Nguyễn Hưng Quốc - Những con đường dẫn đến dân chủ

  • Bởi Admin
    12/05/2011
    6 phản hồi

    Nguyễn Hưng Quốc

    Một trong những đặc điểm nổi bật nhất của dân chủ là sự tôn trọng tính đa dạng. Bởi vậy, bản thân dân chủ cũng hết sức đa dạng. Nó không có một hình mẫu duy nhất và cố định. Từ nền dân chủ Mỹ đến nền dân chủ ở Anh hay ở Pháp hay ở bất cứ quốc gia châu Âu nào cũng có vô số biến thái. Những biến thái ấy thể hiện rõ rệt trong các cách tiếp cận của giới học giả về vấn đề dân chủ.

    Ở thập niên 1960, phần lớn các nhà nghiên cứu đều gắn liền quá trình dân chủ hóa với sự phát triển của kinh tế và xu hướng hiện đại hóa trong xã hội. Theo Thomas A. Sanction, các tiền đề dẫn đến dân chủ bao gồm: “sự phát triển tương đối cao về kinh tế, một tầng lớp trung lưu khá mạnh, một truyền thống khoan dung và tôn trọng cá nhân, sự có mặt của các nhóm xã hội và thiết chế độc lập, một nền kinh tế theo định hướng thị trường, và sự hiện diện của những phần tử ưu tú sẵn sàng từ bỏ quyền lực” (1).

    Không phải ai cũng đồng ý với luận điểm do Thomas A. Sanction tóm tắt. Căn cứ vào kinh nghiệm của nhiều quốc gia ở châu Mỹ La tinh, nơi sự phát triển kinh tế chỉ dẫn đến việc hình thành các chế độ độc tài kiểu mới, người ta cho con đường dân chủ hóa gắn liền với rất nhiều yếu tố khác, ngoài việc phát triển kinh tế và hiện đại hóa. Các yếu tố ấy là gì? Theo Robert A. Dahl (trong cuốn Polyarchy: Participation and Opposition, 1971 và cuốn Democracy and its Critics, 1989) và Larry Diamond (trong bộ Democracy in Developing Countries, biên tập chung với nhiều người khác, 1988-9), các yếu tố ấy bao gồm: kinh nghiệm lịch sử, cấu trúc xã hội, trình độ kinh tế, văn hóa chính trị, giới lãnh đạo và một số tác động từ bên ngoài. Larry Diamond, về sau, tiếp tục duy trì quan điểm ấy nhưng càng ngày càng tin chắc là sự phát triển đóng vai trò quan trọng trong quá trình dân chủ hóa: hầu hết các nước dân chủ cao trên thế giới đều có chỉ số phát triển con người (Human Development Index) cao. Theo Raymond Gastil (trong bài ‘The past, present, and future of democracy’ đăng trên tạp chí Journal of International Affairs số 38 năm 1985), quá trình dân chủ hóa chịu ảnh hưởng của việc truyền bá ý thức về dân chủ hơn là các điều kiện kinh tế xã hội. Còn Guillermo O’Donnell và Philippe C. Schimitter (trong cuốn Transitions from Authoritarian Rule: Tentative Conclusions about Uncertain Democracies, 1986) thì lại tập trung vào vai trò chủ chốt của giới lãnh đạo trong giai đoạn chuyển tiếp từ độc tài sang dân chủ. (2)

    Samuel P. Huntington, trong nhiều tác phẩm khác nhau, thường nhấn mạnh:

    (a) không có một yếu tố duy nhất nào có thể giải thích được quá trình dân chủ hóa trong một nước cũng như trong phạm vi toàn thế giới;

    (b) trên thực tế, quá trình dân chủ hóa bao giờ cũng là kết quả của nhiều yếu tố khác nhau;

    (c) những yếu tố ấy thường thay đổi từ quốc gia này đến quốc gia khác; và

    (d) những yếu tố ấy cũng thay đổi theo từng làn sóng dân chủ hóa (theo ông, cho đến cuối thế kỷ 20, nhân loại đã trải qua ba làn sóng dân chủ hóa như thế: từ thập niên 1820 đến 1926; từ sau Đệ nhị Thế chiến đến đầu thập niên 1960; và từ năm 1974 đến đầu thập niên 1990).

    Dựa trên kinh nghiệm của làn sóng dân chủ lần thứ ba (kết thúc bằng sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Nga và Đông Âu), Huntington rút ra năm yếu tố chính tác động đến quá trình chuyển tiếp từ độc tài sang dân chủ:

    • Các chế độ độc tài mất dần tính hợp pháp do sự phổ cập các giá trị dân chủ và do sự thất bại của họ trong lãnh vực kinh tế cũng như (ít hơn) quân sự.
    • Sự phát triển vượt bậc về kinh tế trên phạm vi toàn cầu dẫn đến việc nâng cao mức sống cũng như giáo dục, mở rộng tầng lớp trung lưu thành thị ở nhiều quốc gia trên thế giới.
    • Sự chuyển hướng trong chính sách của Giáo hội Công giáo từ việc bảo vệ nguyên trạng chính trị của các chế độ độc tài sang việc ủng hộ các phòng trào đối kháng.
    • Sự thay đổi chính sách đối ngoại của nhiều quốc gia, đặc biệt của Mỹ, Liên Hiệp Âu Châu và Liên Xô.
    • Hiệu ứng “quả bóng tuyết” (snowballing): ảnh hưởng của dân chủ từ nước này đến nước khác. (3)

    Hiện nay, người ta hay nói đến làn sóng dân chủ thứ tư mở đầu bằng các cuộc nổi dậy đấu tranh giành tự do ở các nước Ả Rập, đặc biệt tại các quốc gia: Tunisia, Ai Cập, Yemen, Libya, Syria, Jordan, v.v... Ở một số nơi, cuộc cách mạng coi như đã hoàn tất giai đoạn sơ khởi (lật đổ chế độ độc tài); ở một số nơi khác, cuộc đấu tranh còn tiếp tục với khả năng kéo dài và đẫm máu. Tuy nhiên ở mọi nơi rõ ràng là dân chúng đã đứng dậy và quyết tâm tranh đấu cho quyền làm người vốn bị tước đoạt từ lâu của mình.

    Thành thực mà nói, chưa thể khẳng định các biến cố ở Trung Đông và châu Phi mấy tháng gần đây là làn sóng dân chủ thứ tư. “Dân chủ”? Người ta còn phải chờ, ngay cả tại Tunisia và Ai Cập, nơi các nhà độc tài đã bị hạ bệ. Nhưng còn “làn sóng”? Thì đúng là có làn sóng thật. Ít nhất cũng là làn sóng xuống đường đấu tranh của quần chúng. Làn sóng của cách mạng.

    Yếu tố gì đã tạo thành các làn sóng đó?

    Ít nhất cũng có ba yếu tố trong số năm yếu tố dẫn trên của Huntington vẫn còn nguyên giá trị: một, sự sụp đổ của tính hợp pháp của các chế độ độc tài; hai, sự phát triển của tầng lớp trung lưu thành thị vốn càng ngày càng thấu hiểu giá trị của tự do; và ba, hiệu ứng “quả bóng tuyết” từ nước này lan sang nước khác.

    Có thể thêm một yếu tố mới: vai trò của các kỹ thuật truyền thông hiện đại như email, facebook, twitter... khiến người ta có thể dễ dàng liên lạc, chuyển tải tin tức cho nhau, từ đó, nhanh chóng tập hợp lực lượng và vận động sự ủng hộ của thế giới buộc các tên bạo chúa phải ngại ngần trong việc sử dụng bạo lực để đàn áp dân chúng.

    Trong các yếu tố kể trên, những yếu tố nào đã hiện hữu ở Việt Nam rồi nhỉ?

    ________________________

    Chú thích:

    [1] Tatu Vanhanen (1997), Prospects of Democracy: A Study of 172 Countries, London: Routledge, tr. 11.

    [2] Xem Tatu Vanhanen (1997), sđd, tr. 10-26.

    [3] Samuel P. Huntington, “Democracy’s Third Wave”, in trong cuốn The Global Resurgence of Democracy do Larry Diamond và Marc F. Platter biên tập, nxb The John Hopkins University Press, 1996, tr. 3-25.

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    6 phản hồi

    Chào bác Trương Đình Trung,

    Bác làm tiên phong, đi từng bước cụ thể vào từng vấn đề xã hội để cho thấy tương quan dân chủ, kinh tế, xã hội, luật pháp như thế nào .

    Cái nào nên xây dựng trước, việc gì nên tiến hành song song .

    Nếu cụ thể hóa thành từng việc nhỏ cho VN, thành một hệ thống, sẽ dễ hiểu, gần gũi và lôi cuốn người dân bình thường hơn

    Thưa quý vị,

    Trong những năm qua việc hô hào và tham luận về Dân Chủ thì nhiều lắm, nhưng một đặc điểm tiêu biểu của những thảo luận đó là chung chung, trừu tượng, có vẻ hàn lâm, nặng về trích dẩn; đặc biệt là trích dẩn các tác giả Tây Phương, hơn là những tìm hiểu cụ thể, mạch lạc và có hệ thống.Một số không ít các bậc thức giả vẫn còn mang bệnh phô trương kiến thức, mà ít chú trọng đến việc đi sâu phân tích những vấn đề thực tiển, cần thiết để khởi phát quá trình dân chủ hoá cho Quê hương.

    Một trong những vấn đề thực tiễn vẫn thường được hô hào là vấn đề Dân Chủ-Đa Nguyên, nhưng chưa thấy ai đề cập nghiêm chỉnh thế nào là Đa Nguyên? Nguyên nào? Thành hình ra sao? Cơ sở kinh tế-xã hội của các Nguyên là như thế nào? Nếu nói Đa Nguyên là Đa đảng, vậy thì Chính đảng là gì? Và liệu rằng điều kiện kinh tế-xã hội hiện nay của VN hiện nay đã chín mùi cho sự hình thành các chính đảng?

    Mặt khác nói đến Dân Chủ thì không thể không nói đến Luật Pháp. Ai cũng mơ hồ cảm thấy có một mối tương quan rất quan trọng giữa hai lãnh vực đó, nhưng nổ lực để thảo luận mối tương quan đó thì dường như chưa có nhiều.

    Mọi người có vẻ chú ý nhiều đến yếu tố phát triển kinh tế của nền Dân Chủ. Có lẽ là vì hệ thống truyền thông Tây Phương đã không ngớt gắn chặt nền kinh tế thị trường và toàn cầu hoá với DC chăng? Thiết nghĩ chúng ta nên thận trọng đối với khía cạnh này. Bởi vì một cách căn bản, DC là một vấn đề nội bộ của từng quốc gia, từng dân tộc. Việc quốc tế hoá DC, về thực chất, mang lại lợi ích cho các cường quốc hơn là cho các nước đang phát triển. Cũng một thể như tinh thần quốc tế vô sản chỉ có lợi cho Kremlin hơn là cho Hà Nội hay cho Vientiane vậy. Bằng chứng của điều vừa nói là trường hợp của Ấn Độ và Trung Quốc. So ra thì Ấn Độ hiện còn nghèo, trước đây còn nghèo hơn nữa, nhưng dân Ấn đã có chế độ DC từ lâu. Trong khi đó TQ đang có nền kinh tế đứng hàng thứ hai trên thế giới, nhưng lại chưa có nnề DC đúng nghĩa.

    Một mối tương quan quan trọng khác cũng ít được đi sâu phân tích; đó là mối tương quan Văn hoá-Dân Chủ. Vắn tắt thì chính yếu tố Văn hoá đã tạo nên những khác biệt nổi bật giữa các nền DC trên thế giới; đặc biệt là giữa Đông và Tây. Một ví dụ có liên quan đến yếu tố Văn hoá trong DC là quan điểm về vai trò của chính qưyền(government).Văn hoá Đông phương tôn trọng và đề cao vai trò của chính quyền, vì vậy trong con mắt của người dân thì việc kính trọng các viên chức chính phủ là điều đương nhiên. Trong khi đó Tây phương, như người Mỹ chẳng hạn, thì khác. Do nghĩ rằng quyền lực làm băng hoại mọi sự (Power corrupts) nên người Mỹ luôn nghi ngờ chính quyền và luôn tìm cách kìm hảm không trao cho nó nhiều quyền. Vì vậy họ lập ra nguyên tắc Check and Balance dùng để tam quyền không những chỉ phân lập mà còn kiểm soát lẫn nhau.

    Một nét khác trong Văn hoá cũng ảnh hưởng mạnh đến việc hình thành DC; đó là tính chất Cộng Đồng và tính cách Cá nhân. Văn hoá Trung Hoa và VN là văn hoá Cộng Đồng; đề cao lợi ích chung trên lợi ích cá nhân. Trong khi đó văn hoá Âu-Mỹ đề cao Cá nhân. Đây là nguyên nhân không nhỏ sự khác biệt giữa nền DC Mỹ và DC Nhật Bản. Mặt khác, tính chất Cộng Đồng còn dẩn đến hệ quả là người ta rất khó thỏa hiệp với nhau, bởi vì đề cao Cộng đồng gần đồng nghĩa với tính tuyệt đối trong mọi lưạ chọn, một loại zero-sum game, như người Mỹ hay nói. Và đó là một khuyết điểm đối với việc xây dựng DC. Văn hoá đề cao Cá nhân của Âu-Mỹ thì khác, sự thoả hiệp là một thói quen, và vì vậy họ thiên về win-win game hơn. Và đó là ưu điểm trong việc xây dựng DC. Và cũng chính phần nào do tính cách ấy mà chủ trương Đấu Tranh Giai cấp Không Khoan nhượng không được ưa chuộng ở Âu-Mỹ như đã được chấp nhận dễ dàng ở TQ và VN.

    Ngoài những yếu tố trên, còn có những yếu tố khác không kém quan trọng đối với việc hình thành nền DC. Đó là các yếu tố: Lịch sử, Địa lý, Chủng tộc và Ngôn ngữ. Quan trọng nhất trong đó là yếu tố địa lý.Bởi vì yếu tố địa lý sẽ quyết định phương thức quốc phòng-an ninh của một quốc gia, và quy định mối tương quan của một nước với các quốc gia bên cạnh về các mặt giao thương văn hoá-kinh tế.

    Tóm lại,những yếu tố và tương quan trên đây là rất căn bản khi bàn về DC. Ước mong sao các bậc thức giả quan tâm đi sâu phân tích các yếu tố đó và mối tương quan với nền DC, và vận dụng vào thực tế VN, để chúng ta có được những tham luận sâu sắc và bổ ích hơn khi bàn về DC cho VN.

    Trân trọng kính chào.

    Tác giả hỏi :

    Trích dẫn:
    Trong các yếu tố kể trên, những yếu tố nào đã hiện hữu ở Việt Nam rồi nhỉ?

    Ta thử xét từng yếu tố một
    1. Theo tác giả là :

    Trích dẫn:
    Các chế độ độc tài mất dần tính hợp pháp do sự phổ cập các giá trị dân chủ và do sự thất bại của họ trong lãnh vực kinh tế cũng như (ít hơn) quân sự.

    Ở VN , ngày càng nhiều các thảo luận về nguyên nhân sự sụp đổ của Liên xô và phe XHCN . Ngay chính nguyên CT Quốc hội Nguyễn Văn An đã khẳng định đại ý là do " lỗi hệ thống". Chủ nghĩa Mác -Lênin hiện rõ chỉ là một chủ nghĩa độc hại . Sự độc tài của ĐCS VN dựa trên đấu tranh giai cấp và chuyên chính vô sản đã ngày càng rõ rệt. Sự phổ cập các giá trị dân chủ qua internet đã thấu đến tiềm thức của người VN .
    Như vậy đã xuất hiện điều kiện này ở VN. Chỉ còn câu hỏi là mức độ của nó đã đủ kích động người dân đấu tranh chưa ?

    2. "Sự phát triển vượt bậc về kinh tế trên phạm vi toàn cầu dẫn đến việc nâng cao mức sống cũng như giáo dục, mở rộng tầng lớp trung lưu thành thị ở nhiều quốc gia trên thế giới."
    Ở VN tuy tầng lớp những người mới giầu có nổi lên khá nhanh , nhưng một phần trong họ có sự gắn chặt quyền lợi với chính quyền cộng sản .Do xã hội giầu lên , mức sống nâng cao , sự tiếp xúc với dân chủ , tự do dễ dàng hơn .Điều kiện này đã có ở VN .

    3."Sự chuyển hướng trong chính sách của Giáo hội Công giáo từ việc bảo vệ nguyên trạng chính trị của các chế độ độc tài sang việc ủng hộ các phòng trào đối kháng."
    Tác dụng của Điều kiện này ta đã thấy sự tích cực của giáo hội VN trong các sự kiện chính trị lớn như : đấu tranh đòi đất , cầu nguyện cho Cù Huy Hà Vũ ...

    4."Sự thay đổi chính sách đối ngoại của nhiều quốc gia, đặc biệt của Mỹ, Liên Hiệp Âu Châu và Liên Xô."
    Ta thấy tác dụng của Hoa kỳ ở VN rất rõ từ lời phát biểu của H .Clinton tại Hà nội ngày 23/7/2010 .
    Nước Nga hiện nay đã không đối địch với Hoa kỳ như thời kỳ VN chống Hoa kỳ nữa .

    5."Hiệu ứng “quả bóng tuyết” (snowballing): ảnh hưởng của dân chủ từ nước này đến nước khác. (3)"
    Vụ án Cù Huy Hà Vũ được đông đảo người VN quan tâm cũng có nguyên do từ hiệu ứng này.

    Như vậy sơ qua ,ta thấy là VN đã hội tụ đầy đủ các điều kiện để tham gia làn sóng dân chủ .

    Hiện nay trong lòng xã hội VN đã có những cơn sóng ngầm .

    Khi nào những cơn sóng ngầm này cộng hưởng , tạo nên một làn sóng thần vĩ đại trồi lên trên mặt nước quét sạch lũ độc tài hại dân , hại nước chỉ còn là vấn đề thời gian .

    Nhiệm vụ của phong trào dân chủ là tạo nền tảng lý luận , đạo đức hợp với VN để nâng cao dân trí trong xã hội dân chủ tốt đẹp nhưng đòi hỏi trí thức cao .

    Chắc chắn là thế bạn ạ !

    Chỉ có điều chúng ta không phải là những Tocqueville để có thể ngồi một chỗ mà nói rành mạch các diễn biến tiếp theo của trăm năm sau !

    Chỉ biết nó sẽ không thể là độc tài hày toàn trị vì đơn giản, dân trí khắp nơi cũng đã "bùng nổ" tỉ lệ thuận với cuộc cách mạng thông tin thời đại. Mà công khai, minh bạch và đa chiều là "kẻ thù" truyền kiếp unbeatable của độc tài các loại ! Hì hì

    Thân mến,

    Trích dẫn:
    đổi mới chính trị mạnh mẽ là để góp phần củng cố vai trò lãnh đạo của Đảng

    Đổi mới chính trị không phải để làm sao cho nhà nước điều hành tốt, hiệu quả, đem lại lợi ích và công lý cho mọi người

    Mục đích của đảng CSVN và thiếu tướng Lê Văn Cương đã ích kỷ như thế thì kết quả sẽ chẳng ra gì cho người dân

    Cương chỉ biết còn đảng còn mình

    http://sgtt.vn/Goc-nhin/144487/Chua-co-tuong-thich-giua-doi-moi-kinh-te-va-chinh-tri.html

    Chưa có tương thích giữa đổi mới kinh tế và chính trị

    SGTT.VN - Tại cuộc toạ đàm “Giải quyết mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị” do tạp chí Cộng Sản tổ chức diễn ra tại Hà Nội hôm qua (10.5), nguyên phó giám đốc học viện Báo chí và tuyên truyền Dương Xuân Ngọc chia sẻ, trong khi đổi mới kinh tế được nghiên cứu kỹ thì các vấn đề về đổi mới chính trị lại chưa được nói đến nhiều.

    Đổi mới chưa đồng bộ

    Dư luận cho rằng đổi mới chính trị ở nước ta còn tụt hậu so với đổi mới kinh tế. Ảnh minh hoạ. Ảnh: Hồng Thái

    Chuyện làm ăn của các “ông lớn” kinh tế được nhiều diễn giả đưa ra làm ví dụ như điển hình của việc đổi mới chính trị chưa song hành với đổi mới kinh tế.

    Sau 20 năm, tốc độ phát triển kinh tế đã đi khá xa, nhưng nền tảng kinh tế đang lộ rõ nhiều bất cập và dấu hiệu thiếu bền vững. Vòng xoáy lạm phát và tình trạng khó khăn hiện nay là minh chứng rõ nét.

    “Chỉ sau năm – bảy năm nữa hoặc chậm lắm mười năm là mọi thành tựu, hậu quả, đúng, sai sẽ bộc lộ rõ hết”, thiếu tướng Lê Văn Cương (nguyên viện trưởng viện Chiến lược và khoa học, bộ Công an) nói. Ông Cương dẫn lại bài học từ vụ PMU 18 và Vinashin như những ví dụ điển hình cho những sai sót về mối quan hệ chưa rõ ràng minh bạch giữa kinh tế với chính trị.

    Theo ông Cương, đổi mới chính trị mạnh mẽ là để góp phần củng cố vai trò lãnh đạo của Đảng và lòng tin của nhân dân.

    Phó viện trưởng viện Chính trị học (học viện Chính trị – hành chính quốc gia Hồ Chí Minh) Phạm Xuân Sơn phân tích, dư luận cho rằng đổi mới chính trị ở nước ta còn tụt hậu so với đổi mới kinh tế. Chừng nào chưa có sự tương thích giữa đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị thì mọi vướng mắc và mâu thuẫn còn chưa được giải quyết rốt ráo.
    “Quyền lực không được giám sát là quyền lực
    sẽ bị tha hoá. Đó là tất yếu và không có ngoại lệ”. Thiếu tướng Lê Văn Cương

    Thực tế, ngay cương lĩnh bổ sung xây dựng đất nước vừa được thông qua tại Đại hội XI cũng đã xác định, “phải đặc biệt giải quyết tốt mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị”...

    Giám sát quyền lực

    Thiếu tướng Lê Văn Cương đưa ra rất nhiều phân tích chỉ rõ những điểm nghẽn cần đột phá nếu muốn đổi mới chính trị. Đầu tiên theo ông Cương là phải khắc phục tình trạng tha hoá, yếu kém của một bộ phận cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ có trọng trách. Và quan trọng hơn là đảm bảo thực hiện cơ chế giám sát trong Đảng và giám sát của nhân dân với hoạt động của Đảng.

    “Quyền lực không được giám sát là quyền lực sẽ bị tha hoá. Đó là tất yếu và không có ngoại lệ”, thiếu tướng Lê Văn Cương khẳng định. Ngoài ra, theo ông Cương, phải thực hiện giám sát và phản biện xã hội với tất cả các chủ trương, chính sách, kế hoạch và đề án phát triển kinh tế, xã hội của Nhà nước.

    Ông Cương cho rằng, nhiều năm qua, đổi mới chính trị đã có những bước tiến tích cực, như không khí cởi mở, dân chủ, thẳng thắn trong đời sống xã hội và trong các hoạt động của các cơ quan Đảng, Quốc hội. Nhưng, sự xa rời của một bộ phận cán bộ trong cơ quan Đảng, Nhà nước đã làm cho Đảng và cơ quan công quyền ngày càng xa dân, thoát ly sự kiểm soát của nhân dân. Đây là một nguy cơ lớn cần được nhận diện và thay đổi, nếu muốn đổi mới chính trị thực chất và căn bản. Chỉ có như vậy, thành tựu đổi mới kinh tế mới thực sự phát huy hiệu quả.

    Trong khi đó, ông Phạm Văn Đức, viện trưởng viện Văn hoá phát triển lại nêu vấn đề, phải chăng thuốc để chống tham nhũng đã bị vô hiệu hoá? “Vì vậy khi bàn đến đổi mới kinh tế trong quan hệ với đổi mới chính trị trước hết phải từ những việc làm thiết thực để củng cố niềm tin trong nhân dân”, ông Đức nói. Việc trì hoãn cải cách và đổi mới cũng được các nhà khoa học chỉ ra, đó là căn bệnh tham nhũng và tình trạng suy thoái đạo đức trong một bộ phận cán bộ.

    Ngọc Trang

    Thế giới đã và đang trải qua bốn làn sóng dân chủ.
    Tôi dám đoan chắc VN sẽ dẫn đầu làn sóng dân chủ thứ... năm, nếu không thì thứ sáu. Sớm muộn gì cũng đến đích mà! Nhưng lúc ấy chắc thế giới đã bắt đầu tiến lên chế độ siêu dân chủ (chứ không lẽ dân chủ là hình thái chính trị sau cùng của loài người?)