Paul Watzlawick - Đặc thù của những “thực tế” tư tưởng

  • Bởi Admin
    15/04/2011
    3 phản hồi

    Paul Watzlawick<br />
    Lề Trái dịch<br />
    Bản dịch kính tặng bác Hà Sĩ Phu

    Từ tư tưởng có thể được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau, nhưng gộp chung có hai phần chính: giả định cơ bản rằng một hệ thống tư tưởng (ý thức hệ) giải thích thế giới theo một quan điểm nhất định, và thứ nhì, nguyên tắc cơ bản, bao gồm tất cả (và vì vậy thường gắn liền với) đặc tính của lý tưởng.

    Bài nghiên cứu này nhằm khảo sát “thực tế” nào đã được dựng lên khi một người cho rằng cách nhìn về thế giới của mình là tuyệt đối. Hơn nữa, các đặc thù khác nhau được trình bày ở dạng tóm lược (các đoạn in nghiêng) và bổ sung bằng các dẫn chứng biểu hiện hay những ví dụ cụ thể. Các dẫn chứng không nên xem như chứng cứ, mà nên được xem như những minh hoạ mang tính chất giai thoại, ẩn dụ và khảo cứu cho những ảnh hưởng cụ thể; vì lý do đó, chúng được biên soạn rất nhiều những môn và nguồn mà không hề đòi hỏi tính trọn vẹn.

    Chúng ta bắt đầu bằng chính một đề luận: Bản chất thực sự của một lý tưởng không liên quan tới thực tại tạo ra bởi sự cộng nhận một lý tưởng. Nó có thể hoàn toàn mâu thuẫn với một lý tưởng khác. Tuy nhiên, những kết quả, là những sự rập khuôn đến kinh ngạc.

    Đối với một nhà tư tưởng – như chúng ta đôi lần, mặc dù không đúng lắm, gọi kẻ sáng lập hoặc đấu tranh cho một tư tưởng – luận đề này thật vô lý. Và hắn có vẻ đúng. Theo nội dung, đức tin của Torquemada, Huyền thoại của thế kỷ 20 (Myth of the 20th Century), quan điểm tuyệt đối mang tính “khoa học” của Marx và Engels về thực tế xã hội, những luận đề khá thuyết phục của nhóm Baader – Meinhof khác nhau hoàn toàn. Dù vậy, một loạt những thí dụ như Toà dị giáo, trại tập trung, trại cải tạo hoặc cảnh khủng bố là những biến chứng kinh hoàng không thể chối cãi. Cho dù nạn nhân bị sát hại bởi đao phủ của Pinochet hay Cộng Hoà Ireland, hành động này không cho phép nhân danh một mục đích cao cả cho bất cứ một tư tưởng nào. Sử gia người Anh Norman Cohn nói về hiện tượng này trong cuốn Cuộc theo đuổi Thế kỷ (The Pursuit of the Millenium):

    Trong lịch sử hoạt động xã hội, có một số tiến trình cứ lập đi lập lại, càng lúc càng lộ rõ sự giống nhau đến mức hiển hiện. Rõ nhất là những phong trào quần chúng phấn khích, chủ đề của cuốn sách này. Rất nhiều lần, người ta nhóm họp lại trong hàng nghìn những phong trào cách này hay cách khác vào những giai đoạn khác nhau của lịch sử, ở những nơi khác nhau trên thế giới và trong những xã hội với những khác bịêt lớn lao về thể chế và khoa học kỹ thuật, về giá trị và niềm tin. Các phong trào này khác nhau về bản chất từ [những phong trào] bạo động nhất cho tới hoà bình nhất, và với mục đính từ cao cả nhất cho tới tầm thường nhất […] nhưng chúng đều hiện diện những điểm tương đồng và dị biệt; và càng nhiều những phong trào nổi loạn kiểu xã hội có vũ trang cuối thời Trung Cổ trong những phong trào toàn trị hiện đại, càng xuất hiện nhiều điểm tương đồng. Những phù hiệu và khẩu hiệu cũ đều được thay mới, nhưng cấu trúc và những mơ tưởng dường như không đổi.[1]

    Những xuất xứ tuyệt đối phi thực của tư tưởng

    Vì trật tự của vũ trụ thường khó hiểu đối với người thường, sức thuyết phục của một lý tưởng càng cao thì nó càng phải dựa vào, một nhân vật phi thường, siêu phàm hoặc ít nhất một nhà sáng lập đại tài.

    Quyền lực tối thượng, và vì thế được viện dẫn thường xuyên nhất, là lời của người sáng tạo ra thế giới. Nếu Đấng đó hiện hữu, ta có thể cho rằng Đấng sáng tạo biết được sự nguồn gốc, ý nghĩa, tiến triển và ngày sau hết của thế giới. Nhưng đồng thời xuất hiện câu hỏi rằng làm thế nào Đấng đó bảo đảm rằng sự thông hiểu và ý muốn ]của Đấng đó] được truyền bá. Vì vậy cần có một người diễn giải. Như lịch sử loài người đã chứng minh, kẻ diễn giải này phải xuất phát từ cả hai nguồn, thần thánh và con người; quỷ sứ, thiên thần, tiên tri, thông thái – những tiên tri mù và thiên sứ thường có mẹ là người trần, xuất hiện và rao giảng lời thông thái của Đấng này.

    Những hiện tượng tương tự cũng xảy ra ở thế giới vô thần, đưa ra những suy diễn tuyệt đối về thế giới: các hệ thống triết học, tính thiên tài hoặc viễn đoán của một vài cá nhân nào đó, tính vô khả luận của sự hợp lý, của “lẽ thường”, hoặc của sự áp đặt thô lậu, mỗi điều được định nghĩa một cách rất riêng biệt. Những điều này đóng vai trò quyền lực tối thượng. Chưa kể thường nhật, ta thêm vào những thứ như sự thật hiển nhiên và tuyệt đối của những thế giới quan mang tính khoa học. Thêm vào đó là những thành kiến bất khả luận, vả một lãnh vực của truyền thống, sự mê tín, và sự lạ thường của những tin đồn. “Khi cả thành phố cùng nói về một điều gì, chắc là có gì đó,” là câu trả lời mà một nhóm những nhà xã hội học nhận được khi tìm hiểu về xuất xứ và sự lan truyền của một lời đồn ở Orleans.[2] Sự thật “toàn vẹn” quả thật là hiển nhiên, chứ không phải [thuộc về] xác suất. Nghi ngờ thật không cần tới. Để trả lời tại sao Cuba không cho phép Hội Chữ Thập đỏ Quốc tế tới thăm viếng các nhà tù, Fidel Castro đơn giản nói với phóng viên một đài truyền hình Mỹ, Barbara Walters:

    Chúng tôi hoàn thành nhiệm vụ và nguyên tắc của mình. Chúng tôi luôn nói sự thật. Nếu ai đó nghi ngờ sự thật này, họ có quyền của họ, nhưng chúng tôi sẽ không cho phép người nào thử thách tính xác thực hoặc đả kích sự thật của chúng tôi.[3]

    Một cách để tránh né đả kích và cả bàn luận là trình bày sự thật một cách khó hiểu hoặc thay bằng một thứ công thức hoàn toàn vô nghĩa đến độ - một cách tối nghĩa đến – nó có vẻ vừa khoa trương và đồng thời [có vẻ] sâu sắc. Một ví dụ điển hình là định nghĩa về tự do của Michael Alexandrovitch Bakunin. Kẻ chủ trương của chủ nghĩa khủng bố, kẻ đào huyệt chôn vùi tự do, viết trong Huấn dạy Cách mạng (Revolutionary Catechism):

    Thật không đúng khi tự do của một cá nhân bị giới hạn bởi tự do của những người khác khác. Một người thật sự tự do khi tự do của mình được người khác chấp nhận và phản ánh bởi sự động thuận hoàn toàn tự do của những người xung quanh [người đó], tìm được sự xác nhận và mở rộng sự tự do của họ.

    (Kiểu ba hoa như vậy, ngày nay được biết đến dưới tên gọi không mấy hay ho “Đảng Trung Quốc.” (Party Chinese))

    Ngộ nhận về sự cần thiết của tư tưởng

    Có lẽ sẽ vô ích nếu muốn bàn về tại sao sự hiện diện một thế giới quan tuyệt đối lại vô cùng quan trọng đối với chúng ta. Loài người chúng ta và – theo như một số nghiên cứu đương đại về động vật linh trưởng cho thấy – một số động vật bậc cao có vẻ không chịu đựng nổi về tâm lý nếu phải sống trong một thế giới không có ý nghĩa và trật tự. Vì vậy, nó cần một thứ gì đó để lấp chỗ trống, vì khoảng trống này nhẹ lắm sẽ có thể làm chúng ta chán nản, và trong trường trường hợp nặng có thể dẫn đến tâm thần và tự tử. Nhưng khi có rất nhiều thứ bị đe doạ, thế giới quan, nếu có, phải vững chắc và giải quyết được tất cả các vấn đề.

    Gabriel Marcel nhìn cuộc sống như một cuộc chiến đấu chống trả tính hư vô. Toàn tập của Victor Frankl cho ta một kho tàng dẫn chứng về việc con người có thể nhuốm bệnh vì cảm thấy thiếu ý nghĩa, và ngược lại, những người có lý do để sống có thể chịu đựng hầu hết mọi điều kiện (Nietzsche).

    Vậy có phải chỉ khi đói bệnh, hay an toàn cá nhân bị đe doạ mà một cá nhân sẽ dễ bám theo một lý tưởng nào đó? Tương tự, thời loạn lạc về chính trị và xã hội có dẫn tới số đông gia nhập? Không hẳn vậy. Orwell viết trong Khảo Luận (Essays) của ông,

    Các nhà văn hàng đầu những năm 20 thường bi quan. Và phải chăng bởi vì tất cả những người này đang viết trong một giai đoạn [xã hội] thịnh vượng khác thường? Chính những thời như thế mà “khủng hoảng về vũ trụ” có thể phát triển. Những kẻ đói khát chưa bao giờ buồn chán về vũ trụ, họ không cả nghĩ về nó nữa.[4]

    Như chúng ta sẽ thấy sau này, việc đòi hỏi tìm kiếm về những câu hỏi cháy bỏng có vẻ là biểu hiện của một xã hội no đủ. Không thể chối cãi xã hội thoái hoá sẽ dẫn đến bất an. Hơn thế, khó ai có thể cãi rằng tình trạng khốn cùng là môi trường tốt cho những cố gắng vô vọng nhằm thay đổi những hà khắc bằng vũ lực. Nhưng như Lenin đã nhận ra, những cuộc nổi dậy tự phát không bắt nguồn từ một ý thức cách mạng hiện có, mà là “một biểu hiện của tức giận và vô vọng hơn là một cuộc đấu tranh”. Khát vọng về một xã hội không tưởng (utopia) có vẻ như bắt nguồn không phải từ nghèo túng. Như trường hợp phản kháng của phong trào hippy tại Mỹ, theo nhà xã hội học Walter Holstein, là một phong trào

    Do lớp thanh niên được mọi ưu đãi của xã hội phát động. Không phải ghen tức hoặc tham vọng đã dẫn tới những cuộc nổi loạn của thế hệ hoa, mà là thừa mứa và khát vọng cho những thay đổi.[5]

    Nghịch lý của những Giá trị Vĩnh cửu

    Lý tưởng nào tự nhận mình là tiếng nói cuối cùng sẽ dẫn tới một nghịch lý tồn tại hàng mấy thế kỷ. Nghịch lý này, dù vậy, cho phép một hệ thống ý tưởng giải quyết những mâu thuẫn lớn nhất một cách rất dễ dàng. Đó là việc đưa giá trị số không hoặc vô tận vào những phương trình toán học và kết quả của chúng.

    Quan ngại về cách dùng bất cẩn hai giá trị này được Zeno trình bày, dù cách đây đã gần 2500 năm, cho thấy khá rõ những nghịch lý. Ví dụ như câu chuyện Achilles nổi tiếng chạy nhanh – ngược với mọi lệ thường – “phải” thua trong cuộc đua với con rùa. Từ thời đó, nghịch lý về giá trị vô tận (từ ngữ của thời Bernhard Bolzano[6]) đã tạo nguồn cảm hứng để loài người không ngừng chế ra những phiên bản mới hấp dẫn hơn, như Arthur Schwitzer đã tả trong truyện Bay vào đêm đen (Flight Into Darkness):

    Anh nhớ tới một lần vài năm trước, Leinbach đưa ra bằng cứ rằng cái chết không thể xảy ra. Không nghi ngờ gì nữa, Leinbach tuyên bố, không chỉ những kẻ sắp chết đuối, mà mọi cái chết, sẽ sống lại toàn bộ cuộc sống của mình trong giờ phút cuối với một tốc độ không tưởng. Cái cuộc sống này cũng có giờ phút cuối, giờ phút cuối này lại có giờ phút cuối của chính nó, và cứ như thế ; vì vậy cái chết tự bản thân là vô tận: theo thuyết giới hạn một người có thể tiến gần đến cái chết nhưng không bao giờ chết.[7]

    Năm 1940, Arthur Koestler xuất bản cuốn sách nổi tiếng Bóng tối giữa Ban ngày (Darkness at Noon). Bản tiếng Pháp tựa là Số không và Vô Tận (Le Zéro et l’Infinity),[8] một tựa đề vượt trội nguyên tác. Cuốn sách viết về hậu quả chính trị khi đưa số không và vô tận – Koestler trình bày rõ trong các tác phẩm khác của mình – vào bài toán xã hội:

    Tôi nhớ một câu của Malreaux trong Les Conquérants: “Une vie ne vaut rien, mais rien ne vaut en vie.” Trong xã hội, cuộc sống là số không, với vũ trụ, là vô tận. Mọi học trò đều biết rằng khi số không và vô tận được đưa cả vào một bài toán nhất định, phương trình sẽ bị đảo lộn và bạn có thể chứng minh ba sẽ bằng năm hoặc năm trăm. Không chỉ chủ nghĩa Cộng sản mà bất kỳ một phong trào chính trị nào mang trong mình thuyết vị lợi (utilitarian) đều trở thành nạn nhân của một sai lầm chết người. Điều sai lầm có khi đơn giản như một bài toán đố, nhưng hậu quả dẫn thẳng đến Thảm hoạ của Goya, tới bục máy chém, tới phòng tra hình của Toà Dị giáo, tới tầng hầm trại tập trung Lubianka. Cho dù, con đường đó có được trải bằng trích dẫn của Rousseau, Marx, Christ hay Mohammed, kết quả cũng vẫn vậy.[9]

    Từ những gì đã nói, có thể nhận ra – gần như chắc chắn – rằng mục đích cuối cùng của mọi tư tưởng sẽ phải là một thế giới không tưởng, và vì vậy vô nhân.

    Ở đây, thuyết của Rousseau, lấy ra từ kho đồ cũ và phủi bụi lại, nói về tính bản thiện của một con người và cái xã hội đã thoái hoá hắn, đang trở lại với vinh quang. Tuy nhiên, không rõ vì sao, ngay cả thời Rousseau, toàn những người tốt lại thoái hoá thành những quyền lực ma quỷ chịu trách nhiệm cho những áp bức, điên loạn, tự tử, ly dị, nghiện ngập và tội ác. Năm 1945, Karl Popper, trong cuốn Kẻ thù của Xã hội Mở (Open Society and Its Enemies),[10] đã đưa ra lời nhận định nhãn tiền: Thiên đàng của một xã hội hoang sơ nhưng hạnh phúc (chưa bao giờ tồn tại) đã hoàn toàn mất cho tất cả những ai ăn quả từ cây kiến thức. Nếu chúng ta càng cố gắng trở về thời huy hoàng của đời sống bộ lạc, Popper cảnh báo, điều chắc chắn xảy ra là Toà Dị giáo, công an chìm hoặc những tập đoàn tội phạm được lãng mạn hoá. Một khi những vấn nạn hiện sinh của cá nhân, vốn tốt lành, có thể đổ lỗi cho một xã hội “đen tối”, không gì ngăn cản được trí tưởng tượng phong phú. Một xã hội phúc lợi phi quyền lực chỉ là chuyện huyễn hoặc. Vì vậy Marx & Engels, ví dụ, nhận ra một kiểu biểu hiện quyền lực của giới tư bản trong sự phân chia không thể tránh được về lao động giữa những cá nhân và nhanh chóng nghĩ ra cách giải quyết:

    Ngay khi lao động bị phân chia, mỗi cá nhân có riêng hẳn một lãnh vực hoạt động, hắn bắt buộc bị lệ thuộc và không cách chi thoát ra được. Hắn có thể là thợ săn, dân chài, chăn cừu hoặc phê bình, và phải giữ nguyên tình trạng như vậy nếu không muốn mất nguồn sống; còn trong xã hội cộng sản, nơi không ai có một lãnh vực riêng biệt nhưng mỗi cá thể có thể trở nên hoàn hảo trong bất cứ lãnh vực nào hắn mong muốn, xã hội điều hành việc làm ra của cải vì vậy cho phép tôi có thể thực hiện việc này hôm nay, việc kia ngày mai, có thể đi săn buổi sáng, đánh cá buổi chiều, chăn gia súc buổi tối và viết phê bình sau khi ăn tối, chì vì tôi có tư duy, mà không cần phải trở thành thợ săn, ngư phủ hoặc nhà phê bình.[11]

    Tôi muốn thấy tất cả những người bị áp bức được tự do. Và điều duy nhất ta phải làm là tiến tới một xã hội cách mạng nơi mọi đòi hỏi và ước muốn của mọi người được tôn trọng.” Với những lời này, giáo sư cực đoan môn Triết học Angela Davis diễn giải ước mơ của tiên tri Isaiah vào thời cổ đại về con sư tử nằm bình thản cạnh con cừu trong một thế giới tốt toàn vẹn. Nhưng những gì nhà tiên tri có lẽ không thể nào biết được được trình bày rõ ràng không cần giải thích trong câu đầu bản điều trần của quốc hội Pháp đến Napoleon I: “Thưa ngài, khát vọng về sự hoàn thiện là một trong những căn bệnh trầm kha nhất ảnh hưởng đến tư tưởng con người.” Các tác giả của câu này dĩ nhiên đã có thể tận dụng những thành quả đáng ngờ của việc trực tiếp trải nghiêm và tồn tại được hậu quả của cố gắng giới thiệu những [khái niệm] tự do, bác ái và bình đẳng.

    Những kỳ vọng không tưởng còn được hỗ trợ từ nhận định kẻ bị áp bức sẽ trở thành kẻ tranh đấu cho những giá trị nhân loại cao đẹp sau khi được giải phóng vì chính họ đã kinh qua áp bức và bất công. George Bernard Shaw đã chỉ ra sai lầm này trong lời tựa cuốn Cẩm nang người cách mạng (The Revolutionist’s Handbook): “Cách mạng chưa bao giờ làm nhẹ gánh nặng của bạo tàn, chúng chỉ di chuyển nó sang một bờ vai khác.” Tại sao những lý tưởng cao đẹp nhất trở thành sự đàn áp khủng khiếp nhất là vấn đề sẽ được bàn tới trong bài luận này. Rằng những gì xảy ra trong quá trình dẫn tới xã hội không tưởng đã được lịch sử liên tục minh xác từ thời Plato cho tới gần đây. Và một người phải nhớ rằng các lý tưởng thời cổ điển chỉ hiện hữu trong đầu các tác giả của chúng và trên những trang giấy của các luận thuyết. Tuy vậy, các khuôn mẫu xã hội không tưởng này có đầy đủ đặc trưng của đàn áp, ngay cả khi những khuôn mẫu này chưa bao giờ được thực hiện. Wolfgang Kraus nhận định về điều này trong Sự ngưỡng mộ bị phản bội (Betrayed Adoration, Die verratene Anbetung):

    Nếu một người xem xét các mô hình xã hội không tưởng cổ điển để thấy các giá trị quan trọng đối với các tác giả của chúng, người đó sẽ đưa đến một kết quả lạ lùng. Từ nền Cộng hoà (Republic) và Luật (Law) của Plato tới chương về Lycurgus của Plutarch, tới Xã hội không tưởng (Utopia) của Thomas More và Nhà nước tươi đẹp (State of the Sun) của Campanella, cho tới Atlantis của Francis Bacon và nhiều tác phẩm nữa, sự ra đời kinh hoàng của những trật tự thiết lập bằng bạo lực tự hiển hiện. Các thể chế độc tài ngày nay, so với những cái gọi là nhà nước tối ưu trong các tác phẩm đề cập, có thể xem là thành luỹ của tự do.[12]

    Dù vậy, thế giới vẫn theo chân những kẻ dụ dỗ lý tưởng cho tới kết cục bi thảm. Những gì còn lại là thất vọng và niềm tin đổ vỡ, như thể không nhận thấy kết cục này ngay từ đầu Max Frisch diễn tả điều này với sự cô đọng đáng nể trong Giương cao ngọn lửa (The Fire Raisers):

    Những gì mọi người dự đoán
    Từ đầu,
    Cuối cùng lại xảy ra,
    Đần độn,
    Quá trễ để dập lửa,
    Chính là số phận.

    Mỗi người có cách chấp nhận nỗi đau của ảo tưởng khác nhau. Tháng 3, 1979 Nicklaus Meienberg viết trên tờ das Konzept,

    Hàng nhiều năm trời, chúng ta đã ngoảnh mặt với những gì có thể bôi xấu hình ảnh đẹp đẽ của xã hội chủ nghĩa, hoặc vì điều kiện lịch sử xã hội nhất định, ta đã biện hộ cho cuộc tranh đấu ở Thuỵ Sĩ, tới khi Việt Nam của chúng ta tiến vào Cambodia theo cách đặc thù, với bom đạn kiểu Mỹ, xe tăng và chiến thuật Blitzkrieg […] một vài người mới nhận rõ Khmer Đỏ đã phạm tội diệt chủng. Nhưng không phải trước đó.[13]

    Và tờ Zeitdienst ở Zurich phàn nàn,

    Sau Prague, Ethiopia và Cambodia, ngày nay không thể còn những phong trào cấp tiến giải quyết những đối kháng cơ bản bằng bạo lực. Có thể đây là bài học chính cho thế hệ kế tiếp, không còn những ví dụ chính trị tốt đẹp. Thời của những khuôn mẫu chính trị đã chấm dứt.[14]

    Nghịch Lý của Hoàn Thiện và Vô Tận

    Dù ngoài mặt, phần tư duy có nguyên tác và mãnh liệt đến mấy, hay hệ thống tư tưởng nhìn có vẻ chặt chẽ tới đâu đi chăng nữa, lý tưởng nào cũng tồn tại một sai lầm nghiêm trọng: nó không thể chứng minh sự đúng đắn hoàn toàn không còn mâu thuẫn của chính nó. Điều kiện cơ bản để xây dựng một lý luận cho mọi thực tiễn được toán học nghiên cứu nhiều nhất – nhất là Kurt Godel – và kết quả có thể áp dụng được cho tất cả hệ tư tưởng mà bản chất phức tạp liên quan tới đại số. Để đạt được sự tự do của nó từ mâu thuẫn, điều không thể tránh khỏi là việc một hệ thống nào đó phải bước ra khỏi khuôn mẫu ý niệm của chính nó để chứng minh tính nhất quán bằng cách sử dụng các hệ thống diễn giải bên ngoài mà tự thân nó không thể tạo ra được. Và tính nhất quán hợp lý của các hệ thống bên ngoài (metaframe) này – đúng hơn, khung ý niệm – sẽ phải được thử nghiệm bởi một hệ thống đầy đủ hơn, và cứ như vậy tiếp tục mãi. Ta biết từ Whitehead và Russell rằng cái gì tổng thể không thể là một phần của cái tổng thể đó được, nghĩa là không thể lấy mình làm chứng mà không rơi vào nghịch lý của tự đối chứng (self-reflexivity). Kẻ nói dối nổi tiếng tự tuyên bố “Tôi đang nói dối” là ví dụ đơn giản nhất của nghịch lý này. Nếu thật sự hắn nói dối thì câu nói đó đúng. Nếu câu nói đó đúng thì [câu nói đó] không [còn] đúng nếu nói hắn nói dối. Vì vậy, thật ra hắn nói dối khi hắn nói rằng hắn nói dối. Vì vậy hắn nói dối … và cứ thế. Nói cách khác, câu nói “Tôi đang nói dối” cùng một lúc ám chỉ một tổng thể (từ toán học: tập hợp) của câu nói và một phần (phần tử) của tổng thể, chính câu nói. Ở đâu tập hợp và phần tử không được phân biệt rõ ràng, nghịch lý quen thuộc về tự đối chứng trong lập luận cơ bản xuất hiện. Bản đồ không phải vùng đất đó; cái tên được đặt không phải bản chất thật của sự vật; một cách nhìn về thực tế chỉ là một cách nhìn mà không phải thực tế thật sự. Chỉ có kẻ điên mới ăn tờ thực đơn thay vì các món ăn trong thực đơn.

    Kant đã nhìn ra đủ loại sai lầm kiểu này trong cách ta quyết định, phân chia và giảm thiểu khái niệm cho chất lượng của mọi vật trong và của chính nó.

    Vì vậy, khi một thế giới quan, ví dụ một tư tưởng, tuyên bố có thể giải thích tất cả, một việc không thể giải thích được lại là chính hệ thống giải thích đó. Và điều này dẫn tới việc mọi tuyên bố về hoàn hảo và tuyệt đối đều sụp đổ. Popper đã chỉ ra điều này trong cuốn Gần đúng và phản biện (Conjectures and Refutations),[15] trong đó, ông khẳng định rằng không lý thuyết nào có thể chứng minh tính tuyệt đối. Ta chỉ có thể rút kinh nghiệm từ sai lầm; và không thể biết được chắc chắn. Vì thế, không một quyền lực nào có thể coi là tối thượng. Tất cả những gì chúng ta có thể đạt tới là những tiệm cận của một sự thật không hoàn toàn dễ hiểu.

    Nhà lý luận học người Anh Lucas nói rõ về đề tài này:

    Công bằng mà nói một số tư tưởng, không chỉ với thuyết tất yếu (determinism), sẽ rơi vào bẫy của chính mình. Một người Marxist nói rằng mọi tư tưởng không thể mang tính chính đáng độc lập và chỉ biểu thị quyền lợi giai cấp của những người trong nhóm, ta cũng nói trong trường hợp này, quan niệm của anh ta cũng chỉ biểu hiện quyền lợi kinh tế của giai cấp mình và cũng không đúng và chính đáng hơn những quan điểm khác. Người theo Freud cũng vậy, nếu hắn cho rằng tư tưởng của người khác chỉ là kết quả của những trải nghiệm thời thơ ấu, theo biện luận đối xứng, chỉ đưa ra các phản ứng trễ với những gì xảy ra cho hắn khi còn ấu thơ. Kẻ theo luật tất yếu cũng thế. Nếu những gì hắn nói là đúng, những gì hắn nói chỉ là hệ quả của di truyền và môi trường, ngoài ra không còn gì khác. Hắn bảo tồn quan điểm của mình không phải vì nó đúng, mà vì hắn bị ảnh hưởng bởi một số thành tố nhất định; đó là, không phải cấu trúc của thế giới là như thế mà chỉ một phần nhỏ của thế giới cộng với cấu trúc của bộ não của kẻ theo thuyết tất yếu đã đưa đến kết quả như vậy.[16]

    Nhưng cái thiếu sót không thể bù đắp này trở thành là không thể chấp nhận được đối với kẻ theo đuổi lý tưởng. Cách hiểu của hắn phải đúng tuyệt đối; nó phải chứng minh được tất cả và vì vậy nó phải mang sẵn trong mình một thứ chân lý. Trong việc cố gắng đạt được cái không thể, bên chính trị dở hơn nhiều so với các đồng nghiệp (confrères) bên tôn giáo. Lý do tại sao đạo Thiên Chúa, lấy ví dụ, vẫn còn tồn tại với khá đông tín đồ chính nhờ đẩy lùi việc hiện thực hoá ước mơ của Isaiah về con sư tử ăn chay tới tận cùng của thời gian. Vì vậy tôn giáo không phải giải quyết những mâu thuẫn đối kháng bằng cách đưa vào khái niệm vô tận. Cho nên sự tồn tại của ma quỷ, dù không được chấp nhận, ít nhất cũng được tương đối hoá. Dù rằng những vấn đề khác, như khái niệm về đày đoạ vĩnh viễn những kẻ không ăn năn, tội tổ tông, Thượng Đế có bị chính luật mình sáng tạo chi phối hay có thể làm được chuyện phi thường đều không có câu trả lời. Những câu hỏi này đã dẫn Basilades, khoảng thế kỷ II, tới một suy luận dị giáo (heretical) rằng vũ trụ là một ngẫu hứng tuỳ tiện và nguy hiểm của đám nửa thần nửa thánh. Kẻ lý tưởng chính trị không thể chờ tới ngày Tận thế; đối với hắn, sự hoàn thiện phải xảy ra ngay tức khắc, hoặc trễ nhất phải ngay thế hệ kế. Về điều này, Popper tranh luận

    Đồng bào cần chúng ta giúp. Không thể hy sinh một thế hệ nào cho những thế hệ kế tiếp, cho hạnh phúc lý tưởng [có thể] không bao giờ trở thành hiện thực. Tóm lại, tôi đề nghị nỗi khổ của con người là cấp thiết nhất cho một chính sách khả dĩ, và hạnh phúc không phải vấn đề cần quan tâm. Việc mưu cầu hạnh phúc nên để tự chúng ta.[17]

    Với đòi hỏi sự hoàn mỹ, kẻ lý tưởng bị kẹt giữa lý luận nhị phân đúng và sai của Aristotle với khái niệm bắc cầu (tertium) bị loại bỏ và những trò không lường của một lý luận tự minh chứng đến thất bại. Vì không một lý tưởng nào có thể chịu đựng nổi vấn đề nhân vô thập toàn, như trong luận đề của Ernst-Wolfgang Bockenforde mà theo ông, “các quốc gia tự do hiện đại dựa trên những giả định không thể bảo đảm nếu không muốn hy sinh ngay chính tự do”.[18] Bài luận viết rất sâu xắc về thiếu sót căn bản của tất cả thế giới quan và vì vậy, tất cả các “quân bằng xã hội.”

    Nhóm cực tả đặc biệt tự mắc vào một mâu thuẫn không thể giải quyết của “quân bằng”: Một mặt, con người chỉ là một bánh xe trong một guồng máy khổng lồ của lịch sử đã được định sẵn; mặt khác, hắn tưởng tượng được gọi và phải xoay chuyển lịch sử như một tiên tri khai sáng bằng hành động tuỳ nghi theo chính đề cương của mình. Vậy hắn hành động hay phản ứng? Đề cương của hắn xuất xứ từ chính hắn, vì vậy mang tính tự phát, hay đã được chỉ định từ bên ngoài – có lẽ do những lý luận vững chắc của tiến trình lịch sử chăng? Lenin đã đề cập tới vấn đề này . Trong bài luận nổi tiếng năm 1902 “Những việc cần làm” (What Is to Be Done), ông loại bỏ vấn đề tự phát trong cách mạng và kết luận chắc chắn

    Ta xác nhận ý thức dân chủ xã hội chưa có trong tầng lớp lao động. Ý thức này chỉ có thể du nhập từ bên ngoài. Lịch sử các nước cho thấy tầng lớp lao động, nếu để tự mình, chỉ có ý thức tổ chức công đoàn.

    Và tổ chức ngoại vi nào có thể tạo ra động lực chính? Lạ thay lại chính từ phía đối thủ, Lenin tiếp,

    Thuyết Chủ nghĩa Xã hội, dù vậy, phát triển từ các lý thuyết về triết học, lịch sử và kinh tế của các đại diện có học của các tầng lớp có của cải, giới trí thức. Theo địa vị xã hội của họ, các ông tổ của chủ nghĩa xã hội khoa học, Marx và Engels, thuộc tầng lớp trí thức tư sản.[19]

    Thế thì siêu khuôn mẫu (metaframe) đã là giai cấp tư sản, và ta phải tự hỏi siêu siêu hệ thống nào đã được xử dụng. Thay vì đẩy vấn đề cho tới câu trả lời cuối cùng, mà cách này sẽ dẫn tới thoái vị vô tận đã bàn tới, và cũng dẫn tới mâu thuẫn xác nhận lý tưởng có thể tự minh xác bằng chính hệ thống của mình. Roger Garaudy, cho tới những năm 70 là nhà tư tưởng chính của cộng sản Pháp, cố gắng tiếp cận vấn đề chỉnh chu hơn, nhưng vẫn bị kẹt trong cái bẫy của tự đối chứng – mà trong trường hợp ông này không dẫn tới hậu quả đáng kể nào vì giải pháp đề dẫn vẫn đưa tới thẳng những lâu đài trên mây. Trong cuốn sách của mình, L’Alternative,[20] ông đánh vật với vấn nạn làm sao tầng lớp lao động có thể vượt qua chính họ để đạt tới tự chủ (autogestion) và vì vậy chắc chắn sẽ đạt tới sự tự nhận thức về toàn bộ, thay vì một nhận thức từ bên ngoài. Như nhiều người đã bàn tới, câu hỏi kế được đặt ra:

    Làm sao giai cấp lao động tự mình thoát khỏi sự lệ thuộc này để dẫn tới tự chủ? Câu trả lời của Garaudy trở thành một đề tài thú vị, vì ông ta kết luận ngọt ngào rằng “bước tiến đến tự chủ cũng phải tự quyết.” Và nó mâu thuẫn chính nó […] Tự quyết trở thành một ouroboros (hình tượng con rắn tự cắn đuôi mình - ND) hoặc trích Garaudy lần nữa: “Tự quản là trường học cho tự quản.” Trên thực tế, điều này được thực hiện bằng cách giới lao động lựa chọn kỹ sư và chuyên viên, và có thể đào thải họ bất cứ lúc nào. Nghĩa chính xác của việc này là giới lao động ý thức được khả năng hạn chế của mình vì vậy phải cần đến chuyên viên. Các chuyên viên này phải thông báo, giải thích và thuyết phục, nhưng quyết định cuối cùng thuộc về người lao động. Hay đúng hơn, một mặt giới lao động tự nhận khả năng hạn chế của mình và vì vậy cần đến các chuyên viên, nhưng mặt khác, họ lại trở thành một thứ siêu chuyên viên (metaspecialist) đánh giá các chuyên viên thật sự. Trong lúc Garaudy chỉ trích cách lãnh đạo siêu khoa học của nhà nước tập trung kiểu Stalin, trong mô hình của ông, thành phần cơ bản hay thay lại thực hiện tính siêu khoa học kiểu đó. Ta thấy lại ý của Plato về nước cộng hoà do các nhà thông thái lãnh đạo, một ý tưởng với vô số nghịch lý và hậu quả được đề cập đến trong cuốn Kẻ thù của xã hội mở (Open Society and Its Enemies) của Karl Popper.[21]

    Con người hành động mà chưa “suy nghĩ đến phát bịnh” thường tìm cách giải quyết kiểu Gordias. Martin Gregor-Dellin cho ta một ví dụ thú vị về trường hợp này khi nghiên cứu về mặt ý nghĩa (semantics) của Xã hội Chủ nghĩa ở Cộng hoà Dân chủ Đức. Ông ta phân tích bài diễn thuyết của Erich Honecker và vấp phải câu nói, “Theo thường lệ, Đảng ta sẽ lập kế hoạch và lãnh đạo với hướng nhìn về tương lai.” Gregor-Dellin đáp lại,

    Ở đây lời nói phản thùng kẻ nói dối. Nó lột mặt nạ một kẻ đáng lẽ điều hành lại hành xử như một tên cơ hội. Vì vậy luật pháp không phải do hiện thực kinh tế và xã hội quyết định mà do chính đảng “lập kế hoạch và lãnh đạo theo lệ thường.” Nhiệm vụ của tôi không phải chứng minh Honecker đang đi ngược lại chủ nghĩa Marx. Dẫn chứng cho thấy trong khoảnh khắc, ngôn ngữ độc lập với tư duy đã làm khổ người nói. Cái hiện lên là bản chất bất cần của trung ương đảng trong sự đồng thuận rằng luật lệ thay vì phục vụ, phải được áp đặt.[22]

    Dù vậy, đối với kẻ tin, mọi sự vẫn tốt đẹp.

    Nhìn Đâu Cũng Thấy Kẻ Thù

    (nguyên bản: Heresy and Paranoia; Dị Tín và Hoang Tưởng)

    … weil, so schliesst er messerscharf,
    nicht sein kahn was nicht sein darf.

    Christian Morgenstern

    Cũng như đêm tiếp theo ngày, từ những định kiến của một lý tưởng được đa số chấp nhận, tất cả các tiếng nói khác đều bị coi là dị tín (heresy). Nghĩa nguyên thuỷ của từ vựng hairesis không phải dị tín, mà là sự chọn lựa. Kẻ gọi là dị tín vì vậy có tự do chọn lựa cuộc sống của mình. Nhưng với sự chọn lựa, hắn sẽ va phải mâu thuẫn với lý tưởng, với đức tin, với tôn chỉ. Ở đây cũng rất quan trọng khi chỉ ra nếu không có sự hiện hữu của một tư tưởng chính thống, dị tín cũng không hiện diện.

    Có thể nhận ra vài đặc thù trong quá trình áp bức và thủ tiêu dị tín.

    Ý nghĩ sở hữu sự thật tối thượng đầu tiên dẫn đến thái độ của nhà tiên tri khư khư giữ lấy niềm tin rằng sự thật toàn vẹn sẽ tự hiển hiện. Thời điểm này, kẻ đấu tranh cho lý tưởng sẽ vẫn còn tin vào cải hoá hoặc khả năng thuyết phục được kẻ dị tín. Nhưng khi sự thật lì lợm không tự hiển hiện hoặc không như dự tính, bước kế tiếp chắc chắn phải dẫn tới cái Herman Lubbe gọi là bạo lực tự cho phép. Vì quyền lợi sâu xa của mình, mọi người phải coi chừng. Lubbe khám phá khái niệm này từ tờ Gươm Đỏ (Red Sword), tiếng nói của cơ quan Cheka, xuất bản ngày 18/1/1919. Tờ báo tuyên bố một đường lối khá nổi tiếng “Với chúng tôi, mọi thứ đều được phép” và xác định bằng một lời giải thích đáng kinh ngạc “Tính nhân bản của chúng tôi là tuyệt đối.”

    Lubbe giải thích thế nào những điều như vậy có thể song hành:

    Tư tưởng thuyết lịch sử về lịch sử như trên đã nói […] như một tiền đề về mặt lý thuyết cho việc toàn quyền xử dụng bạo lực đã làm được điều này. Xem xét kỹ về mặt lý tưởng, nó cho ta khả năng khám phá bí ẩn về tâm thức của con người, như người ta ghét khi đáng lẽ phải yêu, tình yêu thương con người ở những kẻ giác ngộ hoàn toàn không bị vẩn đục bởi thất vọng khi ngay cả không ai hâm mộ. Cái tình yêu nhân loại này đã biện hộ cho mọi thứ.[23]

    Vì vậy kẻ cứu nhân độ thế không có sự chọn lựa; hắn phải là bác sĩ giải phẫu vung vẩy con dao cứu rỗi. Hắn không muốn bạo lực, nhưng thực tế (do hắn tạo ra) đã đưa hắn vào con đường bạo lực, không phải [bắt nguồn] từ ý muốn của hắn. Ném quả lựu đạn vào một cửa hàng đông người là một biểu hiện tình yêu cách mạng với nhân loại (và lại dẫn lời Lubbe, “Hoàn toàn không muốn ném lựu đạn vào cửa hàng hay đồn cảnh sát, mà vào ý thức quần chúng”). Trong trái tim của kẻ khủng bố giết người đại trà Felix Dsershinski (lãnh đạo cơ quan Cheka - ND) là “một tâm hồn nhạy cảm tinh tế và thơ mộng, luôn hướng về những kẻ yếu đuối và khốn khổ […] luôn bị giằng co giữa lý tưởng cao đẹp và giết người, chuyện hắn làm thường ngày”.[24] Gunter Grass đã từng nói về kẻ khủng bố Gudrun Ensslin: “Cô ta có lý tưởng, với lòng căm thù sâu sắc tất cả mọi kiểu nhượng bộ. Cô ta hướng về cách giải quyết hoàn hảo[25]”. Ai có thể, chắc chắn tránh làm bẩn tay mình. Himmler, chứng kiến một vụ hành quyết tập thể ở Smolensk, đã xây xẩm mặt mày sau vòng thứ nhì và phải rời hiện trường. Nhưng từ khoảng cách vô nhiễm của bộ chỉ huy, ông ta gửi thư cám ơn cấp dưới đã quên mình để hoàn thành “nhiệm vụ khó khăn.”[26]. Giải pháp cuối cùng (final solution) của Nazis thực ra không quá tham vọng; lý tưởng của họ chỉ phổ biến nội địa, không phải toàn cầu. Họ thoả mãn khi diệt được kẻ thù, vì vậy thực hiện cái mà Elster, trong phần đóng góp của mình vào tập sách này (t. 177); gọi là sự phủ định chủ động (active negation). Kẻ lý tưởng đúng nghĩa muốn biến đức tin thánh thiện của hắn tuyệt đối và vĩnh viễn, cảm thấy cần phải huỷ diệt, tận diệt mọi bằng chứng hoặc ý tưởng mâu thuẫn với hệ thống [của hắn] – theo chiều tư duy của Elster đây là cuộc chiến chống sự phủ định thụ động (passive negation). Nhưng để đạt được điều này, bài bác, cấm đoán và trừng phạt hoàn toàn không đủ. Vì, lại sư phụ Elster, mọi kẻ lý tưởng phải biết mình đang đấu tranh cho điều gì. Đã đưa vào khái niệm vô tận, kẻ lý tưởng tìm cách đưa số không vào phương trình xã hội. “Mày là cái đi ngược lại khuôn mẫu,” kẻ hành hình giải thích cho nạn nhân của hắn trong 1984,

    Mày là một vết nhơ phải được chùi sạch […] Chúng ta không thể để cho một ý nghĩ trái ngược tồn tại trên thế giới này, dù thầm kín hay vô hại tới đâu.[27]

    Một người có thể tiêu diệt những kẻ dị tín, hay hơn nữa – có thể nói, cho sự vĩ đại hơn nữa của lý tưởng (ad majorem gloriam ideologiae) – đày đoạ tinh thần của họ đến nỗi họ không những phải chấp nhận bản án vô lý nhất trong thứ toà án khỉ (kangaroo courts), mà còn phải cầu khẩn để được tiêu diệt. Nhưng theo những nguyên tắc lý luận, một người không đối mặt với kẻ thù bằng xương bằng thịt, mà đúng hơn, một ảo ảnh (fata morgana) do não trạng tạo ra đã che dấu thực tế khỏi kẻ kiến tạo (ra thực tế đó). Như đã nói, khái niệm về một thế giới quan tuyệt đối có nghĩa không cách nhìn nào khác có thể tồn tại ngoài cách nhìn này, hay chính xác hơn, không có quyền tồn tại. Vì nếu không, ta sẽ thấy mình ở trong thế giới mà mọi thứ đều đúng, cả trong những đối lập. Khi kẻ lý tưởng cố tự đối chứng mình để thiết lập tính chính xác và sự thật của chính chúng, một điểm mù xuất hiện đúng như Heinz von Foerster nói ở trang 43 tập sách này:

    Lưu ý trong điểm mù, ngay cả một khối đen cũng không cảm nhận được trong tầm mắt (nhận thấy một khối đen cũng có nghĩa nhìn thấy). Nghĩa là điểm mù hoàn toàn, không nhận thấy một thứ gì hiện hữu hay không hiện hữu. Những gì cảm thấy không có cả một hình thù.

    Điểm mù này, hay điểm tự mù, tạo cho kẻ tin vào một lý tưởng khả năng tin vào một sự thật tuyệt đối và hoàn hảo của lý tưởng. Tuy nhiên, khi công bằng xã hội không hiện ra, rõ ràng không phải lý tưởng cao đẹp sai mà chắc chắn phải có kẻ thù nguy hiểm ẩn núp đâu đó chờ dịp cản phá bình minh của thiên niên kỷ mới, hoặc một tên ký sinh đôi khi tự lột mặt nạ với từ ngữ hắn dùng, những từ ngữ thoái hoá khỏi một thứ ngôn ngữ đã trở thành bắt buộc. “Không được thay đổi sự thống trị của ngôn ngữ” Schneider viết về thời Nazi, “tội lỗi chính là nổi loạn chống lại nó. Cuối cuốn sách của Klemperer,[28] câu trả lời của người phụ nữ thường dân về việc chồng mình bị đưa đi trại tập trung ‘vì bày tỏ ‘, chị ta nói”.[29] Tay hài hước Ba Lan Wieslaw Brudzinsky khôn hơn, một trong những câu đùa của ông, “Ông ta hay bắt đầu bài diễn văn một cách vô hại ‘Nếu tôi có thể nói điều này, như Engels đã nói …’

    Như các triết gia khác, Leibniz đánh vật với điều không thể giải quyết được giữa thế giới đầy những thiếu sót và sự hoàn thiện của Thượng Đế. Trong kết luận nguyên tắc nổi tiếng của mình, ông đã nhận định nếu thế giới hiện hữu không phải tốt nhất, Thượng Đế có thể không biết, không thể hoặc không muốn tạo ra một thế giới tốt nhất. Nhưng cả ba biện luận đều không hợp với tính cách của Thượng Đế. Do đó thế giới hiện hữu là thế giới tốt nhất.

    Kẻ lý tưởng suy nghĩ theo cách khác. Nếu quan điểm của ta không phải là điều duy nhất đúng, chúng ta sẽ không bao giờ biết đến thế giới tốt đẹp nhất, không thể thay đổi nó toàn bộ, hay không muốn thay đổi nó toàn bộ. Nhưng cả ba điều đều đi ngược lại với cốt lõi tư tưởng của ta; do vậy sự xấu xa của xã hội phải do những kẻ thù chưa lộ mặt.

    Có vẻ tới lúc này, cơn hoang tưởng (paranoia) xuất hiện trong quá trình tư duy của kẻ lý tưởng. Khái niệm về hoang tưởng chỉ rõ nguồn gốc là những suy diễn cơ bản được coi như tuyệt đối đúng. Vì đúng đắn tự thân, nó không thể và không cần chứng minh chân lý của chính nó . Và từ đó, những loại trừ nghiêm khắc mang tính lý luận được suy diễn và tạo ra một thực tế trong đó mọi thất bại và sai lạc đều do những loại trừ, không bao giờ vì chính những suy diễn ban đầu.

    Trong tháp ngà của lý luận hình thức (formal logic), điều sai lầm mang tính kỹ thuật này dẫn tới một loại enfant terrible của nghịch lý, qua nó tính thực dụng không được kiểm soát chui vào những toan tính thường ngày. Vì chẳng có ăn nhằm gì khi ông thợ cạo chỉ cạo râu cho những ai không tự cạo lấy trong làng, dẫn tới câu hỏi không trả lời được là ai sẽ chăm sóc bộ râu của ông ta. Đây chỉ minh chứng tiền đề đã có phần không ổn. Tiền đề lý tưởng, tuy nhiên, “không” thể nào sai lạc; nó tuyệt đối thần thánh. Ai đả kích nó, vì vậy, đã tự chứng minh sự băng hoại và lưu manh của mình. Chính điều này là lý do, lấy ví dụ, ngày 13/11/1974 tờ Pravda kết tội Solzhenitsyn: Các tác giả trước Solzhenitsyn đã chỉ trích những thiếu sót và sai lầm của quá khứ; ông lại tìm cách chứng minh những vi phạm về luật pháp không phải là vi phạm những chuẩn mực của một xã hội Xã Hội Chủ Nghĩa, nhưng chính là hậu quả trực tiếp từ bản chất của chủ nghĩa Xã Hội. Vì vậy Solzhenitsyn trở thành kẻ phản bội, và tất cả những ai chính trực, không chỉ ở Liên Xô, đều phải khinh bỉ và căm giận. Những gì có vẻ không đúng, không đồng thuận phải được giải thích bằng những sai lạc nằm ngoài lý tưởng; vì tính hoàn mỹ của nó là chắc chắn không thể nghi ngờ. Với điều này, lý tưởng tự khử trùng bằng cách kết tội tất cả những vấn đề nhỏ nhặt nhất. Bội phản và thế lực đen tối của kẻ thù trong ngoài ẩn náu khắp nơi. Giả thuyết về nhiều âm mưu được lập ra và nhân tiện che đậy cả tính vô lý của tiền đề, cần thiết hoá và biện hộ cho những vụ thanh trừng đẫm máu. Như Elster đã dẫn trong đóng góp của mình (t 201), hậu quả được hối hận thay thế. Nên tham khảo thêm Elster dẫn chứng Zinoviev trong Đỉnh Gió Ngáp (Yawning Heights):

    Theo cách nhìn của chính quyền, cá nhân nhất định cũng có thể bị kết án để xảy ra thiên tai (động đất, hạn hán, lụt lội).

    Điều này không chỉ đơn giản áp dụng cho thiên tai. Maurice Duverger tường thuật trong phần đầu cuốn Những Người Trồng Cam hồ Balaton (Les Orangiers du lac Balaton):[30]

    Thời chế độ Rakosi thân Lenin, lãnh đạo Hungary quyết định trồng cam trên bờ hồ Balaton. Hồ này đóng băng suốt mùa đông, nhưng vì lượng nước lớn làm giảm tính khắc nghiệt của khí hậu lục địa, phía bờ được che khỏi gió bắc nhìn gần giống vùng Địa Trung Hải. Vị chuyên viên nông nghiệp phụ trách dự án đã can đảm chỉ ra dự án này chỉ là ảo tưởng. Vô ích. Như cách diễn giải của duy vật lịch sử, đã chiếm lĩnh sự thật khoa học, đảng không bao giờ sai lầm. Người ta trồng hàng ngàn cây cam nhập khẩu bằng ngoại tệ nặng. Chúng đều chết. Vì vậy, vị chuyên viên nông nghiệp bị kết tội phá hoại. Hắn chẳng đã biểu thị ý đồ xấu xa ngay từ đầu vì đã chỉ trích quyết định của bộ chính trị đó sao?

    Vô số ví dụ về cách lập luận nghịch lý tự minh xác đi từ buồn cười đến kinh hoàng. Ta thấy một ví dụ ở mức độ đầu khi nhà tiên tri biện hộ cho những tiên đoán không xảy ra. Theo báo chí, trong một cơn hạn hán kéo dài nhiều năm ở California, 400 sinh viên của Trường đại học tiểu bang ở San Jose (San Jose State University), dưới sự hướng dẫn của một vài giáo sư, đã tụ họp tại giảng đường chính ngày 17 tháng 2, 1977, đọc kinh cầu mưa của thổ dân mong tạo ra mưa bằng “năng lực tổng thể”. Một người trong nhóm tổ chức giải thích với báo chí “Những thái độ phiến diện có thể là lý do duy nhất tại sao buổi lễ này thất bại”.[31] Trời không mưa. Kiểu lập luận này Popper gọi là tự bao che (self-sealing); hoặc như Elster luận, nó gắn liền với lý luận sơ khai kiểu Manichaen, “Ai không theo ta là kẻ chống lại ta”. Theo cách ta đã bàn luận, lý luận vòng vo kiểu này là đặc trưng cho một lý tưởng, “Một người cộng sản giác ngộ không thể chống cộng sản, Solzhenitsyn chưa bao giờ là người cộng sản”.[32] Đây là cách người đoạt giải thưởng Stalin, Sergei Michalkov, xoá bỏ hiện tượng Solzhenitsyn . Nó làm ta liên tưởng tới chuyện cười về ông rabbi tuyệt vời:

    Không ai bằng ông rabbi của mình cả. Ông không những nói chuyện với Thượng Đế mà, xem này, Thượng Đế nói trực tiếp với ông ta.

    Tôi không tin. Có ai làm chứng không? Nếu rabbi của anh nói vậy, ông ta phóng đại, không, ông đang nói dối.

    Thật sao? Đây là bằng chứng tốt nhất: Thượng Đế có bao giờ nói chuyện với kẻ dối trá không?”[33]

    Kiểu lập luận này còn tồn tại được bao lâu lệ thuộc vào nhiều yếu tố. Có vẻ một hệ thống quyền lực cứng nhắc sống lâu hơn cá thể. Manes Sperber viết,

    Trong thời gian nhất định, kẻ khủng bố có thể đạt một số thắng lợi đáng kể tạm thời, tạo ảo tưởng hắn đang nắm trong tay định mệnh, tương tự cảm xúc của kẻ bắt cóc khi hắn làm cả gia đình hoặc cả làng run sợ cho đứa trẻ hắn có thể giết bất cứ lúc nào. Vì chính trị là tranh giành quyền lực, ngay lúc đó, kẻ khủng bố sẽ nghĩ họ, những kẻ đi lạc vào quên lãng, đang dẫn đầu trên con đường tắt dẫn tới quyền lực.[34]

    Khi lý tưởng được thờ phụng bị phá sản, vẫn có thể đổ lỗi cho những thế lực đen tối như lời giải thích cuối cùng. Rõ ràng điều này vô cùng thích hợp với huyền thoại kiểu thuyết của Hitler (Hitlerism) về hoàng hôn của thần linh (twilight of the gods). Trong khảo luận Huyền thoại của Thế kỷ 20, Kurt Sontheimer viết về Rosenberg,

    Ở Nuremberg, khi huyền thoại về Đế Chế đã tan vỡ, hắn liên tục cổ võ đảng Xã hội Quốc gia lúc nào cũng đúng và đáng kể, và nó thất bại chỉ vì người ta đã làm băng hoại nó. “Sự cảm nhận một biến cố lịch sử trọng đại”. Thứ cảm nhận được triết gia phát xít Alfred Baumler ca tụng năm 1943 rõ ràng đủ mạnh để Rosenberg không thể nhận ra thực tế phũ phàng ngay trong phút suy ngẫm và bị xét xử bởi những kẻ chiến thắng.[35]

    Trong cuốn băng lời nói cuối của mục sư Jones cho những người theo mình vào ngày 18/11/1978, ngay trước vụ tự sát tập thể của 900 người thuộc Ngôi đền Nhân dân (People’s Temple) trong rừng rậm xứ Guyana, chính phủ Mỹ và Guyana lúc đầu giữ kín nhưng cuối cùng tiết lộ cho báo chí, ta nghe lời biện hộ y hệt và một thoáng hối hận:

    Tôi đã hết mình tạo cho mọi người một cuộc sống tốt đẹp. Dù tôi cố gắng cách mấy, một nhúm người trong chúng ta, những kẻ dối trá, đã làm cho cuộc sống chúng ta không chịu nổi […] Chúng ta không những đang ở trong tình huống phức tạp: Không những có những kẻ đào thoát và phạm tội phản bội mang tầm thế kỷ; một số bắt cóc trẻ em và những kẻ mất con đang truy đuổi để giết họ, vì họ bắt cóc con nít […] Chúng ta đã bị phản bội. Chúng ta đã bị phản bội ghê gớm.[36]

    Chủ đề chính về một môi trường không nhân nhượng tìm cách phá hoại lý tưởng có nhiều hình thái. Hitler dành cả đời mình chống lại liên minh quyền lực (do chính mình tạo ra) của “dân Do Thái, giai cấp giàu có và Bolshevik do Vatican hỗ trợ.” Cơn thịnh nộ của Ulrike Meinhof nhắm tới “liên minh quốc hội Đức, chính quyền Mỹ, cảnh sát, những kẻ cầm đầu nhà nước và các trường đại học, tư sản, giáo chủ (Shah) Iran, các công ty đa quốc gia, và hệ thống tư bản”.[37] Những kẻ phản đối năng lượng nguyên tử tưởng tượng đang chống lại một liên minh kiên cố và đầy quyền năng của các công ty vô trách nhiệm, quyền lực của giới tài chính và tất cả những ban biện phục vụ cho họ: toà án, chính quyền, trường sở, cũng như các viện nghiên cứu, và các đảng phái chính trị.

    Sự chuyển tiếp từ khuôn mẫu tệ lắm chỉ phi thực tế, xa vời và quái dị của xã hội không tưởng đến cơn hoang tưởng lạnh lùng và phi nhân diễn ra chỉ ngày hôm trước ngày hôm sau làm tâm lý học kinh ngạc. Những kết quả mâu thuẫn của nghiên cứu và cố gắng giải thích hiện tượng này cho tới nay – hoàn toàn không giới hạn chỉ các nhân vật lịch sử, mà bao gồm cả những nhóm cực đoan cách mạng, khủng bố, và trên hết, những nhóm mang mầu sắc tôn giáo hiện đại – họ hình như có một điểm chung: Hậu quả tâm lý và tri thức của việc tin vào một lý tưởng là tình trạng vô cảm quỷ quái, so với chúng, những gì kẻ tội phạm hạng nặng làm chỉ là những sai lầm đáng tiếc. Kẻ tha hương người Nga, Naum Korshavin, ông phải biết, suy tư về vấn đề này trong cuốn tự truyện viết ở Moscow năm 1968:

    Tôi ghét những kẻ cách mạng thuê […] Họ mang trong mình tính tự kiêu cực đoan nhất, tốn kém nhất (cho người khác) và vô tâm nhất. Họ đã tìm ra cách đơn giản nhất và rẻ tiền nhất để thoả mãn tham vọng của mình, che dấu những lỗ hổng tư duy cũng như tiến tới một thứ như thiên đàng mà không tự bỏ tiền túi ra (và điều này càng làm tốn kém chính mạng sống và số phận của người khác).[38]

    Cách nhìn của kẻ lý tưởng thật khác hẳn. Ta đã đề cập tới giả thuyết về tính băng hoại và lưu manh của kẻ dị tín. Ai không muốn dính dáng tới thực tế do lý tưởng tạo nên hay lợi ích của nó có thể xem như bất bình thường (không những đạo lý mà cả) về tâm lý. Ước vọng di tản, ví dụ, có thể hiểu không chỉ là phủ nhận thực tế mà có thể được xem như khó khăn cá nhân thích ứng với thực tế. Những kẻ ăn bám xã hội, dưới mắt phát xít, là những kẻ không đáng sống. Việc đào thải một con người thường do di truyền quyết định. Tháng 10/1973, tiến sĩ Alfred Freedman, lúc đó là hội trưởng Hội Tâm lý học Hoa Kỳ, tham dự một cuộc hội thảo tâm lý học ở Liên Xô. Ông và cộng sự kết luận một số hành xử như những cuộc biểu tình ở Quảng trường Đỏ có thể xem như dấu hiệu của tâm thần bất ổn.

    Mặc dù đã công nhận phê bình tự nó không phải là biểu hiện của bất bình thường cần chữa trị, có thể cảm thấy đối lập, phê bình hoặc chống đối đều bị xem là những biểu hiện bất bình thường và triệu chứng chính của bệnh hoạn […] Gắn liền với cảm giác sự lệch lạc tạm chấp nhận cho tới khi phát triển thành đối lập chính trị.[39]

    Việc cải hoá và cải tạo tư tưởng cho kẻ đối kháng là tối cần thiết. Với nhấn mạnh không chỉ vào khuất phục thụ động mà cả vào chấp nhận chủ động và tự giác, lý tưởng càng phát sinh nghịch lý.

    Nghịch lý về tự giác bắt buộc (demanded spontaneity)

    Câu hỏi cấp bách, về bản chất không có câu trả lời là làm thế nào bản chất yếu đuối và tội lỗi của con người có thể thoả mãn những đòi hỏi của đức tin tuyệt đối hiện diện trong tất cả các tôn giáo, đặc biệt trong Thiên chúa giáo.

    Lòng tin cá nhân vào Thượng Đế phải hoàn toàn tới bực nào? Đạo lý thần học Công giáo phân biệt giữa thực hiện điều răn của Thượng Đế vì sợ sẽ bị trừng phạt nếu cãi lại (một cách tin tốt nhưng không giá trị lắm) và theo lời răn của Thượng Đế vì yêu mến Ngài – một cách phục tùng tự giác. Vấn đề phiền não của kẻ tin giữa tính vô thập toàn của người thường và cuộc sống thánh thiện kiểu Imitatio Christi được biểu tả sâu sắc trong Người cận vệ tôn giáo vĩ đại (Grand Inquisitor) của Dostoyevski. Sau Dostoyevski, ta nghĩ ngay đến Pascal, vì Pascal, hơn những nhà tư tưởng khác, cố trả lời câu hỏi làm thế nào một người không tin có thể tự thân, chính ra, tự giác, đạt tới tình trạng đức tin. Trong suy ngẫm 223 (Pensee 223), ông phát triển đề luận nổi tiếng bằng cách cho rằng một người có thể tự kêu gọi niềm tin của chính mình bằng cách hành xử như đã có đức tin[40] – như cầu nguyện, dùng nước thánh, đi lễ và theo những nghi lễ hiến mình. Nếu so với những cái có thể đạt được (niềm tin và sự cứu rỗi linh hồn), Pascal nói, những gì phải làm là “quá nhỏ”. “Có gì để mất đâu?” Ông tự hỏi. Nghịch lý về quyết định tin để có được niềm tin đã được Elster phân tích kỹ lưỡng.[41] Ở đây, ta lại va phải vấn nạn của tự đối chứng . Elster chỉ ra ngay nếu có thể quyết định tin vào p, một người không thể cùng một lúc tin vào p và tin rằng đức tin của mình vào p xuất phát từ quyết định tin vào p của chính mình. Nghĩa là, quyết định tin vào p (nguyên cớ của niềm tin) không thể cùng một lúc là cái cớ tự nó (lý do của quyết định tin). Do vậy, biện luận của Pascal không chứng minh được sự hiện hữu của Thượng Đế, đúng hơn, nhiều lắm chỉ đưa một bằng chứng tin vào Thượng Đế có thể có lợi – nếu người đó có thể tự mình quên quyết định tin của mình. Cách khác, biện luận của Pascal đề cập tới những đòi hỏi của một cá nhân từ chính mình và với hậu quả nghịch lý hắn phải đối mặt.

    Tuy vậy hiện giờ, từ đòi hỏi bên ngoài, nguỵ biện không thể che giấu được nữa. Lý thuyết về trao đổi thông tin giữa con người đã gọi kết quả này là nghịch lý về “tự giác/cảm hứng”. Nói đúng hơn, tình huống khó xử khi một cá nhân B lệ thuộc vào A, với A đòi hỏi hành xử nhất định từ B, nhưng cách hành xử, theo bản chất phải cảm hứng hay tự giác. Chính vì đòi hỏi, nó không thể tự giác hay tự cảm hứng được nữa. Vấn đề đòi hỏi tự cảm hứng dẫn tới nghịch lý kiểu Russell như đã đề cập trong phần nghịch lý về hoàn thiện và vô tận. Một ví dụ điển hình của nghịch lý “hãy tự giác” là điều ước của người vợ tiềm ẩn trong câu hỏi dành cho chồng mình: “Sao anh chẳng bao giờ tặng hoa cho em nữa vậy?” Chỉ còn hai cách cho chàng: Hoặc anh ta sẽ không tặng hoa cho vợ nữa, và điều này sẽ làm nàng buồn, hoặc anh tặng hoa cho nàng – điều này có thể làm phật ý nàng, vì anh đáng lẽ phải tự giác làm những gì đòi hỏi, chứ không phải vì nàng đã đòi anh làm. Nói cách khác, anh ta làm điều đúng vì lý do không đúng.

    Vấn đề tự giác bắt buộc là một phần của tất cả những thực tế của lý tưởng. Koestler nói về điều này trong cuốn Bóng tối giữa ban ngày (Darkness at Noon) của mình:

    Đảng không chấp nhận ước vọng tự do của cá nhân – nhưng cùng lúc đòi hỏi quyết tâm tự hy sinh. Đảng không chấp nhận lựa chọn giữa hai đường lối – nhưng cùng lúc đòi hắn lúc nào cũng phải chọn đúng đường lối. Đảng không chấp nhận quyền lựa chọn giữa xấu và tốt – nhưng cùng lúc đảng lên án tội lỗi và phản bội. Cá nhân đứng ngay dưới tấm biển của tuyệt vọng, một bánh xe trong chiếc đồng hồ đã lên giây đến vô tận không thể dừng – và đảng đòi hỏi phải dừng bánh và đổi hướng chạy. Có cái gì đó không ổn trong cách tính; phương trình không thể giải được.[42]

    Và nạn nhân trong 1984 của Orwell cũng phải được tạo ra tính tự cảm hứng.

    Đối với chúng tôi vâng lời một cách tiêu cực hay ngay cả sự quy phục hèn hạ nhất cũng chưa đủ. Cuối cùng, khi anh đầu hàng chúng tôi thì đấy phải là hành động tự nguyện hoàn toàn. Chúng tôi không bao giờ thịt một tên dị giáo vì hắn còn chống đối chúng tôi: khi nó còn chống đối thì chúng tôi chưa thịt […]Chúng tôi cải đạo hắn, giành lấy khối óc của hắn, cải hoá hắn. Chúng tôi sẽ gột rửa hết ác tâm và ngộ nhận của hắn, đưa hắn về phe với mình, mà không phải bề ngoài đâu nhé, thực sự, bằng cả tâm hồn và trí tuệ kia. Chúng tôi biến hắn thành người đằng mình rồi sau mới giết[43] (bản dịch Phạm Minh Ngọc, talawas)

    Một lần nữa, theo cách tư duy của Elster, ta có thể suy ra không chỉ có hai biểu hiện của từ bỏ, thụ động và chủ động, mà còn có hai biểu hiện thụ động và chủ động của sự chấp nhận và sự phục tùng. Một ví dụ về thụ động có thể là thái độ “tự trốn tránh” (inner emigration) được nhiều người áp dụng thời Hitler. Thái độ tự trốn tránh thường mang biểu hiện bề ngoài “làm như thể” (act as if), và những kẻ lý tưởng phát xít tức sùi bọt mép mỗi lần phát hiện trường hợp này. Tinh thần kiểu anh lính vui tính Schwejk từ thời quân đội hoàng gia Áo, và, trong Thế Chiến II, gắn liền với “đâm sau lưng chiến sĩ” (Nazi có luật đặc biệt về “đâm sau lưng” để đối phó tinh thần này) của Binh nhì Hirnschal từ Radio London.

    Cả hai kiểu phục tùng này, tay trùm quốc xã về Khai sáng (bằng vũ lực) và Tuyên truyền biết rõ. Trong bài diễn văn ngày 16/9/1935, Goebbels, chơi chữ từ câu nói về dùi cui của Talleyrand, tuyên bố: “Làm chủ được dùi cui cũng tốt, nhưng tốt hơn nữa khi làm chủ con tim!... Chúng ta phải hướng con tim của dân tộc Đức tới mệnh lệnh hành động”.[44] Nghịch lý về “tự giác”, ông ta biết rất rõ, như Schneider viết:

    Ngạc nhiên nhất là cách hắn biến tự nguyện, tương lai và những gì bất khả dự đoán thành đối tượng của mệnh lệnh: “Lệnh treo cờ được thi hành toàn diện trong nửa tiếng tại thành phố và nông thôn,” hắn ra thông lệnh ngày 1/5/1935 sau cuộc bầu cử Saar (liên bang Đức) […] “Dân chúng tập hợp thành những cuộc diễu hành khổng lồ đầy cảm hứng”.[45]

    Trong khuôn khổ của lý tưởng, chỉ sự phục tùng tự giác được chấp nhận, vì “Ai không theo ta, chính là chống lại ta.” Theo cách này, lý tưởng đã trở thành một thứ tôn giáo (pseudo-religious). Roger Bernheim, ký giả túc trực tại Moscow của tờ Neue Zurcher Zeitung, miêu tả phần hệ thống tôn giáo của Đảng Cộng sản Nga:

    Đảng có thượng đế của mình. Câu nói “Lenin đã sống, đang và sẽ sống mãi” thuộc về chủ trương của người Cộng sản Nga, và cũng thuộc vào lãnh vực tín ngưỡng của mọi công dân Soviet. Đảng cũng có các giáo chủ và linh mục, kinh thánh và những đề mục, và cả những nghi lễ tôn giáo. Các tuyên ngôn của Đảng mang đầy hình thức lễ nghi. Từ “vĩ đại” thuộc về Cách mạng tháng 10, từ “vinh quang” dành cho Đảng Cộng sản Soviet, về Lenin là từ “thiên tài” […] Nếu phải nói tới sự ủng hộ của nhân dân Soviet với Đảng, sự ủng hộ này phải tuyệt đối, nhiệt thành và vô điều kiện. Công nhân, nông dân và trí thức của nước này “một lòng đoàn kết với Đảng”.[46]

    Trong cái vũ trụ vô lý của cảm hứng bắt buộc, quyền lực nhà nước đi quá việc cấm đoán những hành động mang tính chống lại xã hội, tự mang cho mình trách nhiệm áp đặt tư tưởng và niềm tin của công dân. Trích dẫn kết luận chính xác của Revel, “trong xã hội toàn trị, nhà nước tự cho mình nhiệm vụ ban phát ý nghĩa cho cuộc sống”[47]. Vì vậy, tư duy độc lập là phá hoại, và cuộc sống trở thành một thứ địa ngục đặc biệt. Theo tờ báo văn chương ngoài luồng, Samisdat, địa ngục này gồm:

    Sự phục tùng toàn diện về tinh thần vượt qua mọi ràng buộc về thể xác hay kinh tế, một đòi hỏi luôn luôn và tự giác tham gia vào cuộc dối trá ai cũng biết.[48]

    Trò dối trá này tự tạo ra những sự hoa mỹ. Từ hiện tượng khóc vì vui mừng khi thấy bộ mặt thần tượng của Fuhrer (một người, Reck-Malleczowen,[49] bất cẩn gọi “mặt cứt” không bao giờ trở về từ trại tập trung) là lời kinh đơn điệu kéo dài của bản tụng ca đơn thuần trong một thực tế đặc trưng của mọi lý tưởng, ngay cả hiện tại. Vì chả có gì khác nhau giữa giọng văn to tát và truyền cảm đã thần tượng hoá tình yêu chớm nở giữa một thanh niên từ Hitler-Jugend (tạm dịch: Đoàn Thanh niên Hitler) và thiếu nữ thuộc Bund Deuschter Madchen trong khu rừng xào xạc hoặc trong rừng cờ và biểu ngữ, bên kia là nhóm sinh viên nam nữ trong hành lang đầy hơi ngạt của trường Sorbonne tháng 5/1968, hoặc truyện ngắn Trung Hoa Vai trò tình yêu (Role of Love) kể về mối tình của tác giả với một thanh niên:

    Chúng tôi bắt đầu hỏi nhau “Có thấy đoàn xe tang thủ tướng Chu đi vào đường Changan tới lễ tang thế nào không? Bạn đã đứng ở đâu vậy? Có nghe phần đọc thơ tưởng niệm thủ tướng Chu Ân Lai không? […] Lần đầu tiên nghe về thất bại của Bộ Tứ lúc nào vậy” Càng nói, tôi càng thấy chúng tôi có rất nhiều điểm chung.[50]

    Lời dối trá rõ rệt trong nghịch lý “cảm hứng bắt buộc” phải được làm cho có vẻ. Vì lý do đó, tuyên truyền và, trên hết, nghệ thuật đã sửa sang để phù hợp với lý tưởng phải được huy động. Ấn tượng bề ngoài phải được tạo nên bằng nghệ thuật để tạo nên một cảm giác mê say nhiệt tâm trong tất cả - và ai không tự cảm thấy thì nên coi lại bản thân thay vì xét lại cái thực tế chính thống. Coi như ta phải phát triển các tình cảm này kiểu Pascal cho tới tự phát, tới lúc đó ta sẽ cảm thấy Hua, người kế vị Mao, như Yu Kuan Lee diễn tả trong thơ mình

    Trái tim rộn ràng
    Làm nghẹn cổ
    Những giọt lệ sung sướng
    Làm mờ mắt.
    Nhưng qua một rừng cờ đỏ
    Và một biển hoa
    Tôi thấy, tôi thấy
    Chủ tịch Hua tại Thiên An Môn
    Trong bộ quân phục màu xanh.
    [51]

    Không phải ai cũng thành công với trò lừa lọc cảm hứng mê say này. Những gì Thomas Brasch bên Tây Đức viết trong tác phẩm hài hước Tự phê (Self-Criticism) khác hẳn, thật hơn và [mang tính] người hơn:

    Tôi nhận rồi. Tôi bị lạc đề. Tôi không đứng lên. Tôi chỉ cậy đất ở ngón chân. Tôi chưa bao giờ nhiệt tình […] Chúa ơi, bọn phản động thối rữa giữa răng tôi. Chúa ơi, ngọn gió. Nó thổi qua những tư tưởng mang tính dân tộc của chúng ta.[52]

    Những gì được đề cập tới lúc này chỉ đúng khi quyền lực nằm trong tay kẻ lý tưởng. Trong lúc chờ đợi, nghịch lý “cảm hứng bắt buộc” có nhiệm vụ khác. Nhiệm vụ này xuất phát từ việc cần thiết để tạo ra nhận thức cách mạng. Cách tạo ra này gọi là nâng cao nhận thức. Quá trình dẫn tới hoàn thiện phải có ý thức sâu sắc về thiếu sót của thế giới; dù vậy có vẻ một trong những điểm yếu của con người là khả năng chịu đựng phần lớn thiếu sót. Marx đặt ra từ huyền thoại hoá (mystification) cho “cả việc giai cấp thống trị tạo ra điểm mù, lẫn sự tiếp tục hiện diện của nó. Kẻ đấu tranh cho sự toàn vẹn, vì vậy, phải trước hết xoá bỏ huyền thoại. Đơn thuần và khách quan chỉ ra và phê phán những yếu kém hoàn toàn không đủ. Để hoàn thành mục đích, phẫn nộ có thể không nên lập lại một cách máy móc, mà thật ra phải tự cảm thấy. Chỉ tới lúc đó lời kêu gọi về sự toàn vẹn mới được hưởng ứng nồng nhiệt. Không gì đáng ghét cho mô hình của những kẻ cứu nhân độ thế hơn là ý niệm tự kiềm chế, hoặc phải chấp nhận sự thiếu sót của những gì có thể. Vì vậy, cuộc tìm kiếm câu trả lời cho những câu hỏi nóng bỏng càng có dịp xảy ra, nhất là tại những quốc gia có được một nền tự do, an toàn và thừa mứa chưa từng thấy trong lịch sử con người. Cũng vì tình trạng này của thế giới là kết quả của sự tiến bộ vượt bậc của khoa học, khoa học – nhất là trong thời đại này – từng bước đi vào tầm ngắm của kẻ lý tưởng .

    Tuyên Ngôn về tính Khoa Học

    Nếu thực tế không đồng thuận với lý thuyết,
    Mặc kệ thực tế.

    Hegel, Marcuse trích

    Với mức khả tín ngày càng tăng về một thấu hiểu toàn vẹn thực tế bằng quan sát khách quan và thí nghiệm có thể lập lại, khoa học bắt đầu thay thế chỗ trống hệ ý thức tạo ra do sự lụi tàn của những ý tưởng vĩ đại về tôn giáo, đạo lý hay triết lý khoảng trăm năm trở lại. Phải công nhận. có một số đại diện ban đầu về tính cứu rỗi của khoa học, như Bacon và Descartes. Dù vậy, trước đây các dự án chính trị về xã hội không tưởng gắn liền với một mặc khải thần thánh nào đó đã bị loại bỏ, và gần đây, được thế chỗ bởi khoa học.

    Ý niệm này rất hấp dẫn trong tính đơn giản và rõ ràng: Ai nắm bắt được nguyên lý phức tạp của tự nhiên, vì tư thế hiện diện hoàn toàn độc lập với tư tưởng, đức tin, thành kiến, hy vọng, giá trị và những thứ khác của con người, có thể sở hữu chân lý vĩnh cửu. Nhà khoa học đảm nhiệm vị trí kẻ đi tìm Thượng Đế, chân lý khách quan thay thế tín ngưỡng dị đoan:

    Ta phải tính đến tình trạng hiện tại của vũ trụ như là kết quả của một tình trạng đã qua và nguyên cớ cho những gì sắp đến. Giả dụ, một bộ nhớ có khả năng thấu hiểu mọi tác động tạo nên chuyển động trong thiên nhiên và vị trí tương đối của thực thể tạo ra nó – một bộ nhớ đủ lớn để có thể đưa dữ liệu để phân tích – nó phải bao gồm những chuyển động của những vật thể lớn nhất trong không gian và của nguyên tử nhỏ nhất trong một công thức, đối với nó, mọi thứ phải được chắc chắn và tương lai, cũng như quá khứ phải hiện diện trong tầm mắt.[53]

    Ngay từ 1840 Laplace dùng những từ trên để phác thảo ý niệm về Tận Thế học thế tục. Tuy vậy, cho công bằng, cần nhấn mạnh ông ta đã quan tâm tới yếu tố không tưởng bằng cách dùng sự thể có điều kiện.

    Những nhà tư tưởng sáng giá từ thời Giambattista Vico đã liên tục nhấn mạnh các lý thuyết hoặc giả thuyết khoa học khá lắm chỉ là một hình ảnh, một cách giải thích thế giới, và chính nó không phải thực tế. Chính với ý niệm này mà tập sách được hoàn tất như một đóng góp cho nghiên cứu. Vào thời điểm này, ta chỉ muốn khảo sát kết quả thực tế từ ngộ nhận rằng thế giới có thể (đã) được khoa học giải thích, hoặc nói cách khác, khảo sát những gì xảy ra khi lý tưởng cố dùng khoa học để biện hộ cho những tuyên cáo về chân lý của mình.

    Sự chính xác của kết luận khoa học là gì? Nếu tính trong cuộc sống thường nhật, ta có thể chấp nhận chúng có một độ chính xác tương đối. Quan sát một vật thể rơi tự do trong môi trường chân không ở mực nước biển, giả dụ chúng xảy ra dưới những điều kiện giống nhau – đều cho kết quả hoàn toàn giống nhau. Ở đây ta tạm quên một sự thật rằng quan sát không giải thích nguyên cớ của hiện tượng, cũng không xác lập một khả đoán thống kê rằng vào lần thứ 1001 vật thể sẽ xử sự đúng như vậy (thay vì, ví dụ, bay ra khỏi trái đất). Đối chiếu lại một số vấn đề tôi đã phân biệt, có hai phần khác nhau rõ rệt của cái ta gọi là thực tại. Để mở đầu, tính chất của vật thể, ta sẽ gọi đây là thực tế thứ nhất. Và vì vậy, thực tế này bao gồm toàn bộ những “sự thật” từ quan sát hoặc thí nghiệm (cả hai, dĩ nhiên, là sản phẩm của lý thuyết nào đó), nghĩa là, một tổng thể những sự thật được xác lập khách quan khi sự lập lại nhiều lần cùng một thí nghiệm cho ra cùng kết quả dù do ai, ở đâu, lúc nào thí nghiệm được thực hiện (Ta cũng không để ý tới điều này chỉ có thể nếu tất cả những người tham gia xử dụng cùng một hệ thống ngôn ngữ và ý nghĩa. Tháp Babel không xây dựng được vì Thượng Đế ra lệnh cho thiên thần của mình “xuống và làm rối ngôn ngữ của chúng”).

    Tới đây ta rất muốn đi tới một nhận định, với lý luận rõ ràng, đã tìm ra chìa khoá dẫn tới cách diễn giải tuyệt đối về thế giới, và với nó, bản hướng dẫn tuyệt đối về thái độ đúng đắn của con người đối với thế giới, nhân loại và ngay sự hiện diện của bản thân. Vì chân lý đã có sẵn cho mọi người có lòng tốt, chỉ bọn điên, lì và phá hoại mới chống lại lý trí.

    Cái mà sự tầm thường hoá tai hại này bỏ qua là sự thật rằng thực tế thứ nhất không đề cập tới ý nghĩa của sự tồn tại. Đối với chúng ta, luật sức hút quả đất không dạy ta biết thêm gì ngoài những điều chúng ta đã biết: Té từ trên cao sẽ chết. Ý nghĩa của sự sống (và chết) không từ đó mà ra. Shakespeare không biết một triết gia nào thoát khỏi đau răng. Trong Tractatus, Wittgenstein viết:

    Ta cảm thấy khi tất cả mọi câu hỏi khoa học đã có lời giải, vấn đề cuộc sống vẫn còn nguyên vẹn chưa có lời giải đáp. Tất nhiên chẳng còn câu hỏi nào tồn tại lúc đó, và chính điều này là câu trả lời.[54]

    Dù vậy thực tế đề cập ở đây (mà lý tưởng đề nghị đưa ra lời giải) không phải thực tế của sự thật khoa học tầng thứ nhất, đúng hơn liên quan tới phần của thực tế mà sự thật thứ nhất được gán nghĩa, thứ bậc và giá trị. Một đứa trẻ bình thường có thể nhận thức được đèn đỏ nhưng không biết đèn đỏ cấm qua đường hoặc nó chỉ nhà thổ. Ý nghĩa này của đèn đỏ chả dính dáng gì tới bước sóng hay đại loại; đúng hơn, [nó chỉ là] chuẩn mực con người quy định mọi hiện hữu như ký hiệu – và rõ rệt hơn - mọi từ, chẳng liên hệ gì tới sự vật mà nó mang tên (ngoại trừ từ tượng thanh [onomatopoetic]). Như Bateson và Jackson đã nói: “chả có gì thật sự là năm trong số 5, chả có gì thật sự là bàn trong từ bàn cả”,[55] vì vậy, cập nhật cách biểu tả của Shakespeare, “Không có gì xấu hay tốt, nhưng ý nghĩ của ta làm nó thế.” Phần của thực tế bao gồm một tập hợp ý nghĩa, thứ tự và giá trị được gọi thực tế thứ nhì. Khi ý kiến khác nhau, vẫn có lý phần thực tế thứ nhất tham khảo ý kiến của ai sát với sự thật cụ thể nhất và ai sai, về thực tế thứ nhì, chỉ cãi vã vô ích về “chân lý” khoa học hoặc tuyên bố đã tìm ra “chân lý”. Ta sẽ lấy một trong nhiều ví dụ. Không có cách giải quyết “khoa học”, “khách quan” nào cho mâu thuẫn giữa các nước Arabs và Israel, cũng không có giải quyết nào kiểu đó cho sự bất hoà giữa hai cá nhân trong một mối quan hệ. Các mối quan hệ không phải lãnh vực của thực tế thứ nhất và các đặc tính thật sự của nó có thể quyết định bằng khoa học. Thay vào đó, chúng là sản phẩm tuyệt đối của cá nhân trong mối quan hệ, và vì vậy từ chối mọi quan sát khách quan. Như vậy niềm tin thơ ngây vào lý lẽ dựa trên kiến thức khoa học không còn là quyền lực tuyệt đối. Cùng lúc, hy vọng vào “con người với bản chất tốt đẹp” (Rousseau) và bản chất tốt đẹp của hắn phát triển từ tuân thủ tự giác và hợp lý các hệ thống giá trị được khoa học minh xác, và với hắn, ước mơ và khát vọng cá nhân song hành với xã hội, chỉ là ảo tưởng và thất vọng.

    Đây chính là cây thánh giá của những xã hội không tưởng khoa học về một xã hội khoẻ mạnh, hiền hoà, hiến dâng: tuyên bố về tính khoa học của lý tưởng, một tuyên bố phát xuất từ mù mờ giữa thực tế thứ nhất và nhì. Khi điều này xảy ra, sẽ tạo ra một thực tế mà kết quả không cần thiết giống với thế giới bắt buộc của một lý tưởng “phi khoa học” khác. Trong tâm lý học cổ điển, có một sự ngộ nhận thơ ngây rằng tồn tại một thực tế thật mà người bình thường (các nhà tâm lý, hơn ai hết) biết rõ hơn kẻ điên. Khi nguyên tắc của cứu rỗi nhân loại dựa trên khoa học áp dụng cho xã hội, xuất hiện một niềm tin - như Anderson và Radnitzki đã sâu sắc chỉ ra trong một câu trả lời[56] - vào sự thu hẹp giữa cái là và cái phải là, một hy vọng thực hiện ước mơ hàng thế kỷ của nhân loại về một thế giới trong đó sự thật tuyệt đối song hành với ước mơ và nguyện vọng của con người.

    Khi một lý thuyết khoa học cuối cùng được bọn ăn bám chính trị vào nhà nước để xác nhận tính chính thống, làm tăng lời biện hộ cho sự tồn tại của chính quyền, bức màn sắt của nguỵ biện được hạ xuống. Huyền thoại của thế kỷ 20 (thuyết chủng tộc đưa luận chứng cho việc hàng triệu người bị xem như vô dụng và trừ khử) của Alfred Rosenberg hoặc thuyết di truyền đặc điểm tiếp thu (theory of genetic transmission of acquired characteristics) (dẫn đến cái chết của những đồng sự đã lên tiếng phản đối, và làm tê liệt ngành di truyền học hàng mấy thập kỷ) của Trofim Denisovitch Lysenko là các ví dụ sáng ngời – càng tuyệt vời hơn nếu ta biết ngay trong thời của họ, những “lý thuyết” này đã là phi lý. Trong thế giới của những kẻ lý tưởng khoa học, không có chỗ cho nghiên cứu sâu hơn, cho bắt bẻ những ngộ nhận từ trước hoặc nghi ngờ những gì có sẵn. Những chuyện bình thường trong khoa học tự do trở thành bội phản và phản động khi những kẻ cầm quyền tưởng tượng đang nắm sự thật tuyệt đối.

    Thật vậy, thường thì thực tế cuộc sống mới là phản động vì đã đi ngược lại lý tưởng. Những kẻ lý tưởng lúc đó thường phải làm một bước nhảy, khốn nạn cho những ai không thích ứng kịp. Sự thật hôm qua thành phản động ngày hôm nay. Những ai đã bị ám hại được phục sinh thành thiên tài.

    Thoái Hoá (Enantiodromy)

    Nhưng nơi nguy hiểm, giải thoát cũng đâm chồi

    Holderlin

    Từ thời Heraclitus, nhà tư tưởng lớn về đổi thay, chúng ta hiểu thoái hoá là quá trình chuyển tiếp qua phía ngược lại của vấn đề. Mẩu tư tưởng 45 đọc “Thay đổi ngược lại là sự phù hợp hoà hoãn với đối lập.” Sau Heraclitus, nhiều nhà tư tưởng qua nhiều thế kỷ đã miêu tả và cố giải thích hiện tượng này và biến dạng của nó. Theo cách suy nghĩ cổ điển một chiều kiểu suy diễn, những tiến triển kiểu này hoàn toàn vô lý và không có lời giải thích. Có vẻ chỉ có tư duy hiện đại với ý niệm về hệ thống và đặc thù mới có thể đưa ra một tiếp cận thiết thực mang tính khái niệm. Những công trình của nhà khoa học đoạt giải Nobel, Ilya Prigogine – rất khó đọc cho độc giả không có kiến thức về sinh vật, vật lý và hoá học – rất đáng được để ý. Trong cuốn Từ hiện hữu đến hình thành (From Being to Becoming)[57] về những hệ thống tự huỷ như một phương thức diễn giải về thoái hoá, Prigogine chỉ ra các chức năng củng cố và làm lỏng của những hệ thống này cũng có thể áp dụng cho các hệ thống xã hội. Hoàn toàn nhấn mạnh, ấn tượng chúng ta có được là có thể nhận thấy thoái hoá gần như chắc chắn khi một trạng thái hoặc định hướng nào đó trở thành cực đoan. Điều này có thể áp dụng được trong những thực tế do lý tưởng tạo ra. Vì ở đó – như ta đã chứng minh – mọi thứ đi ngược lại đều coi như không hiện diện và làm cho không hiện diện. Ngay cả như vậy, lý tưởng tự mắc vào phản đề ngầm của chủ động từ bỏ. Như Elster đã nói trong bản phân tích về vô thần (t 184), đức tin âm tính của một kẻ vô thần vẫn gắn liền với Thượng Đế, chắc chắn như là kẻ có đức tin (còn hơn thế nếu kẻ tin không muốn cải đạo); vì “sự bất lực của vô thần hiển hiện đúng vì nó muốn đạt một vấn đề không thể: Xác lập một tình trạng thụ động từ bỏ bằng chủ động từ bỏ.”

    Nếu vấn đề này chỉ diễn ra trong đầu kẻ lý tưởng, nhân loại chỉ nhún vai hay cười. Nhưng một khi thoái hoá như là một đặc thù trong xây dựng thực tế lý tưởng được đưa vào thực tế thay vì tưởng tượng, cái nhún vai hoàn toàn không đủ. Nhân vật Shigalov trong tiểu thuyết Quỷ ám (The Possessed) của Dostoyevsky là một ví dụ như vậy. Shigalov là tác giả của một hệ thống xã hội không tưởng mà qua nó “kiểu mẫu hiện tại của xã hội sẽ được giải phóng.” Như ta đoán, hệ thống này rất phức tạp. Hắn ta sẵn sàng giới thiệu bản tóm tắt cho đồng chí của hắn, nhưng cảnh báo từ đầu rằng sẽ

    kéo dài khoảng mười buổi tối, mỗi buổi cho một chương. (Tiếng cười đâu đó) Tôi phải thêm, dù vậy, hệ thống của tôi chưa hoàn hảo. (Lại có tiếng cười) Dữ liệu của chính mình làm tôi bối rối, và kết luận mâu thuẫn trực tiếp với ý tưởng ban đầu của chính tôi. Bắt đầu với tự do vô hạn, tôi đi tới toàn trị vô hạn. Tôi sẽ thêm, tuy vậy, không còn cách nào khác cho một công thức xã hội ngoài của tôi. (Tiếng cười càng lớn).

    Dù nhân vật Shigalov chỉ là tưởng tượng, vấn đề của hắn thì không; thật ra, đó là thực tế tàn khốc của nhiều nước khi chủ nghĩa Shigalovism lên ngôi. Càng chủ động phủ định, những thứ bị phủ định càng đổ xuống người tạo ra. Freud đề cập tới sự trở lại của trí nhớ bị ẩn giấu; với Jung mọi cực đoan về tâm lý “tàng ẩn phản đề của chính nó, hoặc có mối quan hệ mật thiết” [25]. Lenin tưởng đã “triệt tiêu bệnh quan liêu,” nhận thức thoái hoá khá cay cú. Heinz Abosh tư duy về điều này như sau:

    Một nền quan liêu mới, lớn hơn với quyền lực tuyệt đối hơn xuất hiện từ đổ vỡ của bộ máy cũ. Những năm cuối đời, Lenin lúc nào cũng than phiền về hình thái phát triển bệnh hoạn này; ông không còn hoan nghênh “huỷ bỏ” hệ thống quan liêu, chỉ tiếc những thành quả khả quan của nó. Trong một thư mật năm 1922, ông xác nhận đất nước Soviet “đã bị chế độ của Nga hoàng chiếm lấy, và được phủ một lớp sơn Soviet mỏng” [1].

    Không phải kẻ lý tưởng nào cũng bi quan về đổ vỡ của lý tưởng. Mấy kẻ khủng bố xuất hiện sau nhiều năm trong bóng tối có vẻ muốn chứng minh lòng hối hận của mình bằng ngây thơ và chân thật rằng con người là lầm lỗi. Chủ tịch nước Cambodia Khieu Samphan với luận án Sorbonne của mình đã tạo ra tiền đề và biện hộ về lý tưởng cho Khmer Đỏ trong việc tàn sát 250,000 người và làm 1 triệu người khác chết dần trong khổ sai và đói khát, giải thích với Liên hiệp Báo chí Quốc tế (United Press International) ngày 20/8/1980,

    Bây giờ chúng tôi đã nhận thức không thể có cách mạng xã hội chủ nghĩa trong thời đại này. Mục đích chúng tôi muốn thực hiện khi còn sống là sự tồn vong của Cambodia […] Mọi người vẫn còn sợ nhưng chúng tôi muốn nói rằng chúng tôi theo chủ nghĩa dân tộc trước khi là cộng sản và chúng tôi nhận ra không thể thực hiện ước vọng của chủ nghĩa xã hội.

    Sự đổ vỡ của lý tưởng không chắc dẫn đến cảm nhận đầy đủ về những ngộ nhận chết người trong ý thức hệ lý tưởng, chỉ dẫn đến ngộ nhận mới. Vì cùng lắm ta chỉ biết những gì thực tế không là. Hay như Von Glaserfield chỉ rõ trong đóng góp của mình (t 39):

    Nghĩa là thế giới “thật” tự hiển hiện ngay tại nơi lý lẽ đổ vỡ. Và vì ta có thể tả rõ và giải thích sự đổ vỡ bằng chính ý niệm ta đã dùng để xây nên những hệ thống thất bại, ta không thể nào nhận thức được lý do chính dẫn đến thất bại.

    Rất khó để nhận thức sự thật về thoái hoá rằng phần tối của lý tưởng khi đưa ra thực tế không thể đổ lỗi cho “tai nạn nghề nghiệp”, cho sự bất tài của cấp dưới hoặc cho phá hoại của kẻ thù nào đó trong hoặc ngoài. Stolzenberg cho ta một lý do khi chỉ ra (t. 265) rằng ta chỉ có thể thoát ra cái bẫy của một tư tưởng tuyệt đối bằng cách không coi tư tưởng này là sự thật – tồn tại độc lập và dẫn tới một số kết luận cụ thể - và, thật ra, chất vấn chính tư tưởng tuyệt đối này.

    Duverger đưa ra chính vấn đề này trong cuốn Những người trồng cam ở hồ Balaton của mình:

    Nhưng nếu Marx đã không bị phản bội? Ông không mong các chế độ thậm tệ nhận rằng [chúng] theo tư tưởng của ông. Chúng có lẽ làm ông kinh hãi. Nhưng nếu chúng không phải là quái thai, một lầm lạc hay phản bội đối với hệ thống tư tưởng của ông? Nếu chúng cho ta thấy lý luận tiềm tàng trong hệ thống tư tưởng của ông, đẩy tới kết quả cuối cùng?[58]

    Và xuyên suốt cuốn sách, Duverger khéo léo chỉ ra những vi phạm chính là hậu quả xuất phát từ bản chất của lý tưởng.

    Ngày hôm nay, nhóm “tân triết học” của Pháp đang nói rõ những gì Solzhenitsyn đã từng nói, và vì vậy – cách đây chưa đầy 10 năm – ông ta bị kết án bôi bác sự thật. Bernard-Henri Levy, trong cuốn Dã man mang bộ mặt người (Barbarism with Human Face)[59] của mình, viết, “không có sâu trong quả táo, tội lỗi sau này mới xảy ra, mà đúng hơn, con sâu là quả táo và tội lỗi là Marx.” Andre Glucksman đi tới cùng kết luận trong Bậc thầy tư duy (Master Thinkers)[60]: Không có trại cải tạo của Nga nếu không có Marxism. Và Monique Hirshhorn tóm lược sự phát triển này với những lời sau:

    Sau khi tỉnh giấc khỏi sự kiên định cứng đầu, các triết gia mới đang khám phá ra sự thật đơn giản đến không ngờ . Mối liên quan giữa Gulag và Marx quá rõ ràng. Không phải một thiếu sót có thể giải thích được bằng thói quan liêu, phản bội của Stalin hay sai lầm của Lenin. Thật ra, đây là hậu quả lý luận trực tiếp và không thể tránh được của những nguyên tắc Marxism. Xã hội phi giai cấp không phải là một tầm nhìn khai sáng, mà đúng hơn, cái tên khác của kinh hoàng.[61]

    Một trong những hậu quả của tư duy suy diễn đơn giải là sự thoái hoá – mặc cho tất cả minh chứng lịch sử ngược lại – hoàn toàn không hiện hữu trong tư duy của những kẻ lý tưởng và tiên tri, vì vậy họ hoàn toàn không ngờ. Tệ hại hơn, những kẻ suy nghĩ hai chiều đã áp đặt tư tưởng của chính họ vào con người, đạo lý và luật pháp. Người tốt nào không muốn đứng sau những từ hấp dẫn như xã hội phi giai cấp, tự do, bình đẳng, bác ái và những thứ đại loại? Đối với đa số, khi tỉnh giấc thì đã quá muộn – ngoài tay vệ sĩ tôn giáo vĩ đại (của Dostoyevsky), hắn đã biết [từ trước]. Bất kể lý tưởng là gì và ở đâu, kết quả cũng thế. Bất kể sự công bằng do Marxist hay tư bản tạo ra, đều dẫn tới những hậu quả đặc thù. Cố gắng quân bằng hoá sự đa dạng tự nhiên của con người đều dẫn tới hậu quả không thể tránh được của mất cân bằng nghiêm trọng do toàn trị. Tương tự, tự do bị xoá bỏ có thể do chú trọng vô giới hạn và quá lo lắng bảo vệ tự do.

    Cái một kẻ lý tưởng không thể chấp nhận trong cuộc tìm kiếm sự hoàn hảo, ngay cả lúc hắn nhận ra, là một chân lý từ cổ xưa được khám phá đi khám phá lại, càng lúc càng có lý trong những thập niên gần đây, và áp dụng cho rất nhiều ngành. Chân lý đó là: Các hệ thống phức tạp – xã hội loài người, lấy ví dụ - mang bản chất năng động, nghĩa là tự điều chỉnh, và mọi thứ đi ngược lại khuôn mẫu tự nó sẽ dẫn tới điều chỉnh các vấn đề nguy hiểm cho hệ thống hoặc hạn chế xu hướng phát triển tự nhiên. Nhưng mọi thứ đang phát triển, vì vậy, không thể nào hoàn toàn – và thực tế lý tưởng không thể chấp nhận điều này. Trong những hệ thống phức tạp, đổi thay và tiến hoá từ các phần tử mới đầu tưởng là sai lạc và bệnh hoạn; nhưng nếu không có chúng, hệ thống sẽ nhũn hoá thành một thứ bất lực vô vọng. Chính vì vậy, kẻ thù tưởng là rành rành phải được xem như con cừu đen đối lập hoặc cái xấu cần thiết hơn là những gì phải trừ khử.

    Các nhà tư tưởng theo trường phái kiến tạo (constructivism) sẽ cố gắng đưa tới lời giải thích rõ ràng hơn về vấn đề phức tạp này và về thứ lý luận – tuy không thể giải thích theo kiểu lẽ thường – tự khẳng định và chuyển hoá một cách ngược ngạo. Phần bạt sẽ bàn tới nhiều hơn về sự thăng trầm của trường phái kiến tạo. Trong khi chờ đợi, câu nói của Winston Churchill cho ta một tia hy vọng: Dân Chủ là một kiểu nhà nước tồi, nhưng tôi không biết một hình thức nhà nước tốt hơn.

    Nguyên tác tiếng Anh “Components of Ideological Realities” trích trong tập The Invented Reality, Paul Watzlawick hiệu đính. Nhà xuất bản W.W. Norton & Company, 1984.

    ______________________________

    [1] Hirshhorn, Monique. Les Nouveaux Philosophes: L’Écume et la vague. Stanford French Review 2, 1978, 301-313.

    [2] Morin, Edgar, cộng tác với Bernhard Paillard and những người khác. Rumours in Orleans (Peter Green dịch). Pantheon, New York, 1971.

    [3] Castro, Fidel. Dẫn Neue Zurcher Zeitung, 4/5. 10. 1975.

    [4] Orwell, George. “Inside the whale”. Trong A Collection of Essays. Doubleday, Garden City, New York, 1954, p. 235.

    [5] Holstein, Walter. Der Untergrund, 2nd ed. Luchterhand, Neuweid, 1969, p. 67

    [6] Bolzano, Bernard. Paradoxien des Unendlichen. Mayer và Muller, Berlin, 1889

    [7] Schnitzer, Arthur. Flight Into Darkness (William A . Donke dịch). Simon and Schuster, New York, 1931, pp. 29-30

    [8] Koestler, Arthur. Le Zéro et l’Infinity. Calmann-Levy, Paris, 1945

    [9] Koestler, Arthur. The Invisible Writing. Macmillan, New York, 1954, p. 357

    [10] Popper, Sir Karl Raimund. Open Societies and Its Enemies. Harper, New York, 1963

    [11] Marx, Karl, and Engels, Friederich. The German Ideologue. International Publishers, New York, 1947, p. 22

    [12] Kraus, Wolfgang. Die verratene Anbetung. Piper, Munich, 1978, p. 49

    [13] Meienberg, Niklaus. In das konzept, March 1979; Neue Zurcher Zeitung trích dẫn, 17./18.3. 1979, p. 33.

    [14] Zeitdienst. Trích dẫn trong Neue Zurcher Zeitung, 17.18.3. 1979, p. 35

    [15] Popper, Sir Karl Raimund. Conjectures and Refutations, The Growth of Scientific Knowledge. Basic Books, New York, 1962, p. VI

    [16] Lucas, J. R. The Freedom of the Will. Clarendon Press, Oxford, 1970, p. 114

    [17] Popper, Sir Karl Raimund. Utopie und Gewalt. Trong Utopie: Begriff und Phanomen des Utopischen (Arnhelm Neususs, ed.). Luchterhand, Neuwied, 1968, p. 332

    [18] Bockenforder, Ernst Wolfgang. Der Staat als sittlicher Staat, Duncker and Humblot, Berlin, 1978, p. 37

    [19] Lenin, Vladimir I. Ibid.; p. 53

    [20] Garudy, Roger. The Alternative Future: A Vision of Christian Marxism (Leonard Mayhew dịch). Simon and Schuster, New York, 1974, pp. 169-171

    [21] Watzlawick, Paul. Op . cit . p.253

    [22] Gregor-Dellin, Martin. Schneider trích dẫn [52, p. 150] Schriftsteller testen Politikertexte (H.D. Baroth, ed.) Munich, 1967, pp. 75-87

    [23] Lubbe, Hermann. Ideologische Selbstermachtigung zur Gewalt. Neue Zurcher Zeitung. 28./29. 10. 1978, pp. 65-66.

    [24] Deutscher, Isaac. The Prophet Unarmed. Oxford University Press, London, 1959, p. 85

    [25] Becker, Jillian, Hitler’s Children: The Story of Baader-Meinhoff Terrorist Gạng Lippincott, Philadelphia, 1977, pp. 72, 159

    [26] Tất nhiên có những kẻ xem “nhiệm vụ khó khăn” là niềm vui của mình: “Tiên chỉ của chúng ta là khủng bố vô hạn đưa tới niềm vui vô hạn.” Câu nói này được xem như từ chuyên viên khủng bố Michael Bauman.

    [27] Orwell, George. 1984. Harcourt, Brace, New York, 1949, p. 258

    [28] Victor Klemperer, Die unbewii/tigte Sprache ("The Unconquered Lan­guage") [261.]

    [29] Schneider, Wolf. Worter machen Leute: Magie und Macht der Sprache. Piper, Munich, 1976, p. 133

    [30] Duverger, Maurice. Les Orangiers du Lac Balaton. Le Seuil, Paris, 1980, p. 9

    [31] Stienstra, Tom, 400 Students Chant Ritual at Rain-Makung Ceremony. Palo Alto Times, 18.12. 1977, p. 2

    [32] Michalkow, Sergej. In Der Spiegel 28, 4.2. 1974, p. 87

    [33] Broch, Henry. Wunderrabbis. Neue Zurcher Zitung, 7./8. 11. 1978, p. 5

    [34] Sperber, Manes. Die Erben des Herostratos. Suddeutsche Zeitung, 20/21.9.1975

    [35] Sontheimer, Kurt. Die Erweckung der Rassenseele. In Bucher, die das Jahrhundert bewegten (Gunther Ruhle, ed.). Piper, Munich, 1978, p. 113

    [36] Jones, Jim. Quoted in San Francisco Chronicle, 15. 3. 1979, 5

    [37] Becker, Jillian, Hitler’s Children: The Story of Baader-Meinhoff Terrorist Gạng Lippincott, Philadelphia, 1977, pp. 72, 159

    [38] Korshavin, Naum. In Kontinent, Vol. 8 (Vladimir Ẹ Maximov, ed.), Ullstein, Berlin, 1978. Quoted in Neue Zurcher Zeitung ½.7. 1978, p. 33

    [39] Freedman, Alfred. Dẫn trong Monitor, American Psychological Association, Vol. 4, No . 12, Dec 1973, p. 1, và United Press International, Nov 2, 1073

    [40] Ovid, trong cuốn Nghệ thuật của Tình yêu (Art of Love), cũng nói tương tự như vậy về tình yêu “Tự thuyết phục bạn rằng bạn yêu [khi bạn có những] khát khao tạm thời. Vậy hãy tin… Một người yêu thương đúng đắn là người đã tự khuyên chính mình tìm vào cảm xúc này.”

    [41] Elster, Jon. Ulysses and the Sirens: Studies in Rationality and Irrationality. Cambridge University Press, London, 1979, p. 47-54

    [42] Jones, Jim. Quoted in San Francisco Chronicle, 15. 3. 1979, 5

    [43] Orwell, George. 1984. Harcourt, Brace, New York, 1949, p. 258

    [44] Goebbels, Joseph, Schneider trích dẫn [52, p. 126]

    [45] Schneider, Wolf. Op . cit . p.128.

    [46] Bernheim, Roger. Der “kirchliche” Aspekt der sowjietischen KP. Neue Zurcher Zeitung, 16. 8. 1970, 3

    [47] Revel, Jean-Francois. La Tentation totalitaire. Laffont, Paris, 1976, p. 320. Trong xã hội toàn trị, nhà nước khoác lấy nhiệm vụ mang lại ý nghĩa cho cuộc sống. Và Revel thêm, “Mặt khác, nhà nước tự do thường tạo điều kiện để tập thể không bao giờ áp đặt cách sống hoặc ý thích lên cá nhân

    [48] Solzhenitsyn, Alexander, et al. Stimmen aus dem Untergrund. Zur geistigen Situation in der USSR. Luchterland, Darmstadt, 1975.

    [49] Reck-Malleczewen, Fritz P. Tagebuch eines Verzweifelten. Goverts, Stuttgart, 1966

    [50] Mader-Bogorad, Yvonne. Literatur als Zerrspiegel der Wurlichkeit. Neue Zurcher Zeitung, 5./6. 5. 1975, p. 70

    [51] Yu Kuang-Liẹh Trích dẫn trong Neue Zurcher Zeitung, 12./13.3 1977, p. 5.

    [52] Brasch, Thomas. Selbstkritik. Trong Kargo: 32. Versuch auf einen untergehenden Schiff aus der eigenen Haut zu kommen. Suhrkamp Taschenbuch 541, Frankfurt am Main, 1979, pp. 160-161.

    [53] Laplace, Pierre Simon de . A Philosophical Essay on Probability (Frederick Truscott và Fredereck L. Emory dịch). Dover, New York, 1951, p. 4

    [54] Wittgenstein, Ludwig. Tractatus Logico-Philosophicus. Humanities Press, New York, 1951, p. 186

    [55] Bateson, Gregory và Jackson, Don D. Một số trạng thái khác nhau của cơ cấu mầm bệnh. Trong Disorders of Communication, Vol. 42 (David McK. Rioch, ed). Research Publications, Association for Research in Nervous and Mental Disease, Williams và Wilkins, Baltimore, 1964, pp. 270-283

    [56] Anderson, Gunnar, và Radnitzky, Gerard. Finalisierung der Wissenschaft im doppelten Sinn. Neue Zurcher Zeitung, 19. /20.8. 1978, 33.

    [57] Prigogine, Ilya. From Being to Becoming. W.H. Freeman, San Francisco, 1980.

    [58] Duverger, Maurice. Les Orangiers du Lac Balaton. Le Seuil, Paris, 1980, p. 9

    [59] Kevy, Bernard-Henry. Barbarism with a Human Face (George Holoch dịch). Harper and Row. New York, 1979

    [60] Glucksman, Andre. The Master Thinkers (Brian Pierce dịch). Harper and Row, New York, 1977.

    [61] Hirshhorn, Monique. Les Nouceaux Philosophes: L’Écume et la vague. Stanford French Review 2, 1978, 301-313

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    3 phản hồi

    Phản hồi: 

    Vô cùng cảm ơn dịch giả “Lề Trái” đã sưu tầm và dịch rất công phu những tài liệu liên quan đến vấn đề lý luận quanh chủ thuyết Marxisme.
    Đối với tôi những tài liệu ấy rất bổ ích, nó củng cố thêm những quan điểm lý luận mà tôi đã diễn đạt vắn tắt trong các bài tiểu luận.
    Trong “chủ nghĩa Mác” có 3 phần rất khác nhau : Triết học, Kinh tế học và Chính trị học. Ba phần ấy có giá trị khác nhau , ưu khuyết điểm rất khác nhau và đòi hỏi phải được đối xử khác nhau. Chỉ có phần CHÍNH TRỊ của Marx mới có ảnh hưởng trực tiếp đến xã hội, tiếc thay phần này gần như hoản toàn tiêu cực, phản khoa học và phản…động, nó thuộc dòng các Utopia nên dễ bị lợi dụng để mị dân và rất có hại.
    Về lý thuyết chỉ cần vạch những tiên đề rất sai trái của Marx (và Engels) là đủ, còn Lenine và những người khác chỉ là những người kế thừa và lợi dụng.
    Một lần nữa xin đa ta dịch giả Lề Trái.
    Hà Sĩ Phu

    Phản hồi: 

    Tài liệu đã viết không những chỉ với nhiều hiểu biết mà còn với nhiều chân thành và công phu đã sưu tầm, đã đọc, đã nghiên cứu, đã suy gẫm nhiều tài liệu phức tạp... Ngoài nội dung phong phú, văn phong diễn đạt cũng rất rõ ràng sáng suốt.

    Phản hồi: 

    [quote]Mối liên quan giữa Gulag và Marx quá rõ ràng. Không phải một thiếu sót có thể giải thích được bằng thói quan liêu, phản bội của Stalin hay sai lầm của Lenin. Thật ra, đây là hậu quả lý luận trực tiếp và không thể tránh được của những nguyên tắc Marxism. Xã hội phi giai cấp không phải là một tầm nhìn khai sáng, mà đúng hơn, cái tên khác của kinh hoàng
    [/quote]

    Bài này vừa dài vừa không dễ hiểu.
    Xã hội phi giai cấp phải chăng là xã hội ai cũng giống ai, dĩ nhiên là hoàn toàn trái với tự nhiên

    Chẳng lẽ vì vậy mà cải cách ruộng đất của Hồ Chí Minh lại đẫm máu và Pol Pot cũng dễ dàng trở thành đồ tể

    Chủ nghĩa Mac-Lê đào tạo những sát thủ đồ tể đôi khi mang bộ mặt thánh thiện

    Hồ Chí Minh sau khi học được Mác-Lê, đã bị tẩy não thành con người khác