Xích Tử - Tự do, dân chủ, nhân quyền, đảng cộng sản

  • Bởi Khách
    26/04/2011
    2 phản hồi

    Xích Tử

    Bội thực tự do, dân chủ, nhân quyền

    Lâu nay, qua thông tin mạng internet và báo chí, từ nhiều lề, một số người dân trong nước được biết đến một quá trình có tính thời sự cả về một số chính sách đối nội lẫn trong bang giao kinh tế, chính trị với một số nước liên quan đến các khái niệm tự do, dân chủ, nhân quyền, dân quyền, quyền con người v.v…

    Dĩ nhiên các từ - khái niệm này không xa lạ với đời sống chính trị của Việt Nam mấy chục năm qua; cũng không phải nằm ngoài sự định nghĩa của từ điển tiếng Việt từ những năm 50 của thế kỷ trước. Vấn đề là chiều hướng vận động chính trị của quá trình lịch sử - xã hội liên quan đến các khái niệm đó.

    Trước hết, người dân được lôi kéo vào và phải chia sẻ tính quan trọng của việc đưa từ dân chủ vào các văn kiện của Đảng cộng sản Việt Nam từ sau 1986 đến nay cùng một số văn kiện có đề cập chuyên về nhân quyền (có lúc, để có lợi và có nét riêng, người ta gọi là quyền con người). Theo đó, cứ mỗi lần dự thảo văn kiện Đại hội đảng, người ta lại chuyển dịch vị trí của từ dân chủ và xem đây như là dấu hiệu của một sự động não vĩ đại của một tập thể vĩ đại chứng tỏ quá trình đổi mới tư duy liên tục. Trong tuyên truyền cho văn kiện sau đó, người ta bỏ công để giải thích rất lâu, rất hùng hồn rằng tại sao từ dân chủ đứng trước từ gì và không đứng sau từ gì, tại sao lại có sự thay đổi vị trí như thế. Đúng là không phí tiền của của nhân dân. Cả những khối óc lớn như thế nghiền ngẫm cả 5 năm để chọn cho được một vị trí mới của từ ngữ quan trọng này trong một áng văn có đến một nửa là kế thừa lối văn biền ngẫu mà trong thực tế, nhân dân chẳng thấy có gì khác.

    Với khái niệm nhân quyền trong văn kiện của đảng, người ta chỉ đạo phải tôn trọng, phát huy những giá trị to tát trong xã hội Việt Nam hiện đại như độc lập dân tộc, cơm ăn, áo mặc, học hành, vui chơi giải trí lộ hàng nude teen nổi loạn điệu nhảy hoàn vũ hoa hậu bóng đá lễ hội đền chùa v.v… Nhân quyền quá đi chứ. Một đất nước qua mấy chục năm chiến tranh, đầy tiếng súng nổ, lấy súng địch đánh địch, mua thuốc nổ của địch để đánh vào tiệm cà phê, rạp chiếu bóng…, bây giờ, với nghị định 94 từ năm 1984 về quản lý vũ khí, chỉ thị 406 từ 1994 về pháo nổ…, đất nước không còn tiếng nổ nào, mạng sống người dân cùng với sự an toàn của nhà nước cùng theo đó được bảo đảm, không gọi là nhân quyền số 1 của thế giới sao được.

    Người dân cũng được nghe đến việc một số trí thức trong nước lên tiếng đòi hỏi dân chủ, nhân quyền, về sự phản đối tình trạng dân chủ, nhân quyền Việt Nam, được đọc một số báo cáo nhân quyền Việt Nam của một số tổ chức nước ngoài, được biết có những hội nghị trao đổi nhân quyền giữa nước ta và các nước khác hoặc việc một số nước đưa chuyện nhân quyền vào mặc cả trong các kế hoạch viện trợ, đầu tư…Với những thông tin đó, người dân trong nước hoàn toàn yên tâm về những lời phản đối của người phát ngôn Bộ Ngoại giao rằng Việt Nam cam kết tôn trọng nhân quyền; Việt Nam là nước pháp quyền, có Hiến pháp; nhân quyền đã được ghi trong Hiến pháp và được thực thi đầy đủ trong đời sống, rằng nhân quyền của Việt Nam có nội dung khác với các nước. Người dân cũng cảnh giác rất cao với nhận định của Đảng, nhà nước rằng việc các nước khi đề cập đến dân chủ, nhân quyền là âm mưu diễn biến hoà bình, lăm le xâm lược, là can thiệp vào công việc nội bộ của nước nhà.

    Mọi việc cứ như vậy, không khác được, không suy suyển gì được và tình trạng đó, nếu không chấp nhận cái thế phải “yên tâm” như trên thì cũng chỉ có thể giải thích như là số phận của một dân tộc. Cái số phận đó đến một thời điểm phải bị ách thực dân, dẫn đến cách mạng giải phóng, rồi chiến tranh uỷ nhiệm, rồi sự chọn lựa không cách nào khác mô hình chủ nghĩa xã hội và học thuyết Mác – Lenin, xây dựng nhà nước chuyên chính độc đảng (trước hết là để có súng và tiền để tổ chức lực lượng cách mạng cùng sự hậu thuẫn, giúp đỡ của các nước lớn chống các nước thực dân). Khi thấy thất bại thì mọi việc cũng lỡ mất rồi, không đủ dũng cảm, không vượt được cơ chế tập thể, không từ bỏ lòng ham quyền lực và các lợi ích vật chất do quyền lực mang lại nên không thể làm một Gorbachev như ở quê hương cách mạng.

    Tình thế đó buộc đảng, nhà nước suốt mấy chục năm tuyên truyền rằng đây là nến dân chủ gấp triệu triệu lần dân chủ tư sản và theo đó nhân quyền cũng không kém ai. Đến khi thấy sự tuyên truyền đó hết tác dụng, người ta làm việc một cách hệ thống hơn là định nghĩa lại tất cả các khái niệm liên quan, như kiểu V. Hugo nói đội mũ đỏ cho từ điển tiếng Pháp sau cách mạng vậy. Người ta tham gia, phê chuẩn tất cả các công ước quốc tế về các lĩnh vực đó (tham gia, sao không?) nhưng chỉ tham gia với một hệ thống ký tự, của một tập hợp vỏ ngữ âm của văn kiện; còn nội dung thì phải Việt hoá đi. Như khái niệm nhân quyền chẳng hạn, khi có vị nguyên thủ của một nước Bắc Á nói có màu sắc Châu Á, hoặc một nguyên thủ khác trong khối ASEAN nói nhân quyền có cái riêng của mỗi nước, người ta xem đó là những cái phao cứu sinh cho sự giải thích độc quyền và độc tài của mình. Làm sao có thể có tiếng nói chung, có con đường đi chung khi giữa Việt Nam và nhiều nước, kể cả Liên hiệp quốc lại lệch pha nhau trong cách giải thích (chứ không hẳn là cách hiểu, vì người ta hiểu quá đi chứ) về những khái niệm vốn được xem là các giá trị phổ quát được hình thành suốt quá trình chính trị của xã hội loài người? Và nếu không chung được thì cứ xuôi theo số phận dân tộc trong cơ cấu chính trị hiện có, được liên tục cải biến về màu sắc để có vẻ hợp thời hơn nhưng không làm mất vai trò quyền lực của ai cả, cũng không làm thay đổi bản chất chính trị chút mảy may nào cả. Muốn vậy, đảng, nhà nước cử thoải mái tham gia bất cứ công ước, hiệp ước nào và nói to cho nhân nhân cái tiêu ngữ của văn kiện đó, với điều kiện là trong đó có những từ, khái niệm trừu tượng mà ta có thể giải thích sao cũng được; còn những công ước liên quan đến cái vật chất cụ thể, khó giải thích khác được, thì né tránh, chẳng hạn, công ước về chống mìn, làm sao có thể giải thích mìn là ổi xoài đu đủ hoặc bánh mì được; do vậy cương quyết không tham gia.

    Cách làm đó là an toàn, bền vững. Có điều, với người dân, giống như việc ông bố trong một nhà nghèo không mua cá nổi cho con ăn, bèn lấy gỗ tạc tượng cá, treo trên mâm cơm, để có đứa phải bị bội thực vì một miếng cơm phải nhìn cá 2 lần: người dân cũng bị bội thực dân chủ, nhân quyền trong nước.

    Cho đến giờ, vẫn chưa có thuốc giải nào hiệu nghiệm và cũng không biết bao giờ mới được giải bội thực.

    Xích Tử

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    2 phản hồi

    Phản hồi: 

    Bác Tata nói:
    Tôi cho rằng dân chủ thực sự ở mức độ đầu tiên rất đơn giản là:
    Mọi thông tin , ý kiến đều được tự do phát biểu công khai, hoặc ,viết ra công khại.
    Tùy theo mức độ ngăn cản việc tự do phát biểu công khai, hoặc ,viết ra công khại mà ta đánh giá nền dân chủ có thực sự tới đâu
    .

    Kính xin bác Tata phân biệt cho:
    1) Dân chủ là quyền của người dân (số đông) ở địa vị là "ông chủ". Nó liên quan đến chuyện một cộng đồng chọn người đại diện cho mình (ví dụ, các hội viên chọn ra ban chấp hành của Hội, nhân dân chọn đại diện vào quốc hội). Ta vẫn quen gọi thế là bầu cử.
    Muốn có nhiều người xứng đáng để bầu, phải thực hiện quyền tự do ứng cử. Được ứng cử tự do, nhưng phải trình bày "tôi sẽ làm gì để xứng đáng là đại diện trung thành cho những người bầu cho tôi".
    Và phải có cách loại trừ những người được bầu nhưng sau đó không xứng đáng (thậm chí phản dân).
    Cách bầu QH hiện nay mất dân chủ ngay từ đầu, vì có bàn tay bộ óc bẩn thỉu tìm mọi cách hạn chế tối đa số người tự do ứng cử.

    2) Còn chuyện tha hồ phát ngôn, nêu quan điểm riêng (miễn là không xâm phạm cá nhân và cộng đồng) là quyền của cá nhân. Nó thuộc phạm vi tự do, chứ không phải là dân chủ, dù nó liên quan dân chủ.
    VN lại càng mất tự do hơn đâu hết.

    Phản hồi: 

    Không hiểu tác giả bài này có hiểu dân chủ thực sự là gì hay ko? Có khi tác giả cũng ko hiểu dân VN luôn.

    Tôi cho rằng dân chủ thực sự ở mức độ đầu tiên rất đơn giản là:
    Mọi thông tin , ý kiến đều được tự do phát biểu công khai, hoặc ,viết ra công khại.
    Tùy theo mức độ ngăn cản việc tự do phát biểu công khai, hoặc ,viết ra công khại mà ta đánh giá nền dân chủ có thực sự tới đâu.
    Khi chưa có được dân chủ thực sự thì nhân quyền cũng không thể có được thực sự
    Theo các đánh giá dân chủ như vậy thì tôi cho rằng dân VN không hề bội thực tự do , dân chủ và nhân quyền.
    Dân VN chỉ bội thực sự dối trá lừa đảo của những kẻ CS, tự nhận là CS, mang danh CS và đặc biệt là của nhà cầm quyền chuyên chế toàn trị.
    Sự bội thực nay rất khủng khiếp .Nó đã làm cho nhiều bộ phận dân chúng ko phân biệt được kẻ đang cướp các quyền( trong đó có cả quyền lợi) của chính họ là kẻ đang nhân danh nhân dân để giảng dạy về đạo đức và tự nhận là tài giỏi để lãnh đạo nhân dân .
    Tóm lại sự suy đồi của XH đạc biệt trong XH kiểu TQ,VN,..chính là do sự bội thực của các trò lừa đảo dối trá nằm trong bộ máy cai trị chuyên chế đó.