Anh Vũ - Bức thư thất lạc

  • Bởi Admin
    21/04/2011
    4 phản hồi

    Anh Vũ

    Công ty Cho thuê Tài chính 2 (ALC2) đang là con nợ của nhiều tổ chức, trong đó có BHXH Việt Nam với khoản vay thể hiện trên 14 hợp đồng, trị giá 1.010 tỉ đồng.

    Món nợ này, bà Đỗ Thị Xuân Phương - Phó tổng giám đốc BHXH Việt Nam cho biết, ALC2 đã thanh toán 200 tỉ đồng, và hứa tháng 4, hoặc chậm nhất tháng 5 năm nay sẽ trả thêm 200 tỉ đồng sau khi thanh lý tài sản.

    Riêng số còn lại 610 tỉ đồng, chưa ai dám khẳng định có đòi được hay không vì ALC2 đã nằm trên bờ vực phá sản, trong khi “công ty mẹ” Agribank trước đó đã âm thầm hạ hạn mức bảo lãnh.

    Cụ thể, năm 2003 Agribank - BHXH Việt Nam cùng nhau ký bản thỏa thuận với nội dung Agribank cam kết bảo lãnh cho các khoản vay của các công ty thành viên, trong đó riêng ALC2 có hạn mức trần 1.300 tỉ đồng (nếu ALC2 không trả được, Agribank trả nợ thay). Để hiện thực hóa thỏa thuận trên, năm 2008, Agribank phát hành 3 thư bảo lãnh: Thư thứ nhất vào ngày 13.3 trị giá 500 tỉ đồng, thư thứ 2 vào ngày 22.4 trị giá 800 tỉ đồng và thư thứ 3 ngày 20.10 là 400 tỉ đồng. Nhưng trong thư bảo lãnh thứ 3, Agribank lại kết: “Thư này thay thế cho 2 bức thư đã phát hành trước đó”. Có thể hiểu,

    Agribank đã rút hạn mức bảo lãnh từ 1.300 tỉ xuống chỉ còn 400 tỉ đồng.

    Về tình tiết này, phía BHXH Việt Nam bức xúc: “Việc Agribank rút bảo lãnh xuống còn 400 tỉ đồng thì 2 bên phải gặp nhau để đàm phán. Đằng này, không gặp để thương thảo, bàn luận là hoàn toàn trái với thỏa thuận trước đó. Ngoài ra, tới thời điểm thư thứ 3 được phát hành thì BHXH Việt Nam đã giải ngân cho ALC2 480 tỉ đồng, mà Agribank chỉ bảo lãnh 400 tỉ đồng như trong thư cũng là cố tình thoái thác trách nhiệm”.

    Tuy nhiên, vấn đề là, vì sao vào thời điểm 2008, khi nhận bức thư khó hiểu ấy BHXH không phản hồi và đòi ngồi lại bàn đàm phán với Agribank? Một lãnh đạo của BHXH, giãi bày không thể làm như vậy do thư bị thất lạc, nằm trong đống công văn lưu, do sự thiếu trách nhiệm của một cán bộ lưu trữ. Khi thư đến, cán bộ lưu trữ đã không báo cáo cấp trên và mãi đến tháng 7.2010, khi BHXH đã giải ngân hết 1.010 tỉ đồng cho ALC2 thì… bức thư mới được tìm thấy. Đến đây, một lần nữa người ta lại phải đặt câu hỏi: Vậy tại sao lúc đó BHXH không yêu cầu Agribank ngồi lại đàm phán mà phải đợi đến khi ALC2 bị công khai thua lỗ mới “tá hỏa” đi giải thích, và đổ vấy cho Agribank?

    Rõ ràng, sự việc trên đã cho thấy cả Agribank và BHXH Việt Nam tỏ ra thiếu trách nhiệm đối với việc sử dụng, bảo toàn đồng vốn ngân sách nhà nước. Bức thư bảo lãnh với số tiền liên quan lên tới 1.300 tỉ đồng, mà một bên thì tự ý quyết; trong khi bên kia lại để thất lạc trong đống công văn lưu trữ là những lý do mà một người cả tin nhất cũng khó có thể chấp nhận.

    Anh Vũ

    _____________________________

    Bình luận của NiceCowboy trên blog Anh Ba Sàm:

    Về vụ Cty Tài chính 2 NHNN thua lỗ 3.000 tỷ đồng, trong đó có khả năng BHXH VN có thể mất 1000 tỷ đồng. Đọc xong Cao bồi (miệt vườn thôi) cũng thấy cái cách quản lý kinh tế, quản lý, đầu tư tiền nhàn rỗi của một cơ quan nhà nước “ngu” chưa từng có! Hay đây chỉ là một cách giả “ngu’ để “được lừa”. Nếu các cơ quan thanh tra, kiểm toán, công an mà không làm ra ánh sáng việc này thì người dân nào dám tin vào BHXH VN được nữa?

    Là người cũng có liên quan chút ít đến ngành tài chính ngân hàng, tôi xin kể vài chuyện sau đây và có thêm nhận xét:

    - Chuyện BHXH VN ‘đầu tư” tiền đóng BH của dân chúng vào các Ngân hàng là được phép, vấn đề là đầu tư vào đâu cho có lợi nhất (lợi cho ai? hay lợi cho nhà nước, cho dân?) Thật ra có nhiều cách đầu tư khách quan và an toàn, nhưng cách có lợi nhất (cho các vị lãnh đạo BHXH) là cho các ngân hàng vay bằng cách gửi tiền BH của dân vào các Ngân hàng TRONG TRUNG, DÀI HẠN nhưng khi làm giấy tờ, hợp đồng gửi chỉ là KHÔNG KỲ HẠN (gửi tài khoản thanh toán, vãng lai, có quyền rút ra bất kỳ lúc nào). Điều này có lơi cho các Ngân hàng vì chỉ phải trả theo lãi suất RẤT THẤP so với nếu gửi có kỳ hạn; đương nhiên ngân hàng sẽ biết điều mà hoa hồng rất cao cho các vị lãnh đạo, đặc biệt Kế toán trưởng, Ban điều hành BHXH… Không riêng gì BHXH, một số doanh nghiệp nhà nước, nhất là các cơ quan hành chính sự nghiệp có tiền thừa nhưng không được phép trực tiếp kinh doanh đều làm thế cả, gửi Ngân hàng lấy tiền lãi không kỳ hạn rất thấp nhưng Ngân hàng phải hoa hồng riêng cho ngừoi có quyền quyết định gửi tiền ở NH đó. Việc này cả hai bên cho và bên nhận đều dấu kín, đều có lợi cho cả hai bên (nhà nước và dân thiệt mà thôi) và không bên nào dám lộ ra vì đều vi phạm pháp luật. Chuyện này ngành ngân hàng ai cũng biết, nhưng lấy chứng cứ thì cực kỳ khó.

    - Về chuyện thư bảo lãnh của Agribank (bên bảo lãnh), Công ty tài chính ALC2 (bên được bảo lãnh) và BHXHVN (bên nhận bảo lãnh): Các bên đều sai trái hoàn toàn, nhưng bên Ngân hàng lợi dụng sự “ngu ngốc” của BHXHVN để làm sai, cụ thể cái ngu đó như sau (tôi khẳng định đó là ngu, nếu không thì là cố ý làm trái, làm ngơ vì mục đích gì đó):

    a. Lúc Agribank phát hành thư bảo lãnh lần thứ ba chỉ còn 400 tỷ đồng, mà BHXHVN đã giải ngân cho ALC2 480 tỷ đồng! Cái này sai hoàn toàn về mặt pháp luật. Nếu chưa có bảo lãnh, sao lại dám giải ngân? rồi thay vì không phải bảo lãnh 480 tỉ mà chỉ có 100 tỉ, hay thậm chí không đồng ý bảo lãnh nữa thì sao? BHXHVN có thể tự biện hộ rằng số tiền 480 tỉ đã là số dư còn lại của những thư bảo lãnh trước đó đã hết hạn bảo lãnh chứ không phải giải ngân mới. Biện hộ thế cũng sai hoàn toàn. Trong nguyên tắc bảo lãnh, sắp đến hết thời hạn bảo lãnh mà còn dư nợ (480 tỉ) thì ngay lập tức bên nhận bảo lãnh ALC2 phải yêu cầu có thư bảo lãnh mới thay thế ngay TRƯỚC KHI thư bảo lãnh cũ hết hiệu lực, nếu không thì phải YÊU CẦU bằng văn bản BÊN BẢO LÃNH LÀ AGRIBANK PHẢI TRẢ NGAY SỐ DƯ NỢ ĐANG BẢO LÃNH trước khi thư bảo lãnh hết hiệu lực. Đàng này, BHXHVN đã không yêu cầu có thư bảo lãnh kịp thời, không claim nợ đang bảo lãnh... mà sau đó khi có thư bảo lãnh mới (chỉ 400 tỉ), thay vì phải là 480 tỉ, hoặc nhiều hơn cho phù hợp dư nợ thực tế… mà BHXH VN không hề có ý kiến, hoặc thưa kiện ra Tòa, hoặc bất kỳ hành vi pháp lý nào khác để giải quyết quyền lợi cho mình, để đến khi đổ bể tùm lum thì mới lên tiếng! HAY LÀ HÁ MIỆNG MẮC QUAI VÌ ĐÃ LỠ QUAN HỆ TRÊN MỨC TÌNH CẢM QUÁ NHIỀU rồi như tôi đã nói ở phần đầu.

    b. Một điều cực kỳ sai trái, sai trái hơn điều nói trên, là BHXHVN tuyên bố là đã làm thất lạc thư bảo lãnh. Nếu đúng như vậy xảy ra, thì bên bảo lãnh Agribank hoàn toàn có quyền từ chối bảo lãnh và không trả nợ thế cho ALC2. Theo tập quán ngân hàng quốc tế và luật pháp qui định về bảo lãnh ở VN, thư bảo lãnh chỉ có duy nhất 1 bản gốc có giá trị, bất kể bản sao y công chứng… Nếu mất thư bảo lãnh thì bên bảo lãnh phủi tay nói không, chẳng ai có thể làm gì cả.

    Việc BHXHVN nhận thư bảo lãnh mới không đúng hạn (sau khi đã giải ngân, sau khi thời hạn bảo lãnh trước đã kết thúc), số tiền bảo lãnh không khớp với thực tế (chỉ có 400 tỉ), mất thư bảo lãnh (thật không?), chấp nhận thư bảo lãnh với nội dung bất lợi (thay thế những thư bảo lãnh trước đó…) là những việc làm hoàn toàn sai trái, thậm chí có thể nói là không biết chút nào về quản lý tài chính, tiền tệ của một cơ quan cấp nhà nước như BHXHVN. Việc này nếu Kiểm toán Nhà Nước, hay Thanh Tra Bộ Tài Chính, TTNN vào cuộc thật sự (tôi xin nhấn mạnh là “thật sự”) thì dễ dàng thấy những sai phạm lộ liễu trên.

    Trong vụ này ngoài lãnh đạo ALC2 (công ty cho thuê TC2 của Ngân hàng Agribank) phải bị truy tố hình sự; thì Agribank cũng phải có trách nhiệm rất lớn về mặt dân sự, vì quản lý kém không kiểm soát đơn vị thành viên; và BHXH VN cũng có trách nhiệm rất lớn vì đã cố ý làm trái gây thiệt hại nghiêm trọng đến tài sản của nguời dân, tiền đóng BHXH.

    P/S: tôi không tin sớm nhất là cuối tháng 5/2011 BHXHVN sẽ được trả tiếp 200 tỉ đồng từ tiền thanh lý tài sản của ALC2 (thủ tục thanh lý này ít nhất 6 tháng nữa mới xong). Đặc biệt tôi hoàn toàn không tin Agribank sẽ trả giùm ALC2 số nợ còn lại 600 tỉ , vì hoàn toàn không có cơ sở pháp lý, họ đâu có bảo lãnh hết số đó, hơn nữa thư bảo lãnh không còn… Trừ phi, cấp “trên” đồng ý sẽ làm kiểu túi này bỏ sang túi kia cho yên chuyện, anh nào cũng là doanh nghiệp nhà nước (cho đến hiện nay)! Chán thật, đọc nhiều chuyệm mất mát tài sản nhà nước, tài sản dân… vài ngàn tỉ như chuyện đùa. Hôm trước thì chuyện Vinaline Tổng CT HHVN phải bồi thường 800.000 đô la cũng vì ngu không biết luật!

    Chắc có lẽ Cao bồi lương thiện nên đổi nick là Cao bồi gian manh rồi đi lừa mấy ông Nhà Nước kiếm sống khỏe re, không phải đi chăn bò hàng ngày cực khổ như thế này.

    Nguồn: http://anhbasam.wordpress.com/2011/04/20/tin-th%E1%BB%A9-t%C6%B0-20-4-2011/

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    4 phản hồi

    Tôi nghĩ tôi hiểu vì sao càng ngày càng có nhiều doanh nghiệp nhà nước bị thua lỗ đâm. Chuyện họ làm ăn khôn khéo hay ngu dại, tham lam hay tham nhũng như thế nào tôi không biết nhưng có chuyện này tôi chắc chắn được. Qua vụ Vinashin rồi chuyện này (chắc còn nhiều chuyện khác mà chưa được phanh phui) cho thấy một điều rõ ràng là các cơ quan tài chánh của nhà nước đã làm việc vô trách nhiệm, vô lương tâm. Họ sẵn sàng bơm tiền của nhân dân để cứu các doanh nghiệp nhà nước mà không hề đòi hỏi hay xem xét các doanh nghiệp đó làm ăn như thế nào. Phải chăng đây là làm ăn theo "định hướng XHCN"? Nếu họ theo nguyên tắc của kinh tế thị trường tự do thì chắc chẳng có công ty doanh nghiệp nhà nước nào hình thành hay tồn tại được.

    Tôi lấy ví dụ như ở Úc, khi tôi muốn mua nhà tôi phải chứng minh cho nhà băng là tôi có khả năng trả nợ thì họ mới cho tôi mượn tiền. Hoặc khi tôi mở doanh nghiệp làm ăn tư thì nhà băng đòi hỏi tôi làm gì, làm ăn ra sao, mức thu nhập dự trù, kế hoạch phát triển, nguồn vốn, v.v... thì họ mới dám tin tưởng mà cho tôi mượn tiền. Nếu tôi đã có doanh nghiệp và cần mượn tiền thêm thì họ đòi hỏi có chứng minh tài chánh lỗ lãi như thế nào họ mới dám cho mượn. Tùy theo tầm cỡ của doanh nghiệp mà họ có những đòi hỏi chứng minh phù hợp. Họ kỹ như vậy mà còn bị nợ xấu (bad debt-nợ không đòi được). Nói chung là kinh tế thị trường tự do luôn có những thủ tục chế tài, kiểm tra chặc chẽ liên tục để bảo đảm ngăn chận những kinh doanh lừa dối hay đến thời mạc vận. Dĩ nhiên những người làm việc vô trách nhiệm sẽ bị luật pháp xử tội công khai ngay chẳng cần đợi thủ tướng ra lệnh. Hể có người kiện hoặc cơ quan liên quan kiện là tòa án và cảnh sát truy cứu ngay không cần đợi thủ tướng ra lệnh. Mọi tài sản của doanh nghiệp dối trá hay phá sản đều bị đặt vào sự kiểm sát của nhà băng thông qua một công ty tài chánh độc lập. Chính sách kiểm soát và phòng ngừa của Úc rất phức tạp tôi không nói hết ra được, tôi chỉ nói những gì mà tai nghe, mắt thấy hoặc đọc được qua báo chí.

    Chắc hẳn là ở VN cũng có những thủ tục chế tài kiểm soát nhưng chắc chắn do tham nhũng, ăn chia, quan chức vô trách nhiệm, vô lương tâm, vô ý thức, coi rẻ đồng tiền của nhân dân, coi rẻ tài nguyên tài sản của quốc gia mà sinh ra những vụ như Vinashin và BHXH này. Chính quyền CSVN đã làm ngơ quá nhiều cho các cơ quan, doanh nghiệp nhà nước, các quan chức nhà nước. Cơ quan hành pháp lại còn phải đợi lệnh của thủ tướng mới làm việc. Chỉ tội cho dân phải gánh chịu mọi nợ nần, bất công, tương lai của quốc gia mờ mịt trong khi của chìm của nổi của những kẻ bất hảo thì ngày càng nhiều hơn và vẫn phè phởn trên pháp luật và ngoài pháp luật. Thật là xuẩn!

    Vụ việc tiêu cực tại công ty ALC II, ngân hàng NN&PTNT: Nguyên tổng giám đốc công ty ALC II được “lại quả” 75 tỉ đồng

    SGTT.VN - Theo nguồn tin của Sài Gòn Tiếp thị, các cơ quan bảo vệ pháp luật đang khẩn trương tổ chức điều tra vụ án đối với bị can Vũ Quốc Hảo, nguyên tổng giám đốc công ty cho thuê tài chính II (công ty ALC II). Theo kết luận thanh tra, giám sát của ngân hàng Nhà nước thì công ty này đã để xảy ra tổn thất hơn 1.846 tỷ đồng.

    Theo kết quả xác minh ban đầu, ông Vũ Quốc Hảo trong quá trình điều hành công ty ALC II quen biết với ông Đặng Văn Hai, chủ tịch hội đồng thành viên công ty TNHH Xây dựng và thương mại Quang Vinh (công ty Quang Vinh). Ông Hảo đã ký 7 hợp đồng mua bán tài sản do công ty Quang Vinh cung ứng. Nhưng kết quả xác minh cho thấy đây thực chất là các hợp đồng khống để rút tiền Nhà nước, sau đó lại cho chính các công ty “sân sau” của ông Đặng Văn Hai thuê lại. Thực tế, công ty Quang Vinh không có tài sản bán cho công ty ALC II.

    Theo cơ quan chức năng, quy định hiện hành thì công ty ALC II có chức năng cho thuê tài chính không được thực hiện nghĩa vụ cho vay. Nhưng ông Hảo đã cho vay và được che giấu dưới hình thức đầu tư mua tài sản để cho thuê. Ông Hảo còn thông đồng với công ty Quang Vinh giải ngân rút trên 587 tỉ đồng. Sau đó, công ty Quang Vinh sau đã chi lại 75 tỉ đồng cho ông Hảo để ông này trả nợ cá nhân.

    Kết quả kiểm tra còn cho thấy, khi đã rút tiền từ công ty ALC II, ông Đặng Văn Hai đã cho nhiều đối tác vay, chi trả việc huy động vốn khoảng 541 tỉ đồng, còn lại 47 tỉ đồng ông Hai sử dụng vào việc riêng đến nay không thu hồi được.

    Riêng bị can Tôn Quang Việt, phó phòng cho thuê tài chính của công ty ALC II, cơ quan chức năng cho biết ông này đã thẩm định và đề xuất 7 hợp đồng đầu tư mua bán tài sản của công ty này với công ty Quang Vinh để ông Hảo duyệt. Ngược lại, ông Việt đã nhận gần 1 tỉ đồng “lại quả” từ công ty Quang Vinh.

    Được biết, trước đó ngày 16.4, cơ quan cảnh sát điều tra, bộ Công an đã tống đạt quyết định khởi tố bị can, thực hiện lệnh khám xét, lệnh bắt tạm giam đối với ông Vũ Quốc Hảo, nguyên Tổng Giám đốc công ty ALC II; ông Tôn Quang Việt, nguyên Phó phòng cho thuê của công ty này và ông Đặng Văn Hai, chủ tịch hội đồng thành viên Công ty Quang Vinh về tội "Lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ". Sau đó, cơ quan Công an đã đưa các đối tượng từ TP. Hồ Chí Minh ra Hà Nội để phục vụ công tác điều tra.

    Trước thời điểm bị bắt, từ tháng 1.2011, công ty ALC II đã phải thuê lực lượng vệ sỹ bảo vệ ông Hảo 24/24 vì sợ các chủ nợ đến đòi nợ.

    Trước đó, Kiểm toán Nhà nước, cơ quan thanh tra, giám sát của ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã vào cuộc và phát hiện được hàng loạt sai phạm trong hoạt động kinh doanh tại công ty ALC II như: Chủ tịch hội đồng quản trị ngân hàng NN&PTNT đã ký quyết định phê duyệt kế hoạch kinh doanh cho công ty ALC II, hạn mức vay vốn trong năm 2007 là 3.770 tỉ đồng, trong khi tại thời điểm ký quyết định, công ty ALC II đang nợ ngân hàng 2.555 tỉ đồng, vượt 1.325 tỉ đồng hạn mức theo quy định của ngân hàng Nhà nước và ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn .

    Kết quả kinh doanh năm 2009 của công ty ALC II đã thua lỗ số tiền gấp 8,5 lần vốn điều lệ và tiềm ẩn lỗ lũy kế đối với khoản tiền đầu tư tài sản cho thuê khác trị giá gần 4.600 tỉ đồng. Trong kinh doanh, ALC II đã không thực hiện quy định kiểm tra chất lượng tài sản cho thuê theo quy định…cũng như một số sai phạm dẫn đến công ty mất cân đối khoảng 7.000 tỉ đồng (kết luận của cơ quan chủ quản)

    Nguồn: SGTT

    Đó là chuyện "bình thường" của các xếp lớn khi gần về hưu. Lương hưu chả có bao nhiêu , cần vơ vét đầy túi, lỗ lã có dân gánh. Cần có sự kiểm tra thường xuyên và cũng phải làm thế nào để người về hưu được an tâm.

    Câu này hay nhé: "Việc nhiều DN nhà nước đua nhau lỗ nặng không còn chỉ là vấn đề quản lý yếu kém của DN, mà còn cho thấy sự vô lương tâm của những kẻ lãnh đạo và sử dụng đồng tiền đóng thuế của dân."

    Rùng mình với những vụ thua lỗ bạc tỷ của 'ông lớn'

    Vụ việc Công ty cho thuê tài chính 2 (ALCII), một công ty con của Agribank, bị phát hiện thua lỗ nặng hàng nghìn tỷ đồng mới đây đã khiến nhiều người phải “rùng mình”. Như vậy, chỉ trong vòng một năm qua, đã có rất nhiều doanh nghiệp lớn bị phát hiện thua lỗ nặng.

    ALCII khiến 30 tổ chức tài chính liên lụy

    Kết thúc đợt kiểm toán báo cáo tài chính năm 2009 của Agribank, Kiểm toán Nhà nước phát hiện hàng loạt sai phạm. Trong đó chỉ riêng công ty con của Agribank là ALCII đã để thua lỗ tới 3.000 tỷ đồng trong năm 2009. Đơn vị này còn có khả năng lỗ tiềm ẩn đối với khoản tiền đầu tư tài sản cho thuê trị giá gần 4.600 tỷ đồng bị quá hạn, phải gia hạn nhiều lần (trong đó Kiểm toán Nhà nước tạm nêu ra số lỗ tiểm ẩn khoảng 1.266 tỷ đồng).

    Công ty ALCII là doanh nghiệp thành viên hạch toán độc lập của Agribank, chức năng chủ yếu là cho thuê tài chính, thực hiện bảo lãnh trong những trường hợp có liên quan đến lĩnh vực cho thuê tài chính, hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp để đầu tư trang thiết bị, đổi mới máy móc, công nghệ…

    Trong hoạt động huy động vốn, ALCII đã vi phạm các quy định huy động tiền gửi ngắn hạn. Trong hai năm 2008 - 2009, công ty này huy động 6 hợp đồng tiền gửi dưới 12 tháng với số tiền trên 510 tỷ đồng nhằm đáp ứng khả năng thanh toán cho các khoản cam kết đầu tư, cho thuê của công ty. Bên cạnh đó, công ty trả lãi cho khách hàng không đúng thỏa thuận theo hợp đồng, gây thiệt hại trên 1,1 tỷ đồng. Công ty huy động 26 hợp đồng trị giá hơn 1.300 tỷ đồng với mức lãi suất trên 17,5% một năm, vượt trần lãi suất quy định của Agribank.


    Việc nhiều DN nhà nước đua nhau lỗ nặng không còn chỉ là vấn đề quản lý yếu kém của DN, mà còn cho thấy sự vô lương tâm của những kẻ lãnh đạo và sử dụng đồng tiền đóng thuế của dân.

    Thực tế, ALCII hoạt động thua lỗ nhiều năm liền trước đó và đến năm 2007 đã bị phát hiện, tuy nhiên, công ty mẹ là Agribank lại đứng ra bảo lãnh và bơm vốn cho đơn vị này.

    EVN lỗ nặng và nợ chồng chất

    Mới đây, nhân việc kiến nghị tăng giá điện, EVN tiếp tục kêu đang chịu lỗ nặng và lấy lý do là bởi giá điện bán ra vẫn thấp hơn nhiều so với giá thị trường. Thực ra không phải đến năm nay EVN mới kêu bị thua lỗ, trước đó tổng kết năm 2010, EVN đã chính thức công khai tuyên bố tập đoàn lỗ hơn 8.000 tỷ đồng. Điều này khiến dư luận hết sức quan tâm bởi lẽ hiện nay EVN đang là nhà độc quyền cung cấp điện tại thị trường Việt Nam, không hề có một đối thủ cạnh tranh nào khác, việc thua lỗ trong kinh doanh khó lòng có thể chấp nhận.

    Đầu tháng 4/2011, Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) thông báo, EVN đang nợ PVN khoảng 5.000 tỷ đồng. Số nợ đọng này chủ yếu là do EVN mua điện từ Tổng công ty Điện lực dầu khí (thuộc Tập đoàn PVN) và vẫn chưa thanh toán hết. Chưa kể, vừa mới đây, Tập đoàn Than – Khoáng sản Việt Nam (TKV) đã “loan báo” về việc EVN đang nợ tiền mua điện và tiền mua than. Tính đến 31/3, EVN còn nợ TKV hơn 1.600 tỷ đồng. Như vậy, EVN hiện không chỉ lỗ nặng mà còn mang nợ chồng chất.

    Rồi vài ngày trước, việc Tập đoàn FPT quyết định rút lại kế hoạch đầu tư vào EVN với mục tiêu ban đầu là mua lại 60% cổ phần của EVN (tuy nhiên Chính phủ chỉ duyệt cho phép EVN bán 49% cổ phần), đã một lần nữa đẩy EVN lâm sâu vào bế tắc. Bởi trước đó, tập đoàn này rất hy vọng rằng với số vốn đầu tư của FPT, EVN sẽ vực dậy được lĩnh vực viễn thông vốn đang chịu nhiều thua lỗ nhất. Ngay cả số tiền đặt cọc 12% (tương đương hơn 700 tỷ đồng), giới chuyên gia và người trong cuộc đều cho rằng, FPT sẽ sớm thu hồi lại, vì nhiều điều khoản trong hợp đồng đã thay đổi.

    Nguyên nhân thua lỗ của EVN từng được giới chuyên gia mổ xẻ và nguyên nhân chính là do việc quản lý điều hành quá yếu kém, chiến lược đầu tư kinh doanh phạm phải sai lầm nghiêm trọng. Cụ thể, đó là việc đầu tư ngoài ngành tràn lan, đặc biệt tập đoàn này đã mạo hiểm dốc tiền vào viễn thông khi lĩnh vực kinh doanh này lúc đó đã trong tình trạng bão hòa. Đầu tư vào lĩnh vực viễn thông với một số vốn không nhỏ, trong khi không đủ sức cạnh tranh với các đối thủ khác cả về cơ sở vật chất lẫn dịch vụ như Viettel, VinaPhone, MobiFone, đã khiến EVN rơi vào thế “đâm lao đành theo lao”, đã lỗ ngàng càng lỗ nặng.

    Gần đây, có tin Tập đoàn VTC sẽ nhảy vào “thế chân” FPT khi mua cổ phần của EVN với mức 12%. Tuy nhiên, trả lời báo chí về vấn đề này, ông Lê Khả Dân, Phó tổng giám đốc VTC, khẳng định: “VTC chưa phát ngôn chính thức về vấn đề này”. Qua đó cho thấy, cơ hội dành cho EVN vực khỏi thua lỗ và khủng hoảng không thực sự nhiều.

    Mỗi ngày Petrolimex mất hơn 7.000 tỷ đồng

    Trong khi Tập đoàn Điện lực Việt Nam liên tiếp chịu thua lỗ từ năm 2010 đến nay thì tình hình đầu tư kinh doanh của Tổng công ty Xăng dầu Việt Nam (Ptrolimex) trong mấy tháng đầu năm 2011 cũng không khả quan hơn. Từ giữa tháng 2, trong cuộc gặp giữa Thường trực Chính phủ với các tập đoàn, tổng công ty Nhà nước, Tổng giám đốc Petrolimex, ông Bùi Ngọc Bảo công bố, với mức giá xăng bán ra trên thị trường thời điểm đó so với giá nhập khẩu (thời điểm tháng 2) thì mỗi ngày Petrolimex phải chịu lỗ hơn 7.000 tỷ đồng.

    Tổng kết quý I mới đây, Petrolimex cho biết, thống kê nhanh của đơn vị cho thấy, tính đến ngày 31/3, tổng công ty này đã lỗ 2.650 tỷ đồng từ việc bán xăng dầu. Nếu như EVN thua lỗ được cho là do sai lầm về chiến lược đầu tư kinh doanh thì với Ptrolimex nguyên nhân thua lỗ do đâu, liệu có phải là chỉ do xăng dầu bán ra trong nước bị kìm giá như phía Petrolimex nói? Vậy việc Chính phủ lập Quỹ Bình ổn giá xăng và từ trước tới nay, giá xăng vẫn luôn luôn được điều chỉnh tăng theo cơ chế thị trường (cụ thể chỉ trong một tháng trước, xăng tăng giá 2 lần) không có ý nghĩa gì? Câu trả lời có lẽ còn đợi phía cơ quan chức năng, kiểm toán vào cuộc.

    Những ngày cuối tháng 7, tháng 8/2010, báo chí trong nước đồng loạt đăng tải nhiều bài vở phê phán việc quản lý và hoạt động của tập đoàn Vinashin, khi tập đoàn này để khoản thua lỗ và nợ nần lên tới 80.000 tỷ đồng, một con số khiến cả nước phải kinh hoàng. Nguyên nhân kinh doanh thua lỗ là do Vinashin đầu tư dàn trải, việc quản lý dự án, công nợ, dòng tiền... còn nhiều hạn chế, yếu kém. Tuy nhiên, cũng như vụ ACLII của Agribank, giới chuyên gia và nhiều người cho rằng, đây không chỉ là vấn đề quản lý yếu kém, trình độ có hạn, mà còn là sự biến tấu của đồng tiền của nhà nước một cách không minh bạch.

    Tập đoàn này từ ngày 1/7 đã trở thành Công ty TNHH Một thành viên với số vốn điều lệ 14.655 tỷ đồng. 12 công ty con của Vinashin cũng sẽ được chuyển sang các Tập đoàn Dầu khí (PVN) và Tổng công ty Hàng hải Việt Nam (Vinalines).

    Ngoài những doanh nghiệp Nhà nước lớn kể trên, rất nhiều doanh nghiệp hoặc công ty con của các doanh nghiệp Nhà nước khác cũng đã và đang rơi vào tình trạng thua lỗ nặng. Theo số liệu Kiểm toán Nhà nước công bố vào cuối năm 2010, kết quả kiểm toán 183 trong số 242 doanh nghiệp hạch toán độc lập thuộc 20 tổng công ty nhà nước cho thấy, chỉ 88% (161/183) doanh nghiệp có lãi. Tổng lợi nhuận trước thuế của 20 tổng công ty nhà nước này đạt hơn 16.600 tỷ đồng.

    Các tổng công ty bị thua lỗ khá lớn có thể “điểm mặt” như Tổng Công ty Cơ khí Xây dựng lỗ lũy kế tính đến 31/12/2008 là 39 tỷ đồng, Tổng Công ty Công trình giao thông 6 lỗ gần 68 tỷ đồng, lỗ lũy kế 149 tỷ đồng, Tổng Công ty Cà phê tuy báo cáo lãi 199 tỷ đồng nhưng lỗ lũy kế 525 tỷ đồng.

    Ngoài ra, thời điểm đó, Kiểm toán Nhà nước cũng phát hiện nhiều tổng công ty tồn tại các khoản nợ lớn khó đòi như Tổng Công ty Lương thực miền Nam có khoản nợ khó đòi 56 tỷ đồng, Tổng Công ty Xây dựng Hà Nội: 51,2 tỷ đồng, Công ty Thương mại và Xuất khẩu Viettel (thuộc Tập đoàn Viettel): 79 tỷ đồng…

    Nguồn: Báo Đất Việt