Nguyễn Tường Tâm - Từ Vụ Án Casey Anthony tới Cù Huy Hà Vũ (2)

  • Bởi Khách
    21/07/2011
    0 phản hồi

    Luật Gia Nguyễn Tường Tâm

    Nghiên cứu vụ án sát nhân này rồi so sánh với các vụ án hình sự tại Việt Nam, đặc biệt là các vụ án có tính cách chính trị mà điển hình là vụ xét xử sơ thẩm Tiến Sĩ Cù Huy Hà Vũ vừa qua (phiên phúc thẩm sẽ diễn ra vào ngày 2/8 này), người ta thấy có nhiều nguyên tắc pháp lý để giới Chánh Án, Bồi Thẩm và Viện Kiểm Sát Việt Nam học hỏi nếu không muốn bị đánh giá là một đám người vô học mượn danh pháp lý đàn áp người dân vô tội không tiền bạc đút lót và đàn áp những người yêu nước chỉ vì họ dùng quyền tự do ngôn luận được qui định trong Hiến Pháp để phát biểu ý kiến xây dựng tổ quốc đối lập với ý kiến của giới cầm quyền.

    Trong bài trước, độc giả đã thấy được những biện pháp rất cẩn thận và chặt chẽ của một nhà nước văn minh bảo vệ các công dân, cho dù công dân đó là một cựu tù hình sự. Trong bài này quí độc giả sẽ được thấy toàn bộ hệ thống pháp lý văn minh sẽ bảo vệ quyền bào chữa và các quyền khác của một nghi can như thế nào. Ở một nước văn minh, PHÁP TRỊ, tất cả mọi công dân đều vô tội cho tới khi có một bản án của Toà án đã có hiệu lực pháp luật. Cho tới lúc đó, dù ở trong nhà giam, dù đứng trước tòa, cho dù nghi can đó có bị toàn thể cộng đồng lên án, thì mọi quyền con người của họ vẫn được bảo vệ, đặc biệt là QUYỀN BÀO CHỮA. Thế nhưng hệ thống tư pháp Việt Nam hiện nay đang là một ĐE DỌA TRẦM TRỌNG CHO CHÍNH CÔNG DÂN CỦA MÌNH cho nên cần phải học hỏi để CẢI TỔ TỨC KHẮC mới có thể làm NỀN TẢNG CHO MỌI CÔNG CUỘC CẢI TỔ VÀ BẢO VỆ ĐẤT NƯỚC.

    Vụ án đề cập trong bài trước xét xử cô Casey Anthony, ở thành phố Orlando, tiểu bang Florida là vụ án ly kỳ thứ nhì trong lịch sử tòa án Hoa Kỳ, đứng sau vụ án tình nghi giết vợ của bị can O.J. Simpson cách nay khoảng 15 năm. Vụ án O.J. Simpson được báo giới Hoa Kỳ gọi là “vụ án của thế kỷ” (Trial of the Century). Vụ án Casey Anthony cũng ly kỳ bởi vì trong lúc tất cả mọi người theo dõi vụ án đều nghĩ bị can phạm tội giết con thì bất ngờ vào ngày 7/7/2011 kết thúc phiên xử, bồi thẩm đoàn đã đi tới kết luận NGHI CAN VÔ TỘI VỀ PHƯƠNG DIỆN PHÁP LÝ (not guilty). Kết luận này đã khiến tất cả mọi giới ngạc nhiên, kể cả giới phân tích luật học và đặc biệt cũng khiến ngay chính toàn thể bồi thẩm đoàn đưa ra quyết định đó thấy ÁY NÁY! Tại sao vậy?

    Không kể thời gian điều tra, chỉ riêng phiên tòa xét xử vụ án Casey Anthony này đã phải kéo dài một tháng và kết thúc sau tới 11 tiếng đồng hồ thảo luận của bồi thẩm đoàn, với đầy đủ các tranh cãi giữa các luật sư biện hộ và các vị đại diện VKS (prosecutors); hai bên cùng viện dẫn các chuyên gia giảo nghiệm quốc tế và cả một lý thuyết pháp y (forensic) mới nhất.

    Em bé Caylee 2 tuổi, con gái nghi can Casey bị mất tích vào ngày 16/6/2008 nhưng mãi tới tháng 12/2008 nhà chức trách mới tìm được bộ xương của nạn nhân vứt trong khu rừng cách nhà nghi can Casey 1/4 dậm (khoảng 0,4 km). Nhà chức trách bắt giam cô ngay lập tức vì những nghi ngờ sau đây: Mãi 31 ngày sau khi con gái cô mất tích cô mới trình báo. Những lời khai của cô về sự mất tích của con gái cô tiền hậu bất nhất. Sau đó cô lại có cuộc sống hết sức vui chơi với bạn trai một cách đáng ngờ. Thêm hai yếu tố nữa khiến VKS nghi ngờ cô là cạnh bộ xương của con gái cô có 3 miếng băng keo (duct tape) dài từ 6 tới 8 incs (tức khoảng 15 cm 2 tới 20 cm 3) và trong thùng sau xe hơi của cô có mùi hôi được cho là mùi xác chết sình thối.

    Ông Jeff Ashton, vị đại diện VKS lâu năm, tham dự vụ án, nói rằng những hành vi của bị can Casey sau đây đã khiến nhà chức trách nghĩ đó là một số bằng chứng vững chắc nhất (strongest evidence) để kết tội cô như là sau khi con gái cô ta mất tích cô ta liên tục nói dối với gia đình, bạn bè, và cảnh sát về chỗ ở của con gái cô ta. Đồng thời thay vì đau khổ hay tránh gặp gỡ mọi người như mọi bà mẹ có con mất tích khác thì bị can lại sống hưởng thụ ngày đêm với người tình, tham gia cuộc thi thân hình nóng bỏng (hot body contest) ở hộp đêm, đi chơi xa sắm sửa, và tới Ý xâm mình với hàng chữ “Đời đẹp biết bao”. Công tố viên Ashton nói với đài NBC rằng các hành động của bị can “hoàn toàn không phù hợp với bất cứ sự giải thích nào cho cái chết của bé Caylee là do tai nạn.”

    Dựa vào tất cả những chứng cứ trên, luận chứng buộc tội của VKS có nội dung là, bị can Casey đã giết con gái 2 tuổi của mình, em bé Caylee, vào ngày 16/6/2008, bằng cách dán miếng băng keo (duct tape) vào mồm và mũi em bé để làm nghẹt thở bé Caylee sau khi đã dùng chất chloroform làm mê man em. Sau đó bị can đã dấu thi hài em trong thùng sau xe hơi của mình chở đi vòng vòng nhiều ngày và cuối cùng ném xác em vào khu rừng cách nhà nghi can ¼ dậm (khoảng 0,4 km). Như thế theo luận chứng này thì vũ khí giết người là miếng băng keo. Và chất Chloroform là một yếu tố phụ trợ cần thiết để làm mê nạn nhân. Bởi vì hai tay nạn nhân không bị trói, nếu không có chất thuốc mê Choroform thì em có thể đã đưa bàn tay lôi miếng băng keo ra khỏi mặt.

    Tuy nhiên ngay cả các chuyên viên giảo nghiệm y khoa do VKS triệu dụng, mặc dù nhận định cái chết của em bé là một vụ án mạng, cũng không thể quyết định nạn nhân bị giết cách nào.

    Sau khi đã kiểm tra chéo (cross examination) và triệu dụng chuyên viên giảo nghiệm pháp y đối nghịch với chuyên viên pháp y của VKS, các luật sư biện hộ đã bác bỏ các luận chứng của VKS. Các luật sư biện hộ cho rằng, VKS đã không có bằng chứng cụ thể (physical evidence) của việc bị can Anthony ấn cái miếng băng keo vào mặt em bé nạn nhân. Cũng không có bằng chứng cho thấy miếng băng keo vừa bịt kín mũi vừa bịt kín mồm em bé. Nếu miếng băng keo đó không bịt kín cả mồm lẫn mũi em bé thì đó không thể là vũ khí giết người như ý kiến của VKS.

    Sang phần giảo nghiệm DNA đã được tìm thấy. Ngay cho dù sau 6 tháng ở trong rừng ẩm ướt, các phân tích gia pháp y của FBI cũng có thể tìm ra một phần DNA trên miếng băng keo. Nhưng một chuyên gia giảo nghiệm của FBI đã cho rằng kết quả phân tích DNA không mang lại kết luận chính xác (inconclusive). Vậy DNA đó là của ai? Nó không phải của nạn nhân Caylee và cũng không phải của nghi can Casey. Nhưng một chuyên gia và cũng là người tiên phong trong việc xác định một lượng DNA rất bé nhỏ của Hà Lan (Dutch) đã khai trước tòa rằng đáng lẽ đã có thể thu được nhiều đặc tính của DNA từ miếng băng keo bị phơi sương gió lâu ngày đó qua phương pháp thử nghiệm gia tăng (enhanced test) thường được dùng ở Âu châu. Nhưng ở đây người ta không thực hiện cuộc thử nghiệm gia tăng nào như thế.

    Một số vật dụng trong thùng sau xe hơi của nghi can đáng lẽ cũng mang lại bằng chứng khoa học vững chắc liên hệ bị can với cái chết của em bé đó là một nắm nhỏ giấy vệ sinh được tìm thấy trong một bao rác trong xe hơi của nghi can. Nắm giấy vệ sinh đó đầy những con dòi (maggots). VKS cho rằng nắm giấy vệ sinh đó đã được dùng để chùi các chất nước chẩy từ thi hài thối rữa của nạn nhân.

    Tuy nhiên, các nhà côn trùng học (entomologists) đã khai chứng rằng người ta có thể tìm thấy DNA từ các con dòi để chứng minh rằng chúng đã ăn thi hài của nạn nhân. Đồng thời chuyên gia DNA của Hà Lan này nói rằng nếu DNA chưa bị hủy hoại được lấy ra từ những con dòi đó thì có thể cung cấp đủ thông tin xem có sự trùng hợp nào không với DNA của nạn nhân. Nhưng vì những lý do nào không giải thích được, những thử nghiệm này chưa bao giờ được làm.

    Một điều lý thú nữa là đây là lần đầu tiên trong tòa án Hoa Kỳ một bồi thẩm đoàn được nghe bằng chứng từ một khoa học gia nghiên cứu (a research scientist) thử nghiệm một mùi hôi trong xe hơi của bị can và nói rằng mùi đó phù hợp với mùi chất thải ra từ thi hài con người thối rữa. Nhưng các chuyên gia giảo nghiệm khác thì lại nói rằng loại thử nghiệm đó vẫn còn là một đề án nghiên cứu và không đủ tin cậy để dùng trong vụ án có thể đưa tới án tử hình như vụ này.

    Bồi thẩm đoàn cũng được nghe khai chứng của một người chỉ huy con chó tìm xác người rằng con chó của ông ta báo cho ông ta biết có thể đã có một xác người trong xe của bị can. Nhưng cuộc khai chứng này là khác thường vì không thể kiểm chứng lời khai với con chó (cross-examine a dog).

    Cùng với việc thiếu các bằng chứng trực tiếp (physical evidence), VKS đã làm hỏng luận chứng của mình qua chiến thuật buộc tội quá mạnh bạo (extremely aggressive trial tactics) của Phó Viện Trưởng VKS tiểu bang (Assistant State Attorney), ông Jeff Ashton, một trong ba đại diện VKS trong vụ án. Có thể đại diện VKS, ông Ashton, đã làm bồi thẩm đoàn bực mình khi đã quá tấn công các nhân chứng, thường xuyên ngắt lời luật sư biện hộ, và cười tỏ vẻ nhạo báng bản kết luận (closing argument) của luật sư biện hộ Jose Baez. Ông Ashton đã cười lớn và trợn tròn mắt khi nghe lời biện hộ đặc biệt nhiệt tình của luật sư Baez. Chắc chắn là bồi thẩm đoàn đã trông thấy vị đại diện VKS cười có vẻ nhạo báng luận chứng của luật sư biện hộ vào thời điểm quan trọng ngay trước khi các vị bồi thẩm vào phòng nghị án. Điều này ảnh hưởng không tốt tới luận chứng vốn đã thiếu bằng chứng vững chắc của VKS.

    Sau khi nghe các luật sư biện hộ và các vị đại diện VKS tranh luận, bồi thẩm đoàn đã đi tới kết luận nghi can vô tội (not guilty). Kết luận này đã làm đại diện VKS ngỡ ngàng, làm ngỡ ngàng hàng triệu người thường theo dõi các phiên xử trong suốt một tháng, và điều ngạc nhiên là, theo một vị bồi thẩm, kết luận đó “làm đắng họng chính bồi thẩm đoàn.” Bồi thẩm Jennifer Ford đã nói rằng các vị bồi thẩm đều khóc và cảm thấy chán nản sau khi quyết định tha bổng bị can. Bồi thẩm Ford cho hay các bồi thẩm đều thấy xúc động và không sẵn sàng phát biểu, “Lý do là vì chúng tôi đều cảm thấy đắng họng khi đạt tới phán quyết đó.”

    Khi được hỏi tại sao bồi thẩm đoàn lại đi tới một kết luận lạ kỳ như vậy, bồi thẩm Huekler cho biết VKS đã không trưng ra được phương cách nghi can hành động, tức là không chứng minh được nghi can có hành động giết con, không chứng minh được vai trò của bị can trong cái chết của bé Caylee. Ông nói nguyên văn, “Và rồi VKS đã không cho chúng tôi thấy bé Caylee chết cách nào.”

    Đồng thời VKS cũng không đưa ra được động cơ giết con của nghi can. Bồi thẩm Huekler nói rằng, “VKS chưa bao giờ giải thích được động cơ thực sự khiến bị can giết con gái của bà ta.” Ông bác bỏ ý kiến (của VKS) cho rằng bị can giết con của mình chỉ vì muốn được sống thoải mái không bị áp lực của gánh nặng làm mẹ.

    Trong khi đó vị bồi thẩm này cho biết bồi thẩm đoàn thấy lý luận của các luật sư biện hộ thuyết phục hơn. Các luật sư biện hộ nói rằng bé Caylee bị chết đuối vì tai nạn trong hồ bơi sau nhà và rằng thay vì trình báo về cái chết của bé Caylee thì gia đình lại che dấu.

    Vị bồi thẩm này giải thích, “nhiệm vụ của bồi thẩm đoàn là phải bỏ sang một bên những tình cảm của mình để chỉ dựa theo pháp luật mà xem xét.” Vị bồi thẩm này nói với đài ABC rằng, “Tôi không nói rằng bà ta vô tội (innocent: vô tội về phương diện đạo đức). Tôi chỉ nói rằng không có đủ bằng chứng buộc tội”. Và vị bồi thẩm này nói rõ thêm, bồi thẩm đoàn chỉ kết luận nghi can “vô tội theo pháp luật” chứ không kết luận nghi can vô tội theo lương tâm và đạo đức (not guilty but not innocence).

    Nghiên cứu vụ án sát nhân này rồi so sánh với các vụ án hình sự tại Việt Nam, đặc biệt là các vụ án có tính cách chính trị mà điển hình là vụ xét xử sơ thẩm Tiến Sĩ Cù Huy Hà Vũ vừa qua (phiên phúc thẩm sẽ diễn ra vào ngày 2/8 này), người ta thấy có nhiều nguyên tắc pháp lý để giới Chánh Án, Bồi Thẩm và Viện Kiểm Sát Việt Nam học hỏi nếu không muốn bị đánh giá là một đám người vô học mượn danh pháp lý đàn áp người dân vô tội không tiền bạc đút lót và đàn áp những người yêu nước chỉ vì họ dùng quyền tự do ngôn luận được qui định trong Hiến Pháp để phát biểu ý kiến xây dựng tổ quốc đối lập với ý kiến của giới cầm quyền.

    1- THỜI GIAN PHIÊN XỬ

    Điều đầu tiên tòa án Việt Nam cần học tập là thời gian diễn ra phiên tòa phải không bị giới hạn. Một vụ án hình sự có thể mang lại những thiệt hại cho người dân không sao phục hồi được đó là sự mất tự do; và có khi đưa cả tới mất mạng (trong các vụ án tử hình). Cho nên việc xét xử phải hết sức thận trọng. Chừng nào còn có tranh cãi giữa luật sư biện hộ và VKS thì chánh án phải cho phiên tòa tiếp tục cho tới khi cả hai bên đều cạn lý chứng. Một vụ án quan trọng như vụ xét xử Tiến Sĩ Cù Huy Hà Vũ mà chỉ kéo dài kể cả thời gian nghị án tổng cộng có 4, 5 tiếng đồng hồ thì quả thực là một phiên tòa bịp bợm.

    2- VAI TRÒ CHÁNH ÁN

    Điều thứ nhì chánh án cần phải học hỏi là phải biết vai trò của mình là người trọng tài công bình giữa VKS và luật sư biện hộ. Trong vai trò đó người chánh án cần phải lắng nghe tất cả các nhân chứng và xem xét mọi bằng chứng do hai bên trình bày, đánh giá sự khả tín của các nhân chứng và vật chứng cũng như các luận điểm của hai bên, để rồi cuối cùng dựa trên sự giải thích và áp dụng luật pháp của mình cùng với lương tâm của mình để tuyên phán một bản án cho vụ án. Chẳng cần phải được đào tạo chuyên môn người ta cũng biết chánh án là phải công bằng, không được thiên vị VKS hay luật sư biện hộ. Nhưng trong hiện trạng tòa án Việt Nam tất cả mọi người đều chứng kiến chánh án luôn luôn đứng về phe VKS. Trong đại đa số các vụ án có tính cách chính trị, đại diện VKS chỉ ngồi làm vì, mọi việc đương đầu với các luật sư biện hộ đã có chánh án lo hết. Và với quyền hạn duy trì trật tự phiên tòa, chánh án thường xuyên lạm quyền, rung chuông liên tục để ngắt lời luật sư biện hộ, không cho luật sư biện hộ lên tiếng. Bởi thế có điều nực cười phổ biến trong các phiên tòa hình sự ở Việt Nam là các luật sư, thay vì tranh luận với đại diện VKS thì họ lại không tranh luận mà đọc một mạch một “bài cãi” tràng giang đại hải, có khi tới 20 hay 30 trang. Khi được hỏi tại sao lại làm như vậy thì luật sư được hỏi cho biết chánh án họ thường không cho nói cho nên cứ một mạch đọc bài cãi, chánh án rung chuông vẫn cứ cố gắng đọc càng nhiều càng tốt cho tới khi nào chánh án rung chuông ngắt lời tới nỗi không thể đọc được nữa thì nạp bài cãi cho chánh án. Chẳng biết chánh án có thèm xem không, vì ngay cả các luật sư đều rõ bản án luôn luôn đã được định sẵn rồi.

    Sau phiên tòa sơ thẩm, trả lời một cuộc phỏng vấn của truyền thông hải ngoại, Ls. Nguyễn Thị Dương Hà phát biểu, “Rất tiếc là anh ấy (Cù Huy Hà Vũ) đã không được nói nhiều, bởi vì ông thẩm phán chủ toạ phiên toà không cho anh ấy nói. Cứ động nói đến đâu thì nói là “thôi được rồi, được rồi, được rồi”… mà chỉ được quyền trả lời “có” hay “không”, chứ không được nói nhiều và cái gì ông ấy cũng nói là ông ấy “biết rồi”, ông ấy “hiểu rồi”…, cho nên chồng tôi không nói được nhiều.” và ls Dương Hà nói tiếp, “cuối cùng anh ấy cũng muốn nói rất nhiều điều nhưng mà không được nói; và ông Nguyễn Hữu Chính đã tuyên bố là “hết phần để được nói”, rồi “hết thời gian”, “không được nói nữa” v.v. và v.v…” Đây là một hành vi vượt thẩm quyền của chánh án, vi phạm trầm trọng quyền biện hộ của bị can.

    3- TRƯNG DẪN BẰNG CHỨNG

    Trong vụ án Casey Anthony, độc giả thấy hai bên VKS và luật sư biện hộ đã thay nhau đưa ra những bằng chứng để hỗ trợ cho luận điểm của mình. Trái lại trong phiên sơ thẩm xử Cù Huy Hà Vũ, luật sư Dương Hà tiết lộ, “chủ toạ phiên toà Nguyễn Hữu Chính ngày hôm nay đã không làm đúng trách nhiệm của mình là công bố các tài liệu khi được đưa ra xét hỏi tại phiên toà.”

    4- BẰNG CHỨNG KẾT TỘI

    Một khi đã không đưa ra được bằng chứng phạm tội thì không thể kết tội bị can. Đó là điều sơ đẳng của luật học (và cũng chẳng cần phải học luật mới hiểu được điều này).

    Trong vụ án cô Casey Anthony, bồi thẩm đoàn đã nhận xét là VKS không trưng ra được phương cách nghi can hành động. Bồi thẩm Huekler nói nguyên văn, “VKS đã không cho chúng tôi thấy bé Caylee chết cách nào.” Thêm nữa, bồi thẩm Huekler nói rằng, “VKS chưa bao giờ giải thích được động cơ thực sự khiến bị can giết con gái của bà ta.”
    Trong vụ án cô Casey, bồi thẩm đoàn đã dùng ngôn từ thông thường là VKS đã không trưng ra được phương cách nghi can hành động và động cơ hành động của nghi can. Nói cách khác, theo ngôn từ của luật hình sự, để kết án một người về một tội phạm nào đó thì phải có hai yếu tố: Hành vi tội phạm và ý chí phạm tội (guilty act =actus reus và criminal intent = mens rea). Cả hai yếu tố này đều thiếu trong bản án kết tội Cù Huy Hà Vũ. Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ bị truy tố tội tuyên truyền xuyên tạc nhà nước. Nhưng trong tất cả các bài báo và phát biểu được VKS dùng làm căn bản khởi tố, tiến sĩ Hà Vũ đều đã dẫn chứng những điều ông nói và viết đều là sự thực. Như vậy bị can “KHÔNG CÓ HÀNH VI PHẠM TỘI TUYÊN TRUYỀN XUYÊN TẠC”.

    VKS cũng không chứng minh được động cơ phạm tội, bởi vì nhân thân của tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ cho thấy sẽ thực là vô lý nếu cho rằng ông có động cơ để tuyên truyền xuyên tạc nhà nước. Bố của tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ là cụ Cù Huy Cận, Bộ trưởng trong Chính phủ của nền Dân chủ cộng hòa non trẻ, là người đã tiếp ký chủ tịch Hồ Chí Minh trong bản Tuyên ngôn độc lập 2-9-1945, sau là Bộ trưởng đặc trách Văn hóa nghệ thuật của Hội đồng Bộ trưởng, Huân chương Sao Vàng. Như vậy có thể nói bố của tiến sĩ Hà Vũ đã cùng với Hồ Chủ Tịch và các nhà cách mạng lão thành cùng thời, là trụ cột xây dựng nên nhà nước này, một nhà nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa có nhiều thành phần đảng phái và có bản Hiến Pháp qui định bảo vệ tất cả mọi quyền tự do, dân chủ cho nhân dân mà giới lãnh đạo ngày nay đã xóa bỏ. Thực là không thuyết phục nếu tin theo VKS bảo rằng tiến sĩ Hà Vũ có chủ đích tuyên truyền xuyên tạc một chế độ tốt đẹp do chính bố ông cùng với Hồ Chủ Tịch xây dựng nên.

    5- NHIỆM VỤ BỒI THẨM

    Thêm một bài học cho các vị bồi thẩm rút từ vụ án cô Casey Anthony là bồi thẩm đoàn hoàn toàn quyết định độc lập với quan điểm của VKS và chánh án. Chánh án chỉ là người đưa ra những hướng dẫn về nguyên tắc pháp lý mà bồi thẩm đoàn phải theo khi xem xét, đánh giá các bằng chứng và luận chứng của hai bên VKS và luật sư biện hộ, chứ bồi thẩm đoàn không phải tuân theo quyết định của chánh án hay kết luận của VKS. Một vị bồi thẩm trong phiên xử đã giải thích, “nhiệm vụ của bồi thẩm đoàn là phải bỏ sang một bên những tình cảm của mình để chỉ dựa theo pháp luật mà xem xét.” Trong vai trò của một chánh án hay bồi thẩm, “Cho dù thâm tâm mình có ghét bị can, có nghĩ rằng bị can đã phạm tội, NHƯNG MỘT KHI KHÔNG ĐỦ BẰNG CHỨNG PHÁP LÝ ĐỂ KẾT TỘI BỊ CAN THÌ VẪN PHẢI TUYÊN BỐ THA BỔNG.” Bồi thẩm đoàn và Chánh án trong các vụ án hình sự tại Việt Nam nói chung và trong vụ Cù Huy Hà Vũ nói riêng, đều KHÔNG ĐƯỢC HỌC TẬP NGUYÊN TẮC NÀY.

    6- KẾT LUẬN

    Sau khi so sánh vụ án Cù Huy Hà Vũ trong phiên sơ thẩm, với vụ án xét xử cô Casey Anthony, người ta thấy rằng Thẩm phán - Chánh tòa và các vị bồi thẩm trong vụ án Cù Huy Hà Vũ đều không làm đúng chức năng luật pháp trao phó và do đó đã kết tội oan uổng một trí thức yêu nước mà quá trình gia đình và bản thân đã một đời theo đảng, theo Hồ Chủ Tịch tạo dựng lên một nhà nước Việt Nam Độc Lập, Dân Chủ và Đa Đảng. Ngay cả thời thực dân Pháp trước 1954 hay thời “Ngụy” ở miền Nam trước 1975, các phiên tòa xét xử các nhà cách mạng và các đảng viên cộng sản cao cấp cũng không tệ hại như vậy. Liệu toàn dân chúng ta cứ phải chịu đựng một nền tư pháp bịp bợm và bất công mãi thế này đến bao giờ?

    Kỳ tới: Vụ án Casey Anthony, bài học cho các luật sư Việt Nam (3)

    Tham khảo:

    1. http://news.yahoo.com/jurors-cried-felt-sick-acquitting-anthony-012228871.html
    Jurors cried, felt sick after acquitting Anthony
    By Colleen Jenkins | Reuters – 9 hrs ago-2011-7-7

    2. http://news.yahoo.com/case-against-casey-anthony-slam-dunk-wasn-t-222739019.html
    The case against Casey Anthony: The slam dunk that wasn’t
    From the start the case against Casey Anthony lacked direct physical evidence tying the defendant to her daughter's death. And the prosecution's demeanor and tactics may have alienated the jury.

    3. http://lenguyenhuytran.com/2011/04/05/ls-nguy%E1%BB%85n-th%E1%BB%8B-d%C6%B0%C6%A1ng-ha-len-ti%E1%BA%BFng-sau-v%E1%BB%A5-x%E1%BB%AD-ts-cu-huy-ha-vu/
    Ls. Nguyễn Thị Dương Hà lên tiếng sau vụ xử Ts. Cù Huy Hà Vũ

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    0 phản hồi