Điều 88 bộ Luật Hình Sự: Công cụ chuyên dụng diệt trí thức Việt Nam (1)

  • Bởi Khách
    11/06/2011
    3 phản hồi

    Bằng Công<br />
    Minh Thái trình bày

    Bài này gồm 4 phần:

    Phần 1- Xác định khái niệm trí thức

    “Trí thức” là từ được sử dụng phổ biến, nhưng khái niệm rất không thống nhất; do vậy bài này trước hết cần xác định khái niệm “trí thức” mà nó nói tới;

    Phần 2- Thân phận trí thức dưới chế độ độc tài

    Chế độ độc tài ở thời đại này đều phải nguỵ trang bằng chiếc mặt nạ dân chủ, nhưng nó vẫn buộc phải coi trí thức là đối tượng cần bịt miệng trước hết – vì đây là lực lượng đủ khả năng vạch trần rất sớm, rất toàn diện và rất quyết liệt sự dối trá.

    Phần 3- Điều 88 Luật Hình Sự: Công cụ chuyên dụng diệt trí thức Việt Nam

    Nhưng, độc tài ở các nước nông nghiệp lạc hậu - do bản chất phong kiến – là tàn bạo nhất. Ở Việt Nam, nó dùng điều 88 Luật Hình Sự diệt mọi mầm mống trí thức.

    Phần 4- Điều 88 Luật Hình Sự: Nhất định phá sản

    Luật này đã bộc lộ những tử huyệt, sẽ ngày càng mất tác dụng, đi đến phá sản nếu trí thức biết “điểm trúng huyệt”

    Phần 1: Xác định khái niệm trí thức

    Các quan niệm về trí thức có phổ khá rộng. Có người nói Việt Nam còn hiếm trí thức, nhưng văn bản nhà nước lại nói Việt Nam đã có hàng triệu trí thức, khiến đảng phải ra nghị quyết xếp họ vào “đội ngũ” để họ nghe rõ lệnh. Đảng coi tốt nghiệp cao đẳng đã là trí thức, trong khi một tiến sĩ tự trọng lại chưa dám nhận mình là trí thức. Rắc rối thế!

    Do vậy, bài này cần làm rõ khái niệm trí thức. Tốt nhất là tìm nội hàm “gốc” của từ này. May mắn, google search đã cung cấp cả loạt bài trên báo chí công khai trong nước. Theo nguyên nghĩa, trí thức là những con người cao đẹp, nhưng trong một bài viết của mình, GS Chu Hảo lại nhận định khác đi, nếu trí thức bị gắn thêm cái đuôi… XHCN.

    Xã hội xưa chưa thể có trí thức

    Xã hội nào cũng có số ít người có trình độ cao hơn mặt bằng chung. Ở xã hội cổ xưa, vẫn có những người nhờ kinh nghiệm hoặc tự tìm tòi mà có hiểu biết hơn người khác. Tuy vậy, họ vẫn phải lao động chân tay vất vả như mọi người, vì khi đó của cải còn eo hẹp: Nếu không trực tiếp sản xuất là… đói ngay. Nhưng sẽ tới lúc xã hội nhận ra tầm quan trọng của lao động trí óc. Một ví dụ (tôi không nhớ đã đọc ở đâu): Khi một bộ lạc thôi cử một thanh niên vạm vỡ làm người đứng đầu mà thay bằng một ông già “hiểu biết và kinh nghiệm đầy mình” thì đó là bước thay đổi nhận thức rất ý nghĩa. Nhận thức mới về lao động trí óc khiến xã hội dám bỏ ra một nguồn của cải đủ để mở trường. Trường lớp ra đời khiến số lao động trí óc tăng lên thành một tầng lớp riêng. Nhờ vậy, công cụ thô sơ được thay dần bằng máy móc, khiến lao động chân tay từ dạng “hùng hục” chuyển thành dạng kỹ năng, cũng phải qua đào tạo mới có được.

    Rồi ngay trong lớp người lao động trí óc cũng có sự phân tầng: cao và thấp. Một nhà nghiên cứu và viên thư ký của ông ta đều là lao động trí óc nhưng thuộc 2 tầng khác nhau, có mức độ đóng góp khác nhau. Xã hội tìm ra những từ thích hợp để tôn vinh những người có đóng góp lớn, nhất là đóng góp qua sáng tạo: Nho sĩ, sĩ phu, nhà văn, văn hào, nghệ sĩ, bác học, học giả, trí giả, nhà khoa học, giáo sư, nhà thông thái… Và nói chung, họ được xã hội coi là người “có học” - nhưng đây chỉ là cách gọi mang tính quy ước và rất tương đối. Trước năm 1945, thầy giáo tiểu học ở nước ta đã được coi là “có học”. Tuy nhiên, dân ta hiểu rất rõ và rất thống nhất: Thế nào là người “có học” – không những về mặt chữ nghĩa, sự hiểu biết, mà cả tư cách, lối sống, ứng xử…

    Nhưng cả phương Đông và phương Tây, cho tới năm 1898, tuy số người “có học” đã khá đông đảo, nhưng vẫn chưa có ai là trí thức - bằng chứng là mọi cuốn từ điển lớn (như Larousse 1878 hay Đại từ điển Bách khoa 1902) vẫn chưa có mục từ trí thức.

    Văn hào Zola trở thành trí thức

    Nhà văn Zola (1840-1902) cả đời say mê sáng tác thì không có gì lạ, nhưng rắc rối là ông cứ bỏ công sức “xía vô” những chuyện chẳng liên quan gì tới văn chương.

    Một ví dụ: Ngày 13-1-1898 ông đăng trên báo L'Aurore một thư ngỏ gửi tổng thống, phản đối quyết liệt một bản án bất công. Nhan đề bức thư: Tôi kết tội - do ông chủ báo đặt – làm ngọn lửa dư luận bùng cháy dữ dội khiến tờ báo phải tăng số ấn bản gấp 10 lần. Hôm sau, báo này lại đổ thêm dầu bằng cách đăng tiếp một bản kháng nghị vẫn của Zola, nhưng tiếp sau là danh tính của một loạt nhà văn, nhà khoa học nổi tiếng thời đó. Tên của nó: Manifeste Des Intellectuels, cũng do toà báo đặt, nay đã đi vào lịch sử.

    Intellectuel vốn là tính từ, nhưng tiến sĩ vật lý Clemenceau, chủ báo, vị thủ tướng tương lai, cứ sử dụng như danh từ, khiến các cụ ta dịch sang tiếng Việt cũng thành danh từ: Tuyên ngôn của các trí thức. Tiếng Trung Quốc không có từ “trí thức”, mà do các nhà học giả Việt Nam đưa ra.

    - Nếu vậy, xin bái phục thế hệ cha ông đã sáng tạo một từ mới, rất sát nghĩa, và bản thân các cụ cũng hành xử đúng theo nội hàm của từ này. Đó là thế hệ Phan Chu Trinh, Phạm Quỳnh, Nguyễn Văn Vĩnh, Phan Khôi…, tiếp đó là Vũ Đình Hoè, Tôn Thất Tùng, Nguyễn Văn Huyên… - thế hệ vàng, theo nhà sử học Dương Trung Quốc.

    - Theo gót các vị, nửa thế kỷ trước các nhà văn, nhà khoa học nước ta cũng ra một “Tuyên Ngôn” (đại ý: Chính trị chớ xía vô chuyên môn). Đó là thế hệ trí thức kế tiếp (Trần Dần, Lê Đạt, Phùng Quán, Nguyễn Mạnh Tường, Trần Đức Thảo…).

    - Tuyên Ngôn gần đây là của nhóm Nguyễn Huệ Chi, Phạm Toàn, Nguyễn Thế Hùng được nhiều trí thức khác hưởng ứng... Và, liệu có thể coi “đơn tự thú” của sinh viên Nguyễn Anh Tuấn là khởi đầu một tuyên ngôn mới của trí thức trẻ?.

    Nội hàm gốc

    Hành vi chống bất công của Zola đã làm nảy sinh một từ mới, trước 1898 chưa hề có: trí thức, mà bản thân Zola là một hình mẫu: nhạy cảm với bất công; tôn thờ chân lý, công lý, công bằng và dám phản biện…
    Như vậy, nội hàm gốc của từ trí thức gồm hai phần (điều kiện Cần và Đủ):

    1) Đó là người “có học”, lao động trí óc, dẫu có sáng tạo thì mục đích chủ yếu vẫn chỉ là kiếm sống cho bản thân.

    2) Đó là người phê phán - bằng lập luận chặt chẽ, xây dựng và không vụ lợi - những bất công, bất cập trong xã hội. Như vậy, mục đích duy nhất là để xã hội tốt đẹp hơn.

    Biết chọn trúng những vấn đề cần phê phán để phê phán nói lên tầm vóc người trí thức.

    “Trí thức” quả là một từ đầy sáng tạo của cha ông ta. Vừa phải có “trí” tức năng lực tư duy, lại vừa phải “thức” để bản thân không bị mê hoặc, mà còn làm tỉnh ngộ mọi người.

    GS Chu Hảo nói: Không có tư duy phản biện, không phải trí thức; GS Phạm Song nói: Trí thức thì không được hèn; có vị còn coi phản biện xã hội là thiên chức của trí thức… Ấy là họ nhấn mạnh phần thứ hai - điều phải có để một người “có học” thành trí thức.

    Nội hàm của từ trí thức giúp ta dễ hiểu vì sao trí thức luôn luôn nhạy cảm với bất công, áp bức. Lương tâm và sự tỉnh thức buộc trí thức phải phát ngôn – và đó là cách phản kháng duy nhất và đặc trưng nhất của trí thức. Cấm đoán tự do ngôn luận là cách trắng trợn nhất chống lại trí thức. Nếu lại dùng cả đến Luật (điều 88) thì sự đàn áp trí thức đã rất trắng trợn. Nếu lại đưa điều 88 vào Luật Hình Sự thì đó sự tàn bạo. Nếu điều luật này được áp dụng một cách độc đoán trong phiên toà xử trí thức, thì sự tàn bạo đã ở mức thách thức lương tri dân tộc.

    Do vậy lên tiếng phản đối bất công, trí thức lâm vào vị thế “tay không đối diện với cường quyền”. Nếu vậy thì câu “trí thức là phải dấn thân”, hoặc “thái độ trí thức là thước đo mức tự do và công bằng xã hội”… chẳng có gì khó hiểu.

    Điều kiện ra đời của trí thức

    - Thời phong kiến, ba quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp đều trong tay vua. Do vậy, vua có cả giang sơn và nắm giữ sinh mạng toàn dân. Vua cho ai sống, được sống; vua bắt ai chết, phải chết. Quân xử thần tử, thần bất tử, bất trung là câu trong sách thánh hiền; nghĩa là: Vua xử bề tôi chết, bề tôi không chết là bất trung. Nhưng “bất trung” lại là tội lớn nhất – tức tội… chết. Rốt cuộc, không thể thoát chết khi vua đã xử chết.

    - Thuở ấy, hai ông ngang tài (ví dụ, Lưu Bang, Hạng Võ) xông vào nhau để giành ba quyền, nếu ai thắng, được gọi là vua, có quyền viết lịch sử để gọi kẻ thua là “giặc” hay “ngụy”. Vài ví dụ: xa xưa, sứ quân Đinh Bộ Lĩnh có quyền gọi 11 vị sứ quân khác là “giặc”; thời cận đại, Gia Long gọi Tây Sơn là “ngụy”; thời hiện đại, liệu đã hết chưa; cần tìm hiểu thêm. Nhưng nếu một đội quân lại phải thề trung với vua – nay là đảng - thay vì trung với nước, thì lời hoa mỹ nào cũng không che dấu được đó là quân đội của chế độ phong kiến trá hình.

    - Thời phong kiến tất nhiên cũng có một tầng lớp có học vấn cao. Ở nước ta, họ được gọi là nho sĩ, nếu ai có thêm những phẩm chất cao quý (liêm chính, thẳng thắn, vô tư…) thì được tôn là sĩ phu… Sĩ phu, dù cương trực đến đâu, một khi đã nhận quan tước cũng chớ dại mà “phản biện” vua - sẽ mất đầu ngay. Bạo gan nhất là dám (lễ phép) can vua; can không được thì phải tạ lỗi ngay. Nếu thấy vua còn giận thì phải kịp xin về quê yên phận, tránh hoạ.

    Tóm lại, xã hội phong kiến chưa thể đủ điều kiện để trí thức ra đời.

    - Trí thức chỉ có thể xuất hiện khi xã hội đã có dân chủ, hiến pháp đã quy định sự phân lập của ba quyền; báo chí và xuất bản đã được tự do (để trí thức, ví dụ Karl Marx, có nơi lên tiếng); quyền ngôn luận đã được xác lập (để trí thức có thể phát ngôn mà không lo bị đàn áp)… Về nguyên tắc thì thế, nhưng thực tế sự ra đời của tầng lớp trí thức châu Âu ở thế kỷ trước cũng khá trầy trật, sự hy sinh của bản thân không nhỏ và thân phận nhiều người cũng chẳng ít lênh đênh. Điều này có nguyên nhân.

    Thân phận ba chìm bảy nổi

    Trí thức chẳng có quyền lực gì trong tay. Khốn nỗi, nhờ hiểu biết và tìm tòi, họ dễ nhìn ra những bất công và bất cập trong xã hội. Trăn trở, bức xúc, khiến họ phải lên tiếng. Dù lên tiếng nhẹ nhàng, họ vẫn làm phật ý giới bảo thủ đang nắm quyền lực – vì không nhiều thì ít, giới này phải chịu trách nhiệm - huống hồ lên tiếng một cách gay gắt càng làm cho bọn này điên tiết. Do vậy, khi chế độ phong kiến bị thay thế chưa lâu bằng chế độ tư bản còn sơ khai; vương quyền vừa mới bị thay thế bằng nền cộng hoà còn non trẻ, trí thức vẫn phải dũng cảm và dấn thân mới có được tiếng nói trong xã hội. Đó chính là trường hợp Zola.

    - Năm 1898 (năm khai sinh cái từ “trí thức”), nước Pháp đã có hiến pháp dân chủ, ba quyền đã phân lập, báo chí đã tự do… nhưng các thế lực bảo thủ, phản tiến bộ vẫn rất mạnh, có mặt cả trong nghị viện và chính quyền; riêng toà án thì giới quân sự độc chiếm. Phe tả và hữu đấu tranh ở mọi nơi, mọi lúc kể cả trên mặt trận dư luận… Do vậy, không đủ dũng cảm làm sao trở thành trí thức?

    Một ví dụ: Giới nhà báo phe hữu đã vu cáo - với những từ miệt thị - khi họ phê phán bức thư và bản kháng nghị của Zola, tạo cớ để toà án xử tù và phạt tiền ông (tội vu khống). Ví dụ khác: đa số dân Pháp, do chủ nghĩa dân tộc còn nặng nề, vẫn kỳ thị viên đại uý Do Thái (nạn nhân vụ án), vẫn ủng hộ sự xâm lăng thuộc địa (tôn vinh các vị tướng trong đội quân cướp nước). Do đó, niềm tin mù quáng đã ủng hộ không nhỏ cho bản án. Ngay khi bản án đã buộc phải sửa, nạn nhân đã được minh oan, nhưng cái chết của Zola vẫn bị nghi vấn là do phe hữu ám sát.

    Karl Marx (1818-1883) và Émile Zola (1840-1902)

    Cách nhau 22 tuổi, nhưng đều thọ trên 60 năm, do vậy hai danh nhân này có thời gian 40 năm cùng tồn tại. Tuy nhiên, trong khối ấn phẩm đồ sộ của mỗi người, họ không một lần nào nhắc đến tên nhau, hay nói vài lời về nhau. Việc ai nấy làm, mỗi người theo đuổi mục tiêu riêng của đời mình.

    Marx nhận ra sự tàn bạo của chế độ tư bản thời kỳ nó còn sơ khai (hoang dã, rừng rú) và ông muốn diệt nó càng sớm càng tốt (trận cuối cùng). Đó là thiện chí. Ông công bố bản án tử hình cho chế độ tư bản năm 1848 cũng bằng một Tuyên Ngôn (Tuyên Ngôn CS), khi Zola mới có 8 tuổi, nhưng chắc chắn Zola biết tới tuyên ngôn này khi đã trưởng thành – vì Marx nhiều lần cho in lại Tuyên Ngôn của mình bằng nhiều thứ tiếng. Nhưng Zola chọn cách khác, thiết thực hơn.

    Làm sao diệt nổi một chế độ ra đời đúng quy luật, khi nó còn đang phát triển và hàng trăm năm sau vẫn chưa phát triển tới đỉnh cao - mà quy luật dành cho nó? Đó là ảo tưởng. Marx công khai và trực tiếp chĩa mũi nhọn vào chế độ tư bản, công khai nhận mình là kẻ thù số 1 của chế độ này. Dẫu vậy, chế độ tư bản đối xử lại, mức tàn tệ nhất chỉ là trục xuất, và Marx lại được một nước tư bản khác chấp nhận cho cư trú cả gia đình. Mọi tác phẩm của Marx đều được in ra, chẳng thiếu một trang – theo đúng Luật về tự do xuất bản. Marx có thể nói đủ những gì mình thù hận chế độ tư bản, kết tội nó, tiên đoán nó sẽ chết yểu… vậy mà không ai dám kiểm duyệt và cắt xén nửa chữ - theo đúng Luật về quyền tự do ngôn luận. Không những thế, Marx còn lập đảng, lập cả Quốc tế CS, nhúng tay vào cuộc bạo loạn ở Pháp (Công xã Paris…

    Chỉ cần thời xưa, Marx bị đối xử khắt khe bằng 1/10 hoặc 1/100 cách đối xử của đảng CSVN với nhà trí thức Cù Huy Hà Vũ, liệu Marx có kịp sống đủ tuổi trời mà công bố tác phẩm, đặng leo lên bàn thờ của đảng CSVN hay không?

    Còn Zola, ông không chống chế độ tư bản (đang lên), mà chống những tiêu cực cụ thể xuất hiện trong chế độ này để xã hội tư bản tốt dần lên. Như vậy, thiết thực hơn. Càng chống kiểu Zola, chế độ tư bản càng hoàn thiện, vững vàng, cho tới khi nó hết sứ mệnh.

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    3 phản hồi

    Hương Giang viết:
    Tôi và mọi người vẫn hiểu người có học tức là trí thức rồi. Theo tôi, đây là cách hiểu thông thường, chưa chặt chẽ, nhưng được dùng rất phổ biến.
    Theo tác giả bài này (Băng Công) thì nghĩa xuất phát của "trí thức" phải là:
    CÓ HỌC + DÁM PHẢN BIỆN = TRÍ THỨC.

    Nếu vậy, tôi mong VN có thêm nhiều trí thức như các cụ Trần Độ, Nguyễn Thanh Giang, Phạm Quế Dương... các ông Trần Mạnh Hảo, Nguyễn Trọng Tạo, Phạm Viết Đào, Võ Thị Hảo, Cù Huy Hà Vũ, Lê Công Định, Lê Trần Luật... vân vân

    Điều 88 chưa đụng chạm tới "người có học", nhưng nó đe dọa những người này lăm le trở thành trí thức. Và nó sẽ thẳng tay bỏ tù trí thức.

    Câu hỏi: Tác giả Băng Công có phải trí thức chưa? khi mà ông/bà này vẫn dùng bút danh mà chưa công khai danh tính?
    Dẫu sao, vẫn xin cảm ơn về bài viết này.

    Nguyễn Phú Trọng, Trương Hòa Bình là người có học (có bằng cấp ?). Vậy họ có phải là người trí thức không ?

    Trích dẫn:
    http://vi.wikipedia.org/wiki/Tr%C6%B0%C6%A1ng_H%C3%B2a_B%C3%ACnh
    Theo danh sách ứng cử Đại biểu Quốc hội khóa XII, trình độ học lực của ông là Cử nhân Luật, Thạc sĩ Khoa học lịch sử, Cử nhân Công trình Thủy lợi. Theo trang web của Quốc hội Việt Nam thì trình độ học lực của ông là Tiến sĩ Luật học, Cao học khoa học lịch sử, Đại học Bách khoa (khoa Công trình Thủy lợi)

    Tôi và mọi người vẫn hiểu người có học tức là trí thức rồi. Theo tôi, đây là cách hiểu thông thường, chưa chặt chẽ, nhưng được dùng rất phổ biến.
    Theo tác giả bài này (Băng Công) thì nghĩa xuất phát của "trí thức" phải là:
    CÓ HỌC + DÁM PHẢN BIỆN = TRÍ THỨC.

    Nếu vậy, tôi mong VN có thêm nhiều trí thức như các cụ Trần Độ, Nguyễn Thanh Giang, Phạm Quế Dương... các ông Trần Mạnh Hảo, Nguyễn Trọng Tạo, Phạm Viết Đào, Võ Thị Hảo, Cù Huy Hà Vũ, Lê Công Định, Lê Trần Luật... vân vân

    Điều 88 chưa đụng chạm tới "người có học", nhưng nó đe dọa những người này lăm le trở thành trí thức. Và nó sẽ thẳng tay bỏ tù trí thức.

    Câu hỏi: Tác giả Băng Công có phải trí thức chưa? khi mà ông/bà này vẫn dùng bút danh mà chưa công khai danh tính?
    Dẫu sao, vẫn xin cảm ơn về bài viết này.

    Hiểu một cách chặt chẽ, nguyên bản, thì trí thức là người có học + dám phản biện xã hội. Chính vế thứ hai khiến cho trí thức bị đám độc tài kỳ thị.

    Hiểu như vậy có đúng ý tác giả không?
    Mong VN ngày càng nhiều trí thức.