Huy Đức - Đơn Độc

  • Bởi Khách
    12/06/2011
    5 phản hồi

    Huy Đức

    Người dân ở Hà Nội và Sài Gòn đã lại xuống đường. Mặc dù mục tiêu của những cuộc tuần hành sáng 12-6-2011 vẫn là Trung Quốc, chính quyền đã cứng rắn hơn. Có lẽ, họ đã quên mất, mỗi khi đất nước có hiểm họa xâm lăng thì mục tiêu của dân chúng là những kẻ đang rập rình ngoài bờ cõi. Người dân vẫn còn nhớ, đất đai của tiền nhân thường hay bị mất mỗi khi “ở trong tường vách, da thịt tàn nhau”.

    Hơn 300 năm trước, các Chúa Nguyễn đã đưa người đến Hoàng Sa và Trường Sa. Năm 1816, Gia Long chính thức thiết lập chủ quyền Việt Nam đối với cả hai quần đảo. Đại Nam Nhất Thống Toàn Đồ, bản vẽ năm 1838 của Nhà Nguyễn đã thể hiện hai quần đảo này với tên gọi là Hoàng Sa và Vạn Lý Trường Sa. Năm 1920, Chính quyền Pháp, với tư cách là nhà nước bảo hộ ở Đông Dương đã ra tuyên bố khẳng định chủ quyền và từ đó người Pháp hiện diện ở đây liên tục. Tháng 11-1946, khi người Pháp bắt đầu chiến tranh trở lại với Việt Minh, chỉ có thể đưa quân kiểm soát cụm phía Tây Hoàng Sa, Tưởng Giới Thạch đã cho đổ bộ lên đảo Phú Lâm thuộc Hoàng Sa và tháng 12-1946, đổ bộ lên Itu Aba, thuộc Trường Sa. Sau khi bị Mao đuổi khỏi lục địa Trung Hoa, năm 1950, quân Tưởng rút khỏi hai hòn đảo mà họ giữ gần 4 năm trước đó.

    Năm 1954, theo Hiệp định Geneve, Hoàng Sa ở phía Nam Vĩ tuyến 17 sẽ thuộc về chính quyền miền Nam Việt Nam. Nhưng, tháng 4-1956, khi lực lượng Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa ra tiếp quản, hai đảo lớn nhất đã bị “Quân giải phóng Trung Quốc” chiếm mất. Chính quyền Việt Nam Cộng hòa trên thực tế, cai quản liên tục bốn đảo chính: Pattle (Hoàng Sa); Robert (Cam Tuyền); Duncan (Quang Hòa Đông) và Drummond (Duy Mộng). Riêng đảo Pattle, Việt Nam còn có một đài khí tượng thuộc hệ thống quốc tế. Từ năm 1956, Việt Nam Cộng hòa, về mặt pháp lý, vẫn khẳng định chủ quyền trên phần bị Bắc Kinh chiếm đóng.

    Tháng 4-1972, khi miền Bắc dồn lực trong một chiến dịch thảm khốc ở Quảng Trị. Người Mỹ cần Bắc Kinh làm ngơ để họ dội bom ra vĩ tuyến 20. Ngày 4-4-1972, Kissinger đã phái Winston Lord tới New York gặp Hoàng Hoa, đại sứ Trung Quốc tại Liên Hiệp Quốc, để “trao một bức điện bằng lời”, nhắn Trung Quốc: “Hải quân Mỹ sẽ được lệnh ở lại tại khoảng cách 12 dặm”. Người Trung Quốc hiểu, nếu họ đánh Hoàng Sa, người Mỹ sẽ án binh bất động. Từ ngày 16-1-1974, Trung Quốc bắt đầu cho tàu ép sát Hoàng Sa. Theo Phó đề đốc Hồ Văn Kỳ Thoại: “Các chiến hạm thuộc Đệ Thất Hạm Đội của Hoa Kỳ ở rất gần các vị trí chiến hạm Việt Nam”. Nhưng, Hải quân Việt Nam Cộng Hòa đã phải đơn độc chống lại Trung Quốc xâm lăng. Theo tướng Thoại: “Hạm Đội Bảy của Mỹ đã không làm gì kể cứu vớt các đồng minh lâm nạn”. Kể từ ngày 19-1-1974, phần còn lại của Hoàng Sa Việt Nam bắt đầu bị Bắc Kinh chiếm đóng.

    Tướng Giáp nhận được tin mất Hoàng Sa khi ông đang điều trị bệnh sỏi mật ở Liên Xô. Năm 1975, sau “chiến thắng Buôn Ma Thuột”, Tướng Giáp kiến nghị Bộ Chính trị “tiến hành giải phóng các đảo và quần đảo” mà miền Nam đang chiếm giữ. Ngày 2-4-1975, Tướng Giáp trực tiếp chỉ thị cho Tướng Lê Trọng Tấn lúc bấy giờ đang ở Đà Nẵng: “Tổ chức tiến công giải phóng các đảo, đặc biệt là quần đảo Trường Sa”. Trước đó, ngày 30-3, Quân ủy cũng điện cho Võ Chí Công và Chu Huy Mân yêu cầu thực hiện. Chiều 4-4-1975, Quân ủy điện tiếp cho Quân khu V: “Kịp thời đánh chiếm các hòn đảo vùng Nam Hải, đặc biệt là các đảo Nam Sa. Việc này phải chuẩn bị gấp và bí mật, chỉ để cán bộ có trách nhiệm biết”. Ngày 9-4-1975, Cục Quân báo có tin quân đội Sài Gòn rút khỏi các đảo, Quân ủy gửi điện “tối khẩn” cho Võ Chí Công, Chu Huy Mân và Phó Tư lệnh Hải quân Hoàng Hữu Thái: “Các anh cho kiểm tra và hành động kịp thời… Nếu để chậm, có thể quân nước ngoài chiếm trước, vì hiện này một số nước ngoài đang có ý đồ xâm chiếm”. Từ ngày 14-4-1975 đến ngày 28-4-1975, Quân Đội Nhân dân Việt Nam đã tiếp quản tất cả những hòn đảo do quân đội Sài Gòn chiếm giữ.

    Cho dù, theo lệnh ngày 13-4-1975 của Tướng Giáp, Quân đội miền Bắc đã không đụng vào các hòn đảo do Trung Quốc khi ấy đang chiếm giữ. Nhưng, ngày 5-5-1975, khi Đài Tiếng nói Việt Nam công bố, “Hải quân Việt Nam đã giải phóng quần đảo Trường Sa”, một phóng viên Tân Hoa Xã tên là Ling Dequan đang thường trú tại Hà Nội đã thấy “đắng chát ở trong miệng”. Ling Dequan, sau đó, nói Nayan Chanda: “Tin Việt Nam chiếm các hòn đảo đến như một cú shock vì trước đó họ đã công nhận chủ quyền của Trung Quốc trên những hòn đảo ấy”. Mân Lực, tác giả cuốn sách “Mười năm chiến tranh Trung-Việt”, cũng gọi hành động tiếp quản Trường Sa của Hải Quân Việt Nam là “ngang nhiên chiếm đóng 4 đảo trong quần đảo Nam Sa của Trung Quốc”. Vì theo Mân Lực: “Từ năm 1958, Thủ tướng Việt Nam Phạm Văn Đồng đã thông báo cho Thủ tướng Chu Ân Lai, rõ ràng xác nhận hai quần đảo Tây Sa và Nam Sa thuộc lãnh thổ Trung Quốc. Nhưng hiện nay họ tiền hậu bất nhất ngang nhiên tuyên truyền đây là lãnh thổ của họ, sửa đổi bản đồ vẽ hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vào bản đồ Việt Nam”.

    Ngày 4-9-1958, Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai tuyên bố: “Hải phận 12 hải lý kể từ đất liền là của Hoa Lục”. Ngày 14-9-1958, Thủ tướng Phạm Văn Đồng gửi Chu Ân Lai công hàm mà đời sau có thể đọc được toàn văn trên báo Nhân Dân số ra ngày 22-9-1958: “Thưa đồng chí Tổng lý/ Chúng tôi xin trân trọng báo tin để đồng chí Tổng lý rõ: Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4-9-1958 của Chính phủ nước cộng hòa nhân dân Trung Hoa quyết định về hải phận của Trung Quốc. Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng hoà nhân dân Trung Hoa trên mặt bể. Chúng tôi xin gửi đồng chí Tổng lý lời chào trân trọng”.

    Cho dù, theo Mân Lực, Tuyên bố của Chu Ân Lai “có đính kèm bản đồ về đường ranh giới lãnh hải rất rõ ràng (trong đó bao gồm cả hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa)”. Cho dù, theo ông Trần Việt Phương, người có 25 năm làm thư ký riêng cho Phạm Văn Đồng: “Lúc bấy giờ quan hệ Việt-Trung đang rất tốt. Về phía Việt Nam, đang có quan niệm ngây thơ về chủ nghĩa quốc tế vô sản; quan niệm ngây thơ từ người cao nhất của Ta chứ không phải ở cấp độ vừa. Về phía Trung Quốc hiểu ra sự ngây thơ đó và đã có ý đồ không tốt. Tuy nhiên, dân tộc Việt Nam có trong máu hàng nghìn năm kinh nghiệm với Trung Quốc để, cho dù có sự ‘ngây thơ quốc tế vô sản’ cũng không đến mức có thể dẫn tới sự nhầm lẫn hoàn toàn”. “Công hàm 1958” là tuyên bố của một đồng minh, được đưa ra khi Mỹ đưa Hạm đội 7 hoạt động trên eo biển Đài Loan và đe dọa chủ quyền của “đồng minh” Trung Quốc. Cho dù, “Công hàm 1958” tuyên bố những gì thì nó cũng hoàn toàn không có giá trị công nhận Hoàng Sa là của Bắc Kinh. Từ năm 1954 đến trước ngày 30-4-1975, theo Hiệp định Geneve được ký bởi các bên trong đó có Hà Nội và Bắc Kinh, thì Hoàng Sa và Trường Sa - ở thời điểm 1958 - không phải là phần thuộc về miền Bắc mà đang là lãnh thổ hợp pháp của Việt Nam Cộng hòa, một quốc gia vẫn có mặt ở các diễn đàn Liên Hiệp Quốc.

    Sở dĩ những nhà văn, nhà báo như Ling Dequan, Mân Lực, bị shock khi nghe tin Việt Nam lấy lại Trường Sa, theo nhà nghiên cứu Dương Danh Di, với chính sách bưng bít thông tin, người dân Trung Quốc không hề biết Hoàng Sa, Trường Sa là lãnh thổ mà Việt Nam đã có chủ quyền liên tục hàng trăm năm, là phần lãnh thổ mà Chính quyền của họ mới “dùng vũ lực để cưỡng đoạt” trong thế kỷ 20 như những tên xâm lược.

    Báo chí chính thống của Việt Nam, từ năm 1958, chưa bao giờ nhắc lại “Công hàm” của Phạm Văn Đồng, chưa giải thích “nội hàm” của tuyên bố ấy. Chính quyền, đã tới lúc nên tuyên bố về giới hạn pháp lý của Công hàm này, nên thừa nhận bản hiệp định (Geneve) mà mình đã đặt bút ký vào theo đó, Hoàng Sa và Trường Sa từ trước 30-4-1975 là phần lãnh thổ thuộc về Chính quyền Sài Gòn, nên dẫu Hà Nội có đưa ra tuyên bố gì thì cũng phải bị coi là “vô giá trị”. Đây không còn là chuyện “ăn-thua” với người anh em miền Nam mà là “mất-còn” với ngoại xâm. Đây cũng là lúc mà người dân tạm gác các bức xúc thường nhật để tập trung vào mối đe dọa đến từ phương Bắc.

    Kinh nghiệm từ “Trận tử chiến Hoàng Sa” năm 1974, mọi hành động trên biển đông là để giữ đảo chứ không phải để chứng minh lòng dũng cảm. Nhưng, trước cùng một sự kiện, Hải quân và thường dân đôi khi vẫn có những sứ mệnh khác nhau. Người dân không có trách nhiệm phải cân nhắc mối tương quan sức mạnh giữa hai quốc gia. Người dân có khát vọng chứng minh: Một dân tộc nhỏ hơn không có nghĩa là cam lòng sợ hãi.

    Những thanh niên, trí thức, thường dân hôm nay, 12-6-2011, biết chính quyền đang phải chịu những sức ép nào và những sức ép ấy giờ đây lại dồn lên vai họ. Nhưng, hàng ngàn người dân vẫn phải xuống đường. Họ không chỉ đòi lại đoạn cáp thứ hai bị chính quyền hải tặc Trung Quốc cắt trong vòng chỉ hơn một tuần. Họ muốn nói với người phương Bắc, cho dù lịch sử có trải thêm mấy nghìn năm, cho dù bị lừa phỉnh bởi “tình láng giềng, đồng chí”, người Việt Nam vẫn hiểu Trung Quốc là ai và bảo vệ chủ quyền là ý chí không có gì lay chuyển được.

    Không phủ nhận những lý do dẫn đến nỗi sợ mơ hồ trong những ngày này. Nhưng, cũng trong những ngày này, chính quyền có cơ hội không hề mơ hồ để đứng bên cạnh nhân dân, đoàn kết mọi người Việt Nam, không chỉ để cho mục tiêu chống ngoại xâm mà còn có thể cho mục tiêu “ổn định”. Chảy nước mắt khi cảm thấy dân mình đơn độc.

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    5 phản hồi

    Phản hồi: 

    The Democratic Republic of Vietnam estopped Socialist Republic of Vietnam Claims

    (excerpt from Greg Austin, China Ocean’s Frontiers, pp. 126-130)

    The strongest arguments raised by the PRC (People’s Republic of China- Truc Le noted) in support of its claims to sovereignty of the Paracel Islands is that these were recognised by the successor state to Annam, the DRV (Democratic Republic of Vietnam- Truc Le noted), well after its independence from France in 1945. The PRC has made these arguments in a letter to the UN Secretary-General from the PRC Permanent Representative on 23 November 1980.[96] The letter asserts:
    The Paracel and Spratly Islands have been Chinese territory since ancient times… This is a fact of which the Vietnamese side, in statements and notes of its government, in its newspapers and magazines and in its maps and textbooks, solemnly expressed for many times its recognition and respect.[97]

    The PRC cites a diplomatic note to the PRC from Pham Van Dong, Prime Minister of the DRV, supporting the PRC’s territorial sea declaration of 1958.[98] Pham Van Dong’s note did not specifically mention the Paracel Islands but since the PRC declaration did, the PRC implies that the lack of Vietnamese protest at the inclusion of the islands as PRC territory demonstrates an apparent DRV acquiescence in the PRC’s claim.[99] The letter, quoting from Vietnam’s note, said that Vietnam “recognises and supports” the declaration and “respects this decision” by the PRC.[100] On 6 September 1958, the Vietnamese Worker’s Party daily, Nhan Dan, prominently displayed on page one full details of the declaration by the PRC without comment.[101] This newspaper was akin to a government publication because of the dominance of the government by the Worker’s party.

    On 9 May 1965, the DRV government issued a statement on US designation of a combat zone off the coast of Vietnam.[102] The DRV statement described the zone as affecting “the territorial waters of the People’s Republic of China in its Paracel Islands”. On 13 May 1969, Nhan Dan reported an incursion by US aircraft over “Yongxing Island and East Island of the Paracel Islands of China’s Guangdong Province”.[103] The PRC claims that many similar reports were carried in the Vietnamese press.[104]
    The PRC also cites statements by a DRV Vice-Foreign Minister and a senior Foreign Ministry official in 1956 supporting PRC sovereignty over the Paracel (and Spartly) Islands.[105]

    In the SRV’s 1979 White Book sent under cover of a letter to the UN Secretary-General, the lack of activity by the DRV or SRV in defence of the purported Vietnamese claim is striking. All the actions referred to in the White Book between 1955 and 1974 were carried out by the “Saigon authorities”. The first explicit statement of a DRV or SRV claim to the Paracel Islands came in June 1976 with the publication of a map showing the Paracel Islands as DRV territory.[106] The public reaction of the DRV government to the 1974 military take-over of the Paracel Islands by the PRC was limited for a long time to a statement made a month or so after the clashes:
    …the frequently complex disputes over territories and frontiers between neighbouring countries demand careful and circumspect examination. Countries involved should settle such disputes by negotiations and in a spirit of good neighbourliness.[107]

    Of all the items of evidence presented by the PRC as proof of DRV recognition of Chinese sovereignty over the Paracel Islands, the most conclusive may be the note from the DRV Prime Minister supporting the PRC territorial sea declaration. The note was a government to government communication. And its subject was territorial sovereignty over, inter alia, the Paracel Islands; and the DRV not only raised no objection to the PRC claim but supported it. As mentioned in Appendix I, some writers suggest that international law is clear on the point that recognition by a state to a title estops that state from contesting its validity at a future time. By this one act alone, the DRV may have forfeited any right to challenge the PRC title to the islands.

    However, the PRC need not rest –and does not rest- on this one act of estoppel. A number of other DRV actions referred to by the PRC and mentioned above might be used as evidence of DRV acquiescence [108] in the PRC claim. These acts include the frequent publication by DRV government agencies of maps showing the Paracel Islands to be PRC territory.[109] While these maps would not be binding proof of DRV acquiescence, they would reasonably be seen as evidence of a general conviction in the DRV government that the Paracel Islands were PRC territory.

    More importantly, the lack of DRV protest at the PRC occupation of some or all of the Paracel Islands for the twenty years from 1955 to 1975 would almost certainly be interpreted as acquiescence.[110] Of particular note is the failure of the DRV to protest the armed take-over by the PRC of the Paracel Islands in early 1974 and the subsequent failure of the SRV to protest the continuing occupation until political relations had deteriorated seriously, making the SRV claim appear more like a political one than a legal one.
    The legal significance of the DRV acquiescence is as follows. In cases proceeding from an adverse possession of territory, acquiescence is the essence of the process of acquisition of title.[111] The SRV claims that the PRC occupation of the Paracel Islands is such an adverse possession. Yet for twenty years the DRV government remained silent. In the circumstances of this territorial dispute, it would not be unreasonable for the PRC to argue that the DRV had a duty to protest the occupation if it wished to maintain any right there.

    The only answer that the SRV may have to such contentions is that as long as the Saigon authorities (the RVN) were protesting and physically opposing the Chinese occupation of the Paracel Islands, there was no requirement for the DRV to have protested or opposed the occupation. The SRV could argue that as successor state to the RVN, it inherited the RVN’s rights in the territorial dispute with the PRC. The SRV does not explicitly make this point but it is clearly implied in its claims. The SRV also argues that the extreme circumstances in which the DRV found itself during the continuing civil war obliged it to pay attention to more serious issues than territorial sovereignty over the disputed islands.[112]

    These rebuttals do not address the basic point, however. If the DRV had remained silent, the question might remain open. But the active step taken by the DRV to recognise without demur or reservation the PRC declaration on the territorial sea which named the Paracel Islands as Chinese territory provided the PRC with reasonable grounds to believe that the DRV did not have the same claims as the RVN to the islands. If the DRV retained some pretension to sovereignty over the islands, it was almost certainly bound to register that position when it took an official position on the PRC declaration. The absence of a subsequent DRV/SRV protest over twenty years compounds the disadvantageous effect for the SRV of the DRV’s recognition in 1958.

    The legal effect of this estoppel is confined to acts before the SRV changed its policy and claimed the Paracel Islands. The SRV is perfectly free to change its policy and register a claim, but the estoppel means that in making its claim, the SRV can only rely on events after the change of policy to support a claim. The only basis of such a claim is the pretension to sovereignty contained in SRV statements and legislation after 1975, which are inadequate to displace the title established by the PRC and China through exercise of sovereignty in the islands between the 1920s and that date.

    Conclusion

    The PRC claim to sovereignty over the Paracel Islands probably can be taken as proven by the evidence discussed above mainly on the basis of the relative strength of PRC claims over those made by the SRV, particularly before the most logical “critical date” of 1931.
    This conclusion does not rest on the claims of immemorial possession. The absence of clear evidence of acts à titre de souverain either by Vietnam or China in the medieval period undermines the value of documentary materials from before 1816 to either side in the territorial dispute. While Vietnam may have established a valid title through annexation in 1816 and through subsequent surveys, it would appear that France as the protecting power after 1884 may have presided over the lapse of any pre-existing Annamite title –by failing to protest or prevent the frequent exercise of sovereignty by China for a significant time and by expressly recognising Chinese sovereignty as late as 1929.
    Had France maintained a title, on behalf of Annam, from the 1830s to 1931, it is possible that such a title could probably now be claimed by the SRV as successor state to RVN, on the basis that the RVN maintained a claim to and a physical presence in the islands after the French withdrawal from Indochina until 1974. There is, however, considerable room to conclude that the DRV’s recognition of PRC sovereignty over the Paracel Islands in 1958 and its lack of protest to the claim between 1958 and 1975 create an estoppel in respect of the SRV claim to the Paracel Islands.

    The weight of evidence would appear to suggest that the claim of the People’s Republic of China to sovereignty of the Paracel Islands is stronger than that of the Socialist Republic of Vietnam.

    Greg Austin

    Phản hồi: 

    Để rộng đường dư luận, tôi xin mạn phép post lại dưới đây bài của độc giả Trúc Lê đưa lên Web Đàn Chim Việt đoạn ý kiến của Tiến sĩ Greg Austin về giá trị pháp lý của Công hàm PVĐ (bản dịch của Trúc Lê và bản gốc tiếng Anh)

    Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa đã bác bỏ (estopped) tuyên bố chủ quyền của Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam

    (trích cuốn “Biên Giới Đại Dương của Trung Quốc” của Greg Austin, trang 126-130)

    Những lý lẽ mạnh nhất do nước CHND TH (Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa – ghi chú của Trúc Lê) đưa ra để hỗ trợ cho những tuyên bố chủ quyền của họ trên quần đảo Hoàng Sa là các tuyên bố này đã được thừa nhận bởi quốc gia kế tục An Nam, nước VNDCCH (Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa – ghi chú của Trúc Lê), sau khi được độc lập đã lâu từ nước Pháp vào năm 1945. Nước CHND TH đã nêu ra những lý lẽ trên trong bức thư do Đại Diện Thường Trực của CHND TH gửi ông Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc ngày 23 tháng 11 năm 1980.[96] Bức thư khẳng định:
    Các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đã là lãnh thổ của Trung Quốc từ thuở xa xưa… Đây là một sự kiện mà phía Việt Nam, qua các tuyên bố và các công hàm của chính phủ, qua các báo chí và tập san và qua các bản đồ và sách giáo khoa, đã nhiều lần trịnh trọng lên tiếng thừa nhận và tôn trọng.[97]

    Nước CHND TH nêu ra một công hàm ngoại giao do ông Phạm Văn Đồng, Thủ Tướng nước VNDCCH, gửi cho CHND TH ủng hộ tuyên bố về lãnh hải của nước CHND TH vào năm 1958.[98] Công hàm của ông Phạm Văn Đồng không đặc biệt đề cập đến Quần đảo Hoàng Sa nhưng bởi vì bản tuyên bố của CHND TH có đề cập đến quần đảo này, CHND TH cho rằng việc thiếu sót của Việt Nam đã không phản kháng việc ghi quần đảo này như lãnh thổ của CHND TQ là một minh chứng rõ ràng là VNDCCH đã thừa nhận tuyên bố chủ quyền này của CHND TH.[99] Bức thư, trích dẫn công hàm của Việt Nam, đã nói rằng Việt Nam “thừa nhận và ủng hộ” bản tuyên bố và “tôn trọng quyết định này” của CHND TH.[100] Vào ngày 6 tháng 9 năm 1958, Nhân Dân, tờ nhật báo của Đảng Lao Động Việt Nam, đã đăng trang trọng lên trang đầu đầy đủ tất cả mọi chi tiết của bản tuyên bố của CHND TH mà không bình luận gì hết.[101] Tờ nhật báo này được xem như là ấn loát chính thức của chính quyền do sự lãnh đạo mạnh mẽ của Đảng Lao Động trên chính quyền.

    Ngày 9 tháng 5 năm 1965, chính phủ nước VNDCCH ra tuyên bố về việc phân chia các vùng giao tranh dọc duyên hải Việt Nam của Hoa Kỳ.[102] Tuyên bố này của VNDCCH đã diễn tả vùng giao chiến này là xâm phạm “vùng biển của nước Cộng Hòa Nhân Dân Trung Hoa tại Quần đảo Tây Sa của Trung Quốc”. Vào ngày 13 tháng 5 năm 1969, báo Nhân Dân tường thuật một vụ xâm phạm của phi cơ Hoa Kỳ trên “Đảo Yongxing và Đảo Đông thuộc Quần đảo Tây Sa của tỉnh Quảng Đông Trung Quốc”.[103] Nước CHND TH tuyên bố rằng nhiều bản tường thuật tương tự như thế đã được báo chí Việt Nam đưa ra.[104]

    Nước CHND TH cũng nêu ra các tuyên bố của một vị Thứ trưởng Ngoại giao và một công chức cao cấp trong Bộ Ngoại giao năm 1956 ủng hộ chủ quyền của CHND TH trên các Quần đảo Hoàng Sa (và Trường Sa).[105]
    Trong cuốn Bạch Thư 1979 của nước CHXHCN VN gửi kèm theo một bức thư cho ông Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc, sự thiếu vắng các hành động của VNDCCH và CHXHCN VN trong việc bảo vệ cái mục đích chủ quyền của Việt Nam là đáng kinh ngạc. Tất cả mọi hành động từ năm 1955 đến 1974 được nêu ra trong Bạch Thư đều do “nhà cầm quyền Sài Gòn” thực hiện. Tuyên bố minh bạch đầu tiên của VNDCCH và CHXHCN VN về chủ quyền trên Quần đảo Hoàng Sa chỉ xuất hiện vào tháng 6 năm 1976 cùng lúc với bản đồ chỉ rõ Hoàng Sa là lãnh thổ của VNDCCH.[106] Phản ứng chính thức của chính phủu VNDCCH đối với việc CHND TH dùng vũ lực chiếm quần đảo Hoàng Sa năm 1974 cũng chỉ giới hạn trong một thời gian dài vào một tuyên bố đưa ra khoảng độ một tháng sau trận đánh:
    …những tranh chấp lãnh thổ và biên giới phức tạp thường xảy ra giữa các nước láng giềng đòi hỏi sự thẩm xét thận trọng và cẩn mật. Các quốc gia liên hệ cần nên giải quết các tranh chấp như thế qua các thương thuyết và trong tinh thần láng giềng hữu nghị.[107]

    Trong tất cả mọi điều về bằng chứng do CHND TH đưa ra như là chứng cớ là VNDCCH đã thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc trên Quần đảo Hoàng Sa, bằng cớ có tính kết luận nhất có thể là cái công hàm của Thủ Tướng VNDCCH ủng hộ tuyên bố lãnh hải của CHND TH. Công hàm này là một văn kiện trao đổi từ một chính phủ gửi cho một chính phủ khác. Và chủ đề của công hàm là về chủ quyền lãnh thổ trên, gồm cả, Quần đảo Hoàng Sa; và nước VNDCCH không những đã không phản kháng chủ quyền do CHND TH đưa ra mà lại còn ủng hộ nó. Như đã đề cập trong Phụ lục I, vài tác giả cho rằng luật quốc tế rất rõ ràng về điểm nói rằng một khi mà một nước đã thừa nhận tư cách chủ quyền [của một nước khác] thì nước đó trong tương lai sẽ không còn được thụ lý trong việc tranh chấp về tính hợp pháp của chủ quyền của nước đó nữa. Như thế, chỉ qua hành động này thôi nước VNDCCH có thể đã bác bỏ (ét-tốp) bất cứ quyền nào của họ trong việc tranh chấp tư cách chủ quyền với CHND TH về các đảo này.

    Tuy nhiên CHND TH không cần nghỉ ngơi –và không nghỉ ngơi- trên hành vi bác bỏ (ét-tốp-pen) này. Một số những hành động khác của VNDCCH do CHND TH nại ra trên đây có thể được sử dụng như là bằng cớ thừa nhận của VNDCCH về tuyên bố chủ quyền của CHND TH.[109] Những hành động này gồm có việc xuất bản thường xuyên của các cơ quan chính quyền VNDCCH các bản đồ ghi rõ Quần đảo Hoàng Sa là lãnh thổ của CHND TH.[109] Mặc dù các bản đồ này không phải là bằng chứng bó buộc của sự thừa nhận của VNDCCH, tuy nhiên một cách hợp lý ta có thể xem chúng như là bằng cớ của một niềm xác tín trong chính phủ VNDCCH rằng Quần đảo Hoàng Sa là lãnh thổ của CHND TH.

    Quan trọng hơn nữa, việc VNDCCH không phản kháng sự chiếm đóng một phần hay toàn thể Quần đảo Hoàng Sa trong một thời gian 20 năm từ 1955 tới 1975 hầu như chắc chắn sẽ được diễn giải như là một sự thừa nhận.[110] Đáng lưu ý đặc biệt là sự thất bại của VNDCCH đã không lên tiếng phản đối việc CHND TH đã dùng vũ lực chiếm đóng Quần đảo Hoàng Sa vào đầu năm 1974 và sự thất bại sau đó của VNDCCH trong việc phản kháng việc chiếm giữ này cho đến khi các liên hệ chính trị đã suy sụp trầm trọng, làm cho tuyên bố chủ quyền của CHXHCN VN có vẻ như là một tuyên bố chính trị thay vì một tuyên bố pháp lý.

    Ý nghĩa pháp lý của việc thừa nhận của VNDCCH là như sau đây. Trong các trường hợp phân xét quyền sở hữu bất lợi về lãnh thổ, việc thừa nhận là điều cốt yếu trong tiến trình tậu được tư cách chủ quyền.[111] Các tuyên bố của CHXHCN VN về sự chiếm đóng Quần đảo Hoàng Sa của CHND TH là một sự sở hữu bất lợi như thế. Vậy mà trong suốt 20 năm chính phủ VNDCCH đã giữ im lặng. Trong hoàn cảnh của việc tranh chấp lãnh thổ này, thực không phải là không hợp lý nếu CHND TH lý luận rằng VNDCCH có nhiệm vụ phải phản kháng việc chiếm đóng nếu họ mong muốn giữ được bất cứ quyền nào tại đây.

    Câu trả lời duy nhất mà CHXHCN VN có thể nêu ra trước những phản bác như thế là một khi nhà cầm quyền Sài Gòn (nước VNCH) còn phản kháng và chống đối bằng hành động cụ thể trước việc chiếm đóng Quần đảo Hoàng Sa, thì không cần gì phải có thêm sự phản kháng và chống đối của VNDCCH nữa. Nước CHXHCN VN có thể lập luận rằng họ là quốc gia kế tục của VNCH, cho nên họ được thừa hưởng mọi quyền lợi của VNCH trong việc tranh chấp lãnh thổ với CHND TH. Tuy nước CHXHCN VN không nói rõ ra điều này nhưng trong các tuyên bố của họ đã rõ là có hàm ý điều đó. CHXHCN VN cũng lý luận rằng do hoàn cảnh cực kỳ khó khăn mà họ đã phải đối diện trong suốt cuộc nội chiến kéo dài họ bắt buộc phải tập trung toàn lực để đối phó với những vấn đề quan trọng hơn là việc về chủ quyền trên các đảo bị tranh chấp.[112]

    Tuy nhiên những phản biện này đã không đi vào vấn đề chính. Giá mà VNDCCH giữ im lặng, thì vấn đề có lẽ vẫn còn được bỏ ngỏ. Nhưng những bước chủ động do VNDCCH thực hiện để thừa nhận hoàn toàn mà không có chút ngần ngại lưỡng lự trước tuyên bố của CHND TH về chủ quyền lãnh hải trong đó có liệt kê Quần đảo Hoàng Sa như là lãnh thổ của CHND TH đã tạo cho CHND TH các căn cứ hợp lý để tin rằng VNDCCH đã không có cùng chủ quyền giống như VNCH đối các đảo này. Nếu VNDCCH giữ lại một chút kỳ vọng chủ quyền nào trên các đảo này, thì hầu như chắc chắn là họ bắt buộc phải đăng ký lập trường này khi họ nhận được lập trường chính thức trong bản tuyên bố chủ quyền của CHND TH. Sự thiếu vắng sau đó của phản kháng của VNDCCH/CHXHCNVN trong 20 năm đã nhân lên nhiều lần hiệu quả bất lợi cho CHXHCN VN trước sự thừa nhận của VNDCCH năm 1958.
    Hiệu quả pháp lý của sự bác bỏ quyền thụ lý này chỉ giới hạn vào các hành vi trước khi CHXHCN VN thay đổi chính sách và tuyên bố chủ quyền trên Quần đảo Hoàng Sa. CHXHCN VN hoàn toàn có tự do thay đổi chính sách và đăng ký tuyên bố chủ quyền, nhưng việc bị bác bỏ (ét-tốp) có nghĩa là, khi tuyên bố chủ quyền, CHXHCN VN chỉ được phép dựa vào những biến cố sau ngày thay đổi chính sách để hỗ trợ cho tuyên bố của mình. Cơ sở duy nhất cho tuyên bố chủ quyền này là kỳ vọng chủ quyền chứa đựng trong các tuyên bố và các bản văn lập pháp của CHXHCN VN sau năm 1975, không đủ sức mạnh để trục bỏ tư cách chủ quyền do CHND TH và nước Trung Hoa thành lập qua việc thực thi chủ quyền trên các đảo này giữa các năm 1920s và thời điểm này.

    Kết luận

    Tuyên bố chủ quyền của CHND TH trên Quần đảo Hoàng Sa có lẽ nên được xem như là đã được chứng minh bởi những bằng cớ trong thảo luận trên đây, chủ yếu là dựa vào cơ sở của sức mạnh tương đối của các tuyên bố chủ quyền của CHND TH so sánh với các tuyên bố của CHXNCN VN, đặc biệt là trước “thời điểm tới hạn” hợp lôgic nhất là năm 1931.

    Kết luận này không dựa vào các tuyên bố quyền sở hữu lâu đời. Sự thiếu sót bằng cớ rõ ràng về hành sử qua tư cách chủ quyền của cả hai phía Việt Nam hay Trung Quốc trong thời trung cổ đã làm hao mòn (yếu đi) giá trị của các tài liệu do hai bên trưng dẫn thuộc giai đoạn trước năm 1816. Trong khi Việt Nam có lẽ đã thành lập được tư cách chủ quyền hợp pháp qua việc sáp nhập vào năm 1816 và qua các cuộc thám sát theo sau, nhưng có vẻ là Pháp quốc, như là chính quyền bảo hộ sau 1884, đã ngự trị gây nên sự thất cách của tư cách pháp nhân của An Nam được thành lập trước đó- qua sự thất bại đã không phản kháng và ngăn cản việc hành sử chủ quyền thường xuyên của người Trung Hoa trong một khoảng thời gian đáng kể và qua sự thừa nhận chủ quyền của Trung Hoa trễ nhất là năm 1929.

    Giá mà nước Pháp giữ được tư cách chủ quyền, thay mặt cho An Nam, từ những năm 1830s tới 1931, thì có lẽ là tư cách này có thể được nước CHXHCN VN tuyên bố như là quốc gia kế tục của VNCH, trên cơ sở là VNCH đã giữ được khẳng định chủ quyền và sự hiện diện cụ thể trên các đảo này kể từ lúc Pháp rút ra khỏi Đông Dương cho đến năm 1974. Tuy nhiên, có nhiều căn bản đáng kể để kết luận rằng việc VNDCCH thừa nhận chủ quyền của CHND TH trên quần đảo Hoàng Sa vào năm 1958 và việc họ đã không phản kháng tuyên bố của Trung Quốc trong thời gian từ 1958 đến 1975 đã tạo ra một ét-tốp-pen (tức là bác bỏ quyền thụ lý tranh chấp – ghi chú của Trúc Lê) đối với tuyên bố chủ quyền của CHXHCN VN trên Quần đảo Hoàng Sa.

    Trọng lượng bằng chứng có vẻ cho thấy khẳng định chủ quyền của CHND TH trên Quần đảo Hoàng Sa là mạnh hơn của Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.

    Greg Austin

    (còn tiếp bản tiếng Anh)

    Phản hồi: 

    Bác Huy Đức và Khách Qua Đường gợi ý cho đương quyền Cộng sản Việt Nam hành sử với Tầu cộng đều bị kẹt! Nếu không muốn nói là "ket cứng"! Nếu tuyên bố "công hàm" của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng là vô giá trị vì Hòang Sa, Trường Sa lúc đó là của Việt Nam Cộng Hòa thì hóa ra nhà nước Cộng sản Việt Nam tự xác nhận là đã đánh chiếm Việt Nam Cộng Hòa phi pháp! Vì, về mặt pháp lý, cho đến bây giờ VNCH vẫn là chính phủ được Liên hiệp quốc công nhận! Do đó, chỉ có thể giải cứu bằng một chính phủ hòan tòan mới được bầu cử một cách dân chủ tự do tại VN và được quốc tế công nhận. Nhưng chế độ Cộng sản VN hiện tại thì thà mất đất, kể cả mất nước chứ nhứt định không chịu để mất Đảng!

    Phản hồi: 

    Vâng, những gì từ lâu mình định nói nhưng không có khả năng nói hết nay nhờ có Huy Đức những bức xúc của cá nhân và gia đình mình được giải tỏa một phần.
    -Nhân vô thập toàn (To err is human); Tốt nhất là đảng Cộng Sản Việt Nam hãy cùng hợp lực với giới trí thức và nhân dân khi giải quyết những vấn đề quốc gia đại sự. Mình chẳng biết tình hình đất nước ta rồi sẽ ra sao nhưng đọc xong bài của Huy Đức mình không sao cầm được nước mắt. Đây cũng là bài học xương máu cho những ai luôn cho mình là đỉnh cao của trí tuệ. Nhân dân phải là đối tượng được bảo vệ và phục vụ chứ không phải là công cụ của bất cứ phe nhóm nào. Hãy thú tội với nhân dân và cùng nhân dân làm tất cả những gì có thể để giữ yên bờ cõi.
    -Rất mong Huy Đức viết nhiều và nhiều hơn nữa

    Phản hồi: 

    “Báo chí chính thống của Việt Nam, từ năm 1958, chưa bao giờ nhắc lại “Công hàm” của Phạm Văn Đồng, chưa giải thích “nội hàm” của tuyên bố ấy. Chính quyền, đã tới lúc nên tuyên bố về giới hạn pháp lý của Công hàm này, nên thừa nhận bản hiệp định (Geneve) mà mình đã đặt bút ký vào theo đó, Hoàng Sa và Trường Sa từ trước 30-4-1975 là phần lãnh thổ thuộc về Chính quyền Sài Gòn, nên dẫu Hà Nội có đưa ra tuyên bố gì thì cũng phải bị coi là “vô giá trị”. Đây không còn là chuyện “ăn-thua” với người anh em miền Nam mà là “mất-còn” với ngoại xâm. Đây cũng là lúc mà người dân tạm gác các bức xúc thường nhật để tập trung vào mối đe dọa đến từ phương Bắc.” (Huy Đức)

    Tôi hoàn toàn đồng ý với tác giả Huy Đức về đề nghị trên đây. Từ trước năm 1975 dưới thời nước VNDCCH do ông Hồ lãnh đạo, cũng như dưới thời do ông Lê Duẫn lãnh đạo, và dĩ nhiên là sau ngày 30/4/1975, ĐCSVN và nhà nước CSVN luôn luôn tuyên bố trước toàn thế giới rằng VNDCCH là chính thể DUY NHẤT đại diện cho nhân dân VN trên TOÀN QUỐC (từ Bắc đến Nam), chính thể VNCH ở Miền Nam chỉ là NGỤY QUYỀN không có giá trị đại diện toàn dân VN ở Miền Nam, hiện do NGOẠI BANG Mỹ-Ngụy tạm chiếm.

    Vì thế, khi ông Hồ và Bộ Chính Trị Đảng Lao Động VN ra lệnh cho Thủ tướng Phạm Văn Đồng ký Công hàm ngày 14/9/1958 THỪA NHẬN Hoàng Sa, Trường Sa và Biển Đông thuộc TQ (như trong tuyên bố ngày 4/9/1958 của Quốc Vụ Viện TQ) là đã ký với TƯ CÁCH của một chính phủ đại diện cho TOÀN QUỐC (từ Ải Nam Quan đến mũi Cà Mâu) theo quan điểm của ông Hồ và ĐCSVN. Đây chính là điều chính quyền CSVN chưa bao giờ TỪ BỎ và trong mắt TQ, những điều VN đã thừa nhận trong Công hàm PVĐ là có giá trị pháp lý từ ngày ký (năm 1958) cho đến nay và mãi mãi về sau, vì chính thể CHXHCN VN hiện nay chỉ đơn giản là sự kéo dài của chính thể VNDCCH trước đây ở Miền Bắc.

    Do đó, cách duy nhất để giới hạn giá trị pháp lý của Công hàm PVĐ 1958 là một tuyên bố chính thức của Quốc Hội (hoặc tối thiểu là của Chính phủ) nước CHXHCN VN phủ nhận Công hàm này trên căn bản như tác giả Huy Đức đã nêu ra sau khi CHÍNH THỨC thừa nhận sự hợp pháp của chính thể Quốc gia (của Quốc trưởng Bảo Đại) và chính thể VNCH. Hoặc tốt hơn nữa là toàn dân VN trong nước tìm cách loại bỏ chính thể CHXHCN VN hiện nay và thay vào đó bằng một chính thể mới, không thừa nhận là kế thừa VNDCCH (hay CHXHCN VN) mà là kế thừa của Chính phủ Quốc gia của Quốc trưởng Bảo Đại năm 1946 và hai nền Cộng Hòa ở Miền Nam từ năm 1954 đến nay (hiện trên pháp lý vẫn chưa bị giải thể) là những chính thể luôn luôn nhất quán khẳng định chủ quyền của VN trên HS và TS.