp... chỉ cần "khai trình"
    Còn điều 3, 4, 5... của Nghị Định đương nhiên không được "chửi lại" sắc lệnh và hai điều "gốc" nói trên của Nghị Định.

    Quý vị nào chê bai sắc lệnh xin đọc lại cái sắc lệnh đó một lần nữa và đặt nó vào bối cảnh lịch sử (thời điểm một tháng sau khi có chính quyền.

    KhakQoan viết:
    Ấy, xin chớ quý vị chớ có nghĩ giản đơn rằng sắc lệnh của nguyên thủ quốc gia là cái để trực tiếp thi hành.
    Ngược lại, nó chỉ nói lên tinh thần và những nguyên tắc lớn.
    Không bao giờ sắc lệnh viết dài dòng.
    Dưới nó, còn có các văn bản hướng dẫn thi hành.
    Cả thế giới như vậy.
    Sắc lệnh của ông Hồ cũng vậy.

    Năm 1945, ông Hồ vừa là chủ tịch nước (tổng thống), vừa là thủ tướng (đứng đầu chính phủ), do vậy Sắc Lệnh (cương vị tổng thống) của ông sẽ do thủ tướng thi hành (lại vẫn là ông). Do vậy tinh thần sắc lệnh đảm bảo được hiểu đúng. Trên cương vị thủ tướng, ông chỉ định hai bộ trưởng làm tiếp.

    Mở đầu, Sắc Lệnh nêu một nguyên tắc cơ bản của dân chủ: Xét vì tự do hội họp là một trong những nguyên tắc của chế độ Dân chủ cộng hoà;

    Tiếp đó, sắc lệnh dùng chữ "nhưng", tức là trong hoàn cảnh đặc biệt (khi đó quân ngoại quốc: Anh, Pháp và Tầu - vũ khi mạnh gấp trăm lần quân cách mạng - sắp vào VN, không thích chính quyền mới), nên ít nhiều có sự hạn chế biểu tình.
    Tuy nhiện "hạn chế" vẻn vẹn chỉ gồm có "khai trình" trước 24 giờ. (chúng ta thừa hiểu khai trình rất khác với xin phép). Nếu muốn biểu tình hay hội họp mà chỉ cần "khai trình" thì hôm nay nằm mơ cũng không có được.

    Dưới sắc lệnh, phải có Nghị Định (cụ thể hóa sắc lệnh) để sắc lện đi vào cuộc sống.
    Từ sắc lệnh trên, Nghị Định phải thể hiện ít nhất 2 điều:
    1)Nghị Định phải coi hội họp, biểu tình là một trong những nguyên tắc của chế độ Dân chủ cộng hoà.
    2) Muốn biểu tình, hội họp... chỉ cần "khai trình"
    Còn điều 3, 4, 5... của Nghị Định đương nhiên không được "chửi lại" sắc lệnh và hai điều "gốc" nói trên của Nghị Định.

    Quý vị nào chê bai sắc lệnh xin đọc lại cái sắc lệnh đó một lần nữa và đặt nó vào bối cảnh lịch sử (thời điểm một tháng sau khi có chính quyền.

    Cám ơn bác KhakQoan đã chịu khó giải thích sắc lệnh và nghị định. Nếu rảnh bác giải thích cụ thể hơn tất cả các từ hành chánh và ngoại giao VN, có đính kèm thêm tiếng anh và pháp để dễ so sánh. Ví dụ công hàm là gì ?

    Xin hỏi thêm :
    1- thế dưới sắc luật về biểu tình nêu trên của ông Hồ, có nghị định nào cụ thể hóa việc này chưa ?
    Ông Hồ là chủ tịch (không có thủ tướng tức theo tổng thống chế như Mỹ).
    Bộ trưởng bộ Nội vụ lúc đó là Võ Nguyên Giáp

    Nếu chưa thì theo tôi, họ cố tình không cho phép biểu tình.

    Ví dụ như trong hiến pháp luôn có cụm từ "trưng cầu dân ý" nhưng mấy chục năm nay họ không chịu luật hóa. Trái lại, điều 4 xuất hiện ở HP 1980, chưa hề luật hóa, nhưng họ cứ áp dụng trước khi có điều 4.

    2- Nếu có nêu trong HP hoặc có nêu trong sắc lệnh mà chính phủ hoặc QH không chịu luật hóa, sau 5-10 năm, thì theo bác KhakQoan phải làm gì để có kết quả ?

    Nguyễn Quang A - Công an đang quấy rầy tôi

    Gần 8h tối, ngày 23-7-2011 vừa về đến nhà, tắm rửa và thay đồ chuẩn bị ăn cơm vợ tôi gọi lên: “Anh xuống có 2 an ninh đến khuyên anh ngày mai không đi biểu tình”.

    À ra thế! Đã nhiều năm tôi biết người ta theo dõi mình. Đó là công việc của họ, nghề của họ, họ phải làm những việc đó với chi phí từ tiền thuế của người dân đóng góp, trong đó có tôi. Nếu họ không cản trở, can thiệp vào công việc riêng của tôi, tôi để yên và không muốn bận tâm chú ý.

    Suốt vài chục năm qua là thế. Nhưng tình thế đã thay đổi từ 8h tối ngày 23-7-2011.

    Tôi chỉ mặc quần đùi đi xuống và bảo 2 cậu an ninh quận Long Biên đã ngồi sẵn trong phòng khách, rằng tôi không tiếp khách, nhà tôi đang sắp ăn tối nên các cậu về đi.

    Chín giờ tối, tôi tưởng họ đã về để xuống ăn cơm, xuống nhà thấy thêm một công an khu vực tên là Quân cùng 3 bác ở tổ dân phố.

    Tôi lên nhà mặc áo và quay xuống nói rõ cho họ biết.

    Muốn gặp hay làm việc với tôi xin các vị cho hẹn trước và nếu đồng ý, tôi sẽ hẹn quý vị làm việc. Tôi nói nếu không hẹn trước mà đến nhà tôi và tự cho mình là “khách” thì đó là khách không mời và tôi sẽ yêu cầu những khách như thế ra về. Tôi hỏi tên các công an tự xưng là an ninh quận tên là gì, ở đơn vị nào? (chưa cần hỏi đến giấy tờ chứng minh rằng đúng họ là người ấy và khi đến gặp tôi họ có báo trước cho tôi không? Có được tôi đồng ý cho gặp hay không). Một cậu ấp úng nói tên, tôi cũng không để ý. Tôi hỏi thuộc đơn vị nào, thì anh ta chỉ nói là an ninh.

    Tôi bảo: 3 bác người trong làng, cậu Quân gia đình tôi biết tôi sẽ nói chuyện với họ, còn xin mời 2 cậu an ninh kia về. Sau 1 lúc họ xin phép về.

    Với bốn người còn lại (3 người ở tổ dân phố và anh công an khu vực), tôi giải thích vì sao không nên khuyên tôi ngày mai đừng đi biểu tình. Tôi hỏi họ có biết thông tin gì không? Họ nói: có biết thông tin về biển đảo như báo chí nhà nước nói. Một bác, chắc là cựu chiến binh, nói, mình cũng rất bức xúc. Tôi nói lại cho họ một số tình hình, kể cả diễn biến của cuộc đàn áp tuần trước ngày 17-7 và sự bức xúc của dân chúng. Tôi khuyên họ nên cùng tôi đi biểu tình sáng ngày mai, 24-7-2011.

    Họ ra về lúc 9h55 phút. Thế là mất không 2 giờ.

    Sáng 24-7 vợ tôi thường dậy sớm và tụng kinh.

    Sau nghe bà kể lại lúc 5h13 phút có 1 cú điện thoại, vợ tôi hỏi ai thì người đó nói là bên an ninh. Hỏi tôi có nhà không, vợ tôi nói với người đó rằng tôi thường đi sớm, chắc là đi rồi.

    Nửa giờ sau, khoảng 4h45 phút anh Quân (công an hộ khẩu) lại gọi điện nói, theo lệnh trên, chúng cháu phải báo cáo chú đã đi chưa và hỏi vợ tôi. Vợ tôi trả lời là đang tụng kinh và tôi thường đi sớm.

    Rồi vợ tôi xuống và thấy tôi vẫn ở nhà nên kể lại cho tôi như vậy và nói, có 4 người đang canh ở ngoài đầu đường.

    Tôi bảo người nhà không cho người lạ nào vào nhà, đầu tiên phải hỏi họ là ai? Họ muốn làm gì? Rồi hỏi họ có giấy tờ gì chứng minh điều họ nói. Nếu thấy hợp lý thì mới cho họ vào và tiếp họ hay không là quyền của mình. Đó là quyền tự do tối thiểu mà bất cứ nhà nước nào cũng phải tôn trọng.

    Tôi nghĩ họ sẽ tìm cách cản trở tôi nhưng tôi sẽ vẫn đi và chắc sẽ có sự cố ở ngoài. Tôi muốn có bạn nào trong những người tôi biết có thể đến để chứng kiến cảnh này.

    Không thể chấp nhận sự đe dọa và đàn áp như vậy sau những gì đã diễn ra ngày 17-7 và sau dư luận của nhân dân trong nước và thế giới.

    Địa chỉ nhà tôi: số 17 ngách 43 ngõ 640 Nguyễn Văn Cừ, Long Biên Hà Nội, tel 04-39422096. Đến số 640 Nguyễn Văn Cừ, từ Cầu Chương Dương ra Cầu Chui và cách cầu Chui khoảng 300m rẽ vào làng Gia Thụy, tìm ngách 43 và số nhà 17.

    6h38’ ngày 24-7-2011

    Nguyễn Quang A

    Nguồn: anhbasam.wordpress.com

    Ấy, xin chớ quý vị chớ có nghĩ giản đơn rằng sắc lệnh của nguyên thủ quốc gia là cái để trực tiếp thi hành.
    Ngược lại, nó chỉ nói lên tinh thần và những nguyên tắc lớn.
    Không bao giờ sắc lệnh viết dài dòng.
    Dưới nó, còn có các văn bản hướng dẫn thi hành.
    Cả thế giới như vậy.
    Sắc lệnh của ông Hồ cũng vậy.

    Năm 1945, ông Hồ vừa là chủ tịch nước (tổng thống), vừa là thủ tướng (đứng đầu chính phủ), do vậy Sắc Lệnh (cương vị tổng thống) của ông sẽ do thủ tướng thi hành (lại vẫn là ông). Do vậy tinh thần sắc lệnh đảm bảo được hiểu đúng. Trên cương vị thủ tướng, ông chỉ định hai bộ trưởng làm tiếp.

    Mở đầu, Sắc Lệnh nêu một nguyên tắc cơ bản của dân chủ: Xét vì tự do hội họp là một trong những nguyên tắc của chế độ Dân chủ cộng hoà;

    Tiếp đó, sắc lệnh dùng chữ "nhưng", tức là trong hoàn cảnh đặc biệt (khi đó quân ngoại quốc: Anh, Pháp và Tầu - vũ khi mạnh gấp trăm lần quân cách mạng - sắp vào VN, không thích chính quyền mới), nên ít nhiều có sự hạn chế biểu tình.
    Tuy nhiện "hạn chế" vẻn vẹn chỉ gồm có "khai trình" trước 24 giờ. (chúng ta thừa hiểu khai trình rất khác với xin phép). Nếu muốn biểu tình hay hội họp mà chỉ cần "khai trình" thì hôm nay nằm mơ cũng không có được.

    Dưới sắc lệnh, phải có Nghị Định (cụ thể hóa sắc lệnh) để sắc lện đi vào cuộc sống.
    Từ sắc lệnh trên, Nghị Định phải thể hiện ít nhất 2 điều:
    1)Nghị Định phải coi hội họp, biểu tình là một trong những nguyên tắc của chế độ Dân chủ cộng hoà.
    2) Muốn biểu tình, hội họp... chỉ cần "khai trình"
    Còn điều 3, 4, 5... của Nghị Định đương nhiên không được "chửi lại" sắc lệnh và hai điều "gốc" nói trên của Nghị Định.

    Quý vị nào chê bai sắc lệnh xin đọc lại cái sắc lệnh đó một lần nữa và đặt nó vào bối cảnh lịch sử (thời điểm một tháng sau khi có chính quyền.

    Trích dẫn:
    Nhưng trong tình thế đặc biệt hiện thời, cần phải xem xét, kiểm soát những cuộc biểu tình, đề tránh những sự bất trắc có thể có ảnh hưởng đáng tiếc đến việc nội trị hay ngoại giao;

    Câu này trong sắc lệnh của Hồ Chí Minh là không rõ ràng và rất mơ hồ. Thế nào là có ảnh hưởng đáng tiếc đến việc nội trị hay ngoại giao ?
    Đó là cơ sở để công an VN đánh đập người biểu tình đấy.

    Như vậy cấm biểu tình, phải chăng là chính phủ và công an VN đang làm theo Hồ Chí Minh?

    Cụ Nguyễn Quang A quá yêu cụ Hồ cho nên chưa chịu xét kỹ.

    Sắc lệnh số 31, ngày 13/9/1945 của ông Hồ còn sơ sài lắm, nếu chỉ có Điều thứ 1 và Điều thứ 2, cần phải triển khai vào chi tiết thì mới thi hành được. Đó là lý do ở VN gần như hoặc chưa bao giờ có biểu tình theo đúng nghĩa của nó. Như vậy nếu học theo cụ Hồ thì không bao giờ có biểu tình cả bởi UBND sẽ không biết tổ chức cụ thể ra sao !

    Mấy cái việc biểu tình này đúng ra cụ Nguyễn Quang A nên học hỏi phương tây như Ý, Pháp, Tây Ban Nha, Hy Lạp thì có kết quả thực tế và chi tiết hơn là học cụ Hồ

    XIN HỎI CÁC BÁC LÀ: NHỮNG NGƯỜI CSVN HỌ ĐÃ LÀM THEO VÀ HỌC TẬP ĐƯỢC BAO NHIÊU % ĐẠO ĐỨC,VÀ TƯ TƯỞNG CỦA ÔNG HỒ CHÍ MINH ...???

    Đúng. Cả cuộc đời hoạt động của mình vì nước, vì dân HỒ CHÍ MINH đã trở thành bất tử. Lập luận của NGUYỄN QUANG A tôi cho là hết sức logich.

    Xin lỗi nói ra quý vị lại bảo tôi phá bỉnh. Nhưng không nói thì trong bụng tôi cứ thấy tức anh ách thế nào ấy, dù biết cụ Nguyễn Quang A cũng làm chuyện phải, là đấu tranh giành lại quyền biểu tình về cho nhân dân ta thôi, chứ chẳng làm gì sai quấy cả.

    Cụ A ơi ! Nghe cụ A nói về cụ Hồ và Sắc Lệnh số 31 gì gì đó của cụ Hồ từ mải tận năm 1945 về chuyện biểu tình, tôi cười khằng khặc như thằng điên vì không kìm nổi phản ứng bản thân khi, dùng toàn trí tưởng tượng và trí nhớ để hồi tưởng lại suốt thời kỳ cụ Hồ lãnh đạo nước VNDCCH (mà cụ trịnh trọng gọi đấy là đang sống dưới nền Dân Chủ Cộng Hòa) từ 1945 đến ngày cụ Hồ qua đời năm 1969, tôi không nhớ nổi cụ Hồ đã cho phép dân ta ở miền Bắc biểu tình lần nào chưa, theo đúng như thủ tục quy định trong cái Sắc Lệnh vớ vẩn nói trên của cụ Hồ.

    Nếu tôi nhớ không lầm thì trong suốt đời cầm quyền của cụ Hồ, nhân dân VN chưa bao giờ được phép biểu tình cả, ngoại trừ những cuộc mít tinh do chính cụ Hồ hay đảng của cụ tổ chức.

    Mấy ông nội lãnh đạo hiện nay của đảng "ta" là học trò chân truyền của Đại Tổ Sư Hô Chí Minh, và họ đang thực hiện tất cả những gì Hồ Sư Tổ của họ đã làm và đã truyền thụ cho họ (qua món võ có tên là "vô sản chuyên chính"). Cụ A đem cụ Hồ ra để đòi hỏi được biểu tình tôi e quá tiếu lâm chăng, cụ A ơi ! Tìm cách gì khác đi, cụ A ơi !