Hà Văn Thịnh - 235 năm thành lập Hợp Chúng Quốc Hoa Kỳ

  • Bởi Khách
    06/07/2011
    5 phản hồi

    Hà Văn Thịnh – Đại học Khoa học Huế

    Trong hàng ngàn năm lịch sử loài người kể từ khi có nhà nước, lịch sử nước Mỹ (tính từ thời điểm công bố Tuyên ngôn Độc lập – 4.7.1776) là một trong những trang sử có rất nhiều những điểm lạ kỳ, độc đáo. Do khuôn khổ của một bài báo, những ghi chép sau đây hướng tới vài phác họa nhỏ về những điều ‘hổng giống ai’ nhưng rất đáng để suy ngẫm ấy...

    Cuộc chiến tranh giành độc lập của 13 thuộc địa Bắc Mỹ bùng nổ ở Boston rạng sáng ngày 17.12.1773 đã khơi dậy sự phát tiết tinh hoa và truyền cảm hứng cho Thomas Jefferson viết lên bản TNĐL bất hủ. Dĩ nhiên, Jefferson chỉ hiện thực hóa những tư tưởng đi trước thời đại của các nhà tiên phong Pháp như Rouseau, Montesquieu; nhưng, phải nói rằng ông đã nhìn, đọc và gần như hiểu hết những đòi hỏi mà thời đại mới đã đặt ra... Chúng tôi tin rằng những điều được tuyên bố sau đây là hiển nhiên, tất cả mọi người đều được sáng tạo ra (bởi Thượng Đế - Đấng Tạo Hóa) một cách bình đẳng. Đấng Tạo Hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được. Trong những quyền đó, có quyền sống, quyền tự do và quyền kiếm tìm hạnh phúc...

    Không biết do đâu và từ lúc nào, rất nhiều sách – bài viết luôn dịch cụm từ “Every men are created equal” (created by The Creator) là tất cả mọi người sinh ra đều bình đẳng. Hiểu như thế là chưa hiểu đúng lối hành văn chính xác, chặt chẽ của người Mỹ. Thực ra, con người chỉ bình đẳng trong một trường hợp duy nhất thôi: Đó là khoảnh khắc mà sự kết hợp của hai người (đàn ông với đàn bà) đã tạo thành một sinh linh mới! Quan niệm về hạnh phúc cũng thế, ai cũng có quyền kiếm tìm (mưu cầu) hạnh phúc nhưng có đạt được, có tìm thấy hay không là việc riêng, tùy thuộc vào số phận, may mắn của mỗi người.

    Ngày 3.9.1783, Hiệp ước đình chiến được ký ở Paris (lần đầu tiên Paris được chọn là địa điểm văn hóa – trung lập – trọng tài cho một hiệp ước quốc tế). Nghe tin ấy, đại tá G. Washington đã thay quân phục bằng một bộ quần áo dân sự và trở về trang trại để... nuôi gà! Các sĩ quan dưới quyền tất nhiên cũng theo chân Tổng tư lệnh, kéo nhau về nhà hết. Vậy là, lần đầu tiên – duy nhất trong lịch sử loài người, những nhà cách mạng không cần đến việc chia nhau ghế ngồi hay mưu toan các dự định quyền lực nhằm hưởng lợi theo kiểu công thần, ích kỷ - một việc thật dễ dàng nếu thiết lập chính quyền. Washington và các bạn chiến đấu của ông tin rằng họ đã làm tròn nghĩa vụ công dân và không hề đòi hỏi bất cứ một cái thêm nào.

    Tinh thần trọng danh dự tràn đầy nghĩa khí ấy cũng có cái tai họa của nó: Tình trạng vô chính phủ đã làm cho 13 bang như thể được liên kết với nhau “bằng cát”. Mọi định chế, quy tắc bị biến thành lá khô và cỏ dại. May mắn thay, trí tuệ của con người vẫn luôn là cứu cánh tốt nhất khi bĩ cực dập vùi. 55 con người (đa số dưới 45 tuổi) vĩ đại đã họp lại với nhau dưới sự chủ tọa của G. Washington để bàn việc soạn thảo Hiến pháp. Vậy là, một bản hiến pháp có trước nhà nước đã dần được hình thành và, mỗi ngày, được thông báo rộng rãi trên báo chí cho người dân biết, tham gia ý kiến, cho dân quyền lựa chọn mô hình nhà nước theo đúng mục tiêu được minh định rằng đó phải là chính quyền thật sự do nhân dân làm ra, để phục vụ nhân dân. Sau hai sự thực tốt đẹp ấy thì mặc nhiên nó chắc chắn sẽ là, của nhân dân. Nếu như tất cả các nhà nước đang và sẽ tồn tại trên thế giới này đều được tạo dựng theo đúng tinh thần – mô hình ấy, thì có thể, sẽ bớt đi rất nhiều những điều tồi tệ.

    Hội nghị lập pháp của Hợp Chúng Quốc Mỹ đã đề ra những nguyên tắc chưa hề có tiền lệ. Những “cha đẻ” của Hiến pháp Mỹ như A. Hamilton, J. Madison, B. Franklin... đã sáng tạo thực sự những chuẩn mực mà nhờ đó, Hiến pháp được làm ra vừa sáng sủa lại vừa trường tồn. Chẳng hạn, họ quan niệm rằng chúng ta mong muốn xây dựng một nền tảng vững chắc có thể tồn tại qua mọi thời đại thì chúng ta phải dự liệu những thay đổi mà các thời đại đó sẽ tạo ra. “Những thay đổi” thì bao giờ cũng xảy ra, do đó, giải pháp dùng Tu chính án (Amendment) để bổ sung cho hiến pháp quả là đắc dụng: Chính nhờ đó mà Hiến pháp Mỹ trở thành bản hiến pháp duy nhất không cần phải sửa chữa. Một quan niệm khác cho rằng xu hướng lạm quyền, lộng quyền là một thuộc tính tự nhiên của quyền lực, do vậy, phải thiết lập một cơ chế sao cho có thể hạn chế đến mức thấp nhất thuộc tính tệ hại ấy. Tam quyền phân lập trở thành mô hình hiệu quả nhất mà lịch sử đã từng biết. J. Madison còn tuyên bố rất đanh thép rằng đảng phái là cội nguồn của chủ nghĩa bè phái, mà, chủ nghĩa bè phái là cội nguồn làm vẩn đục hiến pháp. Do vậy, một cơ chế lưỡng viện và tam quyền phân lập là cách thức tốt nhất để ngăn chặn đảng phái xâm hại chính quyền... Còn rất, rất nhiều những chuẩn mực, những tiêu chí mà 55 con người xuất sắc nhất thế kỷ XVIII đã nghĩ ra, đã áp dụng để nhờ đó, một nhà nước mới mẻ một cách toàn diện, triệt để đã được ra đời.

    Không phải ai cũng nhớ Cách mạng Mỹ là thắng lợi đầu tiên của một thuộc địa trong thời đại tư bản chủ nghĩa. Có nghĩa là những người công dân đầu tiên của Hợp Chúng Quốc đã giương cao lá cờ đầu của phong trào giải phóng dân tộc. Ý nghĩa đó thật là vĩ đại. Cũng rất có thể rằng nhờ ảnh hưởng, tác động của cách mạng Mỹ mà cho đến cuối những năm 20 của thế kỷ XIX, tất cả các nước ở châu Mỹ đều giành được độc lập về chính trị(!) Các nhà sử học tôn thờ chủ nghĩa chủ quan cực đoan đã viết rằng đó là ‘chủ nghĩa Monroe’ – châu Mỹ của đế quốc Bắc Mỹ. Không ai phủ định chủ nghĩa Monroe nhưng đẩy một chủ nghĩa (bất kỳ chủ nghĩa nào) đi quá xa cũng có phần làm cho lịch sử bị oan khuất. Lịch sử ‘nói’ rằng cho đến bây giờ, Hoa Kỳ chưa tấn công để xâm lược bất kỳ một nước Nam Mỹ nào. Dĩ nhiên, nó cũng chưa hề gây ra chuyện bắt ngư dân nước khác nộp phạt, hay ăn cướp cá tôm, dầu nhớt của tàu đánh cá, chẳng hề vừa ăn cướp vừa la làng về chủ quyền sau khi đã tiến hành hàng loạt những hành động bẩn thỉu, nhỏ nhen nhằm chèn ép, hăm dọa các nước nhỏ hơn... Xin nhấn mạnh rằng thế kỷ XVIII – XIX là những thế kỷ mà công pháp quốc tế chưa có, các cường quốc rất dễ thao túng bàn cờ chính trị thế giới nhưng chính quyền Mỹ không hề lạm dụng. Có thể các nhà lãnh đạo Mỹ đã tin rằng bắt một dân tộc khác làm nô lệ là điều tồi tệ không thể chấp nhận được?

    Tất nhiên, cũng cần lưu ý là trước khi có cuộc cách mạng của tự do và dân chủ đầu tiên trên thế giới, những di dân khai phá tân thế giới (người Anh chính thức lập nên thị trấn đầu tiên, Jamestown năm 1603) đã hành xử thật tàn bạo, dã man. Hàng triệu người da đỏ đã bị tàn sát để rồi 100 năm sau chỉ còn lại mấy trăm ngàn người; hàng triệu con trâu đã bị tận diệt để thay bằng loại gia súc được ưa chuộng là bò và, chế độ nô lệ da đen được bắt đầu áp dụng từ năm 1612 phải chờ đến năm 1865 mới chấm dứt... Bạo lực song hành với sự tôn trọng trí thức, hiểu biết là một trong những điều lạ kỳ: Trường đại học Harvard thành lập năm 1636 – 140 năm trước khi có Tuyên ngôn Độc lập là một minh chứng thật rõ ràng. Như rất nhiều sử gia đã nhận xét (xem Hữu Ngọc, Hồ sơ Văn hóa Mỹ), ở nước Mỹ, mỗi điều tốt luôn kèm theo một thói xấu nào đó. “Công thức” âm – dương của xấu – tốt ấy đã làm cho nước Mỹ, văn hóa Mỹ luôn là đề tài để cho hậu thế, cho đến tận bây giờ cứ tranh cãi mãi hoài và chẳng thể nào chấm dứt...

    Việt Nam và Hoa Kỳ có khá nhiều điểm chung mà B. Clinton đã tuyên bố gần đủ ở Đại học Quốc gia Hà Nội vào tháng 11.2000. Theo TT Mỹ, cả hai nước đều được ‘sinh ra’ từ thuộc địa; đều được hình thành từ quá trình di chuyển liên tục (nam tiến và tây tiến); câu mở đầu Tuyên ngôn Độc lập giống nhau; cả hai dân tộc đều trẻ (hơn 60% dân số dưới 35 tuổi) và đều dễ thích nghi với những cái mới (tuy học hỏi, áp dụng thành công những cái mới lại là chuyện khác). B. Clinton không nhắc đến, vì thế xin bổ sung về điểm chung thứ năm: Cả hai tác giả viết Tuyên ngôn Độc lập đều mất vào ngày Quốc khánh (Hồ Chủ tịch mất ngày 2.9.1969 và Thomas Jefferson mất ngày 4.7.1826). Những điểm chung ấy có thể là ngẫu nhiên của lịch sử nhưng sẽ không là ngẫu nhiên nữa khi từ lịch sử độc đáo và hấp dẫn của nước Mỹ, chúng ta có thể suy ngẫm để bùng vỡ một vài trăn trở không hề dễ dàng...

    Huế, 1.7.2011. Tel: 0914 079 210.
    Hà Văn Thịnh

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    5 phản hồi

    Một góp ý nho nhỏ khác: tên chính thức của Bill Clinton là William Jefferson Clinton. Bill là tên gọi ngắn gọn (nickname) của ông. Khi muốn viết tắt tên ông thì ta sẽ viêt là W. Clinton chứ không viết B. Clinton.

    Xin góp ý một chút với tác giả về cai sai của cụm từ "Hợp Chúng Quốc Hoa Kỳ". Ý kiến này tôi đã nêu ở Đàn chim Việt nay chép lại luôn ra đây cho tiện.

    “The United States of America” người Trung Quốc dịch là “Hợp chúng quốc Mỹ Lợi Kiên” (“chúng” trong “quần chúng”, “đại chúng”, có nghĩa là đông, là nhiều, chứ không phải “chủng” trong “chủng tộc”, “chủng loại”), gọi tắt là Mỹ quốc. Cách gọi trên đã được người Việt Nam tiếp thu nhưng cắt bớt đi, chỉ gọi là Mỹ vì “mỹ” trong tiếng Việt không có nghĩa gì có thể gây hiểu lầm khi nói chuyện nên gọi luôn là Mỹ cho ngắn gọn. Cũng vì những lý do tương tự mà người Việt Nam đã gọi Pháp Lan Tây là Pháp, Đức Ý Chí là Đức, Nga La Tư là Nga… “Hợp chúng quốc” trong “Hợp chúng quốc Mỹ Lợi Kiên” là dịch nghĩa của “The United States”, còn “Mỹ Lợi Kiên” là dịch âm của “America”,

    Tên gọi Hoa Kỳ là từ đàu ra? Hồi cuối thế kỷ 19 người Trung Quốc khi sang Mỹ nhìn thấy quốc kỳ nước Mỹ có rất nhiều ngôi sao màu trắng trên nền xanh, trông tựa như những bông hoa nên đã gọi quốc kỳ nước My là “hoa kỳ” (cờ hoa), gọi nước Mỹ là “hoa kỳ quốc” (nước cờ hoa). Ngày nay tên gọi Hoa Kỳ không còn phổ biến ở Trung Quốc nhưng trong tiếng Việt vẫn còn được sử dụng rất nhiều. Hoa Kỳ và Hợp chúng quốc Mỹ Lợi Kiên là hai tên gọi khác nhau chỉ cùng một quốc gia nhưng không thể ghép lại với nhau thành “Hợp chúng quốc Hoa Kỳ” hoặc tệ hơn nữa là còn ghi sai chính tả thành “Hợp chủng quốc Hoa Kỳ”. Đã nói Hoa Kỳ thì đừng nên thêm “hợp chúng quốc” vào.

    Hà Văn Thịnh viết:
    Vậy là, lần đầu tiên – duy nhất trong lịch sử loài người, những nhà cách mạng không cần đến việc chia nhau ghế ngồi hay mưu toan các dự định quyền lực nhằm hưởng lợi theo kiểu công thần, ích kỷ - một việc thật dễ dàng nếu thiết lập chính quyền. Washington và các bạn chiến đấu của ông tin rằng họ đã làm tròn nghĩa vụ công dân và không hề đòi hỏi bất cứ một cái thêm nào.
    Hà Văn Thịnh viết:
    B. Clinton không nhắc đến, vì thế xin bổ sung về điểm chung thứ năm: Cả hai tác giả viết Tuyên ngôn Độc lập đều mất vào ngày Quốc khánh (Hồ Chủ tịch mất ngày 2.9.1969 và Thomas Jefferson mất ngày 4.7.1826). Những điểm chung ấy có thể là ngẫu nhiên của lịch sử nhưng sẽ không là ngẫu nhiên nữa khi từ lịch sử độc đáo và hấp dẫn của nước Mỹ, chúng ta có thể suy ngẫm để bùng vỡ một vài trăn trở không hề dễ dàng...

    Ở dưới là điểm giống nhau, nhưng tiếc rằng lại có cái điểm khác nhau to đùng phía trên. Nếu xét sâu hơn thì hồi 1945 Việt Nam còn có lợi thế hơn Hoa Kỳ hồi 1776 nhiều:

    - Không phải là chiến trường chính của chiến tranh nên không bị tàn phá đến mức nát bét.

    - Không hề vô chính phủ mà ngược lại nội các của cụ Trần Trọng Kim gồm toàn trí thức tầm cỡ.

    - Kiểu giành độc lập của Mỹ là một dạng ly khai, việc có chính nghĩa hay không, được ủng hộ hay không rất khó lường. Còn Việt Nam là một dân tộc có văn hiến và có nhà nước lâu đời, có chính nghĩa sáng ngời,
    hai chữ Độc Lập được ủng hộ bởi chính người dân tại... "mẫu quốc" và bởi Hội Quốc Liên với nghị quyết giải thực.

    Tóm lại, một cơ hội quá tốt đã bị phá hoại và bị bỏ lỡ. Ai là kẻ phá hoại?

    Những điều tôi trình bầy trong bài báo về kế hoạch TQ ở Shangri-La chỉ là một giả thiết . Sự đúng đắn của nó có thể sau một thời gian mới được kiểm nghiệm . Xong tôi vẫn cố làm việc này, tin rằng nó sẽ giúp ích cho việc hiểu TQ hơn .