Đào Tuấn - Chiếc phà thủng đáy và cái cẩu trục

  • Bởi Admin
    14/04/2011
    7 phản hồi

    Đào Tuấn

    Bóng dáng “con tàu ma” Vinashin đã lại hiển hiện đó đây, khi hàng loạt các ông lớn đồng loạt kêu lỗ. Dầu khí lỗ. Điện lỗ. Xăng lỗ. Và mới nhất là vụ lỗ đến mức “chuyển cơ quan điều tra” của một DN cho thuê tài chính, tất nhiên là doanh nghiệp nhà nước.

    Vẫn là con số quen “hàng ngàn tỷ” xuất hiện, khi việc kinh doanh “cái cẩu trục”, thực chất là việc sử dụng những đồng vốn nhà nước của Công ty cho thuê tài chính II-Ngân hàng NN và PTNT bị phát hiện. Công ty II mua một xe cẩu thuỷ lực 250 tấn của Công ty TNHH xây dựng và thương mại Quang Vinh với giá 65 tỉ đồng. Trong khi đó, chỉ 7 ngày trước, Quang Vinh mua chiếc xe này với giá chỉ chưa tới 32 tỉ đồng. Thương vụ cái cẩu trục này chứa đầy đủ bản chất của việc kinh doanh không bằng tiền túi, không bằng những đồng tiền xương máu của mình. Đây là một thương vụ kinh doanh lấy lỗ.

    Bởi vậy, Công ty II, với tư cách là một DNNN, có lỗ đến 3.000 tỷ chỉ trong một năm kinh doanh dường như cũng không làm ai bất ngờ. Vụ mua xe cẩu chẳng khác gì việc Vinashin mua chiếc phà thủng đáy rồi gọi mĩ miều “Khách sạn trên biển” với cái tên Hoa Sen.

    3.000 tỷ là bao nhiêu? Là gần một nửa số tiền (7.000 tỷ đồng) mà Chính phủ dự định giảm thuế thu nhập cho 200 ngàn DN vừa và nhỏ. Vừa bằng số tiền mà Nhà nước hỗ trợ đột xuất (bao gồm cả hỗ trợ tiền điện) cho 15 triệu người nghèo và đối tượng chính sách.

    Nhưng lỗ đến 3.000 tỷ trong chỉ 1 năm (chưa tính số lỗ nguy cơ có thể lên đến 4.600 tỷ) thì những yếu tố khách quan, hoặc trình độ quản lý, thậm chí cả nguyên nhân tham nhũng, làm trái rõ ràng cũng chỉ là một phần. Còn có một nguyên nhân khác là sự hiệu quả khi doanh nghiệp công, trong sự phân biệt với doanh nghiệp tư, sử dụng tài sản, sử dụng vốn nhà nước y như của chùa.

    Có nhiều điều đáng nói xung quanh số lỗ khổng lồ này. Thứ nhất, số lỗ gấp 8,5 lần vốn điều lệ của Công ty II. Đang cho thấy việc vay vốn quá dễ dàng của các doanh nghiệp nhà nước đang gây hoạ cho chính họ. Và thứ hai, việc kinh doanh, rồi báo lỗ lâu nay đã trở thành căn bệnh của các DNNN. Năm ngoái, khi kết quả giám sát về quản lý, sử dụng vốn, tài sản Nhà nước tại các tập đoàn, tổng công ty Nhà nước được công bố, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã văn bản hoá, đã chính thức hoá một thực tế, rằng: Trong khi chiếm những lợi thế rất lớn về đất đai, về tài nguyên, về khả năng huy động vốn thì hiệu quả sử dụng vốn, tài sản Nhà nước tại DN Nhà nước nói chung, tại các tập đoàn, tổng công ty Nhà nước nói riêng còn thấp, chưa tương xứng với quy mô, vị trí và vai trò trong nền kinh tế.

    Nhưng câu chuyện cái cẩu trục hay trước đó là chiếc phà thủng đáy Vinashin còn chứa đựng một câu chuyện khác: Dường như việc kinh doanh, và báo lỗ quá dễ được chấp thuận dù lý lo được đưa ra rất nhạt, nằm cả trong mấy chữ “nghĩa vụ công ích”.

    Trường hợp gần đây nhất còn cho thấy một khía cạnh khác: Ngoài việc thản nhiên kêu lỗ, DNNN còn đàng hoàng hoặc xin tái cơ cấu, hoặc xin cơ chế đặc biệt. Tổng công ty xăng dầu là một ví dụ. lỗ 3.600 tỷ chỉ trong 3 tháng, và họ xin có một tỷ giá riêng.

    Chừng nào việc sử dụng vốn nhà nước còn “của chùa” với toàn “cơ chế cà rốt” chưa chấm dứt thì rõ rang những “thương vụ cẩu trục” chỉ là sự tiếp nối những chiếc “phà thủng đáy” mà thôi.

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    7 phản hồi

    Chừng nào đảng còn lãnh đạo thì nhân dân VN còn lãnh đủ mọi tai ương do đảng và người của đảng gây ra.

    Đầu tiên là Vinashin, chỉ biết "làm ra tiền" bằng cách "vay" tiền của dân "xin" "Chính phủ" cho các dự án ma để làm "bay biến" 4,5 tỷ USD của dân vào túi các đường dây tham nhũng cộng sản mà Chính phủ cầm đầu... Đó là đợt 1.

    Nay, đợt 2, đến lượt các tập đoàn nhà nước vốn hàng ngày thu tỷ tỷ đồng tiền tươi thóc thật của dân làm ra sau khi cũng ngốn nhiều tỷ đô la để "đầu tư phát triển" như Xăng dầu, Điện lực, Bưu chính Viễn thông... hùng hồn tuyên bố "lỗ" và đòi "Chính phủ" phải gánh chịu, và CP sẽ "gánh", tất nhiên, nhưng lại bằng tiền dân và tiền bán đất của dân (bán nước)cho nước ngoài và TQ thôi... Đợt này sẽ đông vui dài dài cả hàng chục Tập đoàn nhà nước "tham gia" trong năm nay và năm tới, bởi vì chúng cùng 1 cách làm, cùng 1 chủ và vì thế chúng là các bình thông nhau. Đây mới là mở màn... Tổng cộng đợt 2 này dân Việt ta sẽ mất dăm chục đến hàng trăm tỷ USD trong dạng tăng nợ quốc gia với quốc tế! Chỉ trong 1-2 năm tới thôi...

    Đợt 3, Khi các "hũ tiền" của quốc gia là hệ thống các ngân hàng, bảo hiểm, các cty tài chính nhà nước đứng đầu là Ngân hàng Nhà nước VN, cùng Tập đoàn "lắm tiền nhiều của" nhất VN là Dầu khí (PetroVietnam)cũng sẽ kêu "vỡ nợ" vì các dự án tỷ tỷ USD "sụp đổ" khắp nơi vì khoảng 30-50% chui trước vào túi riêng quan chức cộng sản từ cấp "Chính phủ" đến các địa phương, đơn vị, cơ quan bẵng muôn ngàn cách... Lúc đó không biết Chính phủ cộng sản có quì lạy WB, ADB, IMF hay bất kỳ ai cho gói cứu trợ "Chính phủ" hay dân ta không chịu nổi nữa rồi!... Tôi nghĩ điều này có khả năng xảy ra trước 2020 vài năm...Mong sao cộng sản nợ tiền không biến thành dân nợ máu...

    Là một người dân hằng tháng bị trừ lương nộp thuế thu nhập cá nhân cho ngân sách nhà nước, đọc tin này tôi phẫn nộ vì chúng xài tiền mồ hôi nước mắt của dân như đốt tiền vàng mã.
    Là một kế toán viên tôi hiểu rằng đã có sự dung dưỡng và thông đồng tại cty nêu trên cho đến tầng lớp chủ quản cấp trên của chúng.

    Chúng đã bòn rút có hệ thống của cải của đất nước như trở bàn tay, chúng đã vung tiền như thẩy vàng mã vào túi chúng và đồng bọn.
    Lại một lũ đục khoét như bè đảng Vinashin. Hỡi ơi, đất nước liệu còn lần nào nữa nhuốm màu xám xịt hơn lúc này.

    Ông Đào Tuấn viết hay lắm, ngọt lắm, nhưng ông thử đứng ở vị trí chúng tôi xem ông có dám... không ăn không? Không "ăn" không được, vì nó ngon quá, một cái cẩu trục phò mà cũng có ngay hơn 30 tỷ chia nhau. Chẳng qua ông Đào Tuấn không được ăn nên ghen tỵ đó thôi.

    Hãy nhìn lại thực lực của nền kinh tế VN và xem thử một sản phẩm có tính công nghệ (được áp dụng kỹ thuật cao trong sản xuất) đặc trưng nhất, có thể xuất khẩu để thu ngoại tệ, và "All Made in Vietnam"?

    Theo tôi, đó là cái "Kềm Nghĩa"!!!

    Vâng, đó có thể là sản phẩm duy nhất, được sáng tạo từ gốc đến ngọn từ khâu thiết kế đến sản xuất (cho dù vật liệu được mua từ nước ngoài đi chăng nữa.)

    Ngoài ra, tôi chẳng thấy có những món hàng gì khác được sản xuất hoàn toàn 100% "Made In Vietnam" với từ khâu thiết kế đến sản xuất với chất lượng cao.

    Thật ra, cái Kềm Nghĩa chỉ được là có chất lượng tạm được và quan trọng là giá rẻ, nên được dân làm nail ở Mỹ dùng như món hàng "disposable item," dùng cắt một lần rồi quăng. Kềm của Pháp, Nhật thì người ta mua 40$-$50, xài rất bền nhưng phải mất công gửi đi mài (mất $5-$7/lần mài.) Đó là lý do duy nhất khiến cái Kềm Nghĩa nổi tiếng là thế, chứ không phải vì "quá tốt" mà được bán đắt hàng như hiện nay.

    Trở lại chuyện đầu tư công: ở VN mà không có đầu tư công thì lấy gì ăn? Bộ máy cai trị (Đảng đến chính quyền) ngày càng trương phình, không đầu tư công thì lấy gì chia chác? Nếu không chia chác thì ai ngu gì vào Đảng để phải nghe mắng nhiếc tối ngày và ai sẻ đứng ra bảo vệ cái Đảng thối nát này?

    Vì thế, cho dù biết tiếp tục đổ tiền vào đầu tư công sẻ gây các ảnh hưởng phụ, nhưng hệ thống cai trị cần đầu tư công như con nghiện cần thuốc phiện vậy: biết là xấu nhưng không thể cắt giảm được (chứ đừng nói đến chuyện cai.)

    Trích dẫn:
    Việc tuyên bố con số đó là thể hiện sự quyết tâm của bộ này trong việc thực hiện nghị quyết 11, song điều cốt lõi nhất vẫn là khâu thực hiện. Người ta có quyền đặt câu hỏi, vì năm 2008 chính bộ này đã tuyên bố cắt giảm hơn 30.000 tỉ đồng của các dự án đầu tư công, song đến cuối năm, chi cho đầu tư phát triển từ ngân sách nhà nước vẫn tăng cao tới 20% so với dự toán.

    Nói một đằng làm một nẻo là điểm mạnh của chính phủ?

    http://sgtt.vn/Goc-nhin/143043/3400-ti-dong-la-bao-nhieu.html

    Cắt giảm đầu tư công

    3.400 tỉ đồng là bao nhiêu?

    SGTT.VN - Tại buổi họp báo thường kỳ Chính phủ tổ chức gần đây, đại diện bộ Kế hoạch và đầu tư thông báo ngắn gọn: có khoảng 1.387 dự án đầu tư công tổng trị giá 3.400 tỉ đồng được cam kết cắt giảm trong năm nay. Đó là kết quả của mười đoàn giám sát thuộc bộ này trong suốt cả tháng qua nhằm kiểm tra chính sách tài khoá thắt chặt theo nghị quyết 11. Dù chỉ là sơ bộ, con số 3.400 tỉ đồng nói lên điều gì trong tương quan với vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước?

    Hiện nay chính sách tiền tệ đã trở nên chặt chẽ hơn bao giờ hết. (ảnh minh họa) Ảnh: Lê Quang Nhật

    Để giúp hình dung con số này, hãy cùng xem lại đầu tư bằng vốn nhà nước từ năm 2008, khi nền kinh tế bắt đầu thăng trầm với những bất ổn vĩ mô. Báo cáo của bộ Kế hoạch và đầu tư cho biết, trong tổng vốn đầu tư toàn xã hội, nguồn vốn này chiếm tới 33,9% năm 2008, 40,6% năm 2009 và 38,1% năm 2010 (*). Như vậy, đầu tư của Nhà nước, dù đã giảm mạnh từ gần 60% năm 2001, vẫn còn rất cao so với đầu tư của tư nhân và đầu tư trực tiếp nước ngoài.

    Trong khi đó, tính theo GDP, tổng vốn đầu tư toàn xã hội lên tới 41,5% năm 2008, 42,7% năm 2009 và 41,9% năm 2010, cũng theo bộ Kế hoạch và đầu tư. Nói một cách đơn giản, tổng vốn đầu tư toàn xã hội hàng năm vào khoảng 42 tỉ USD kể từ năm 2008, khi quy mô nền kinh tế Việt Nam chính thức vượt qua 100 tỉ USD. Như vậy, căn cứ vào (*) chỉ tính sơ bộ thì thấy, đầu tư bằng vốn nhà nước hàng năm vào khoảng 16 – 17 tỉ USD trong ba năm gần đây. Con số cắt giảm đầu tư công 3.400 tỉ đồng, tức hơn 160 triệu USD như bộ Kế hoạch và đầu tư công bố chỉ chiếm vỏn vẹn khoảng 1% đầu tư bằng vốn nhà nước hàng năm.

    Bên cạnh đó, tính theo cách khác, con số cắt giảm 3.400 tỉ đồng cũng là rất nhỏ so với 152.000 tỉ đồng chi đầu tư phát triển mà Quốc hội đã phê duyệt trong dự toán ngân sách năm 2011, đó là chưa kể đến 45.000 tỉ đồng trái phiếu chính phủ dự kiến cho năm nay.

    Chỉ cho đến gần đây, các nhà điều hành kinh tế mới dần thống nhất được nhận thức chung, rằng để chống lạm phát nhất thiết phải thực hiện chính sách tài khoá thắt lưng buộc bụng, bên cạnh chính sách tiền tệ thắt chặt. Nhận thức đó đã được thể chế hoá trong nghị quyết 11, vốn nhấn mạnh sự cần thiết về việc cắt giảm chi đầu tư phát triển cũng như chi tiêu công nhằm giảm tổng cầu cho nền kinh tế.

    Song, lại xuất hiện một điều không rõ ràng với nhận thức trong nghị quyết 11, rằng dường như người ta đã quên mất yêu cầu cắt giảm 10% chi thường xuyên của chín tháng còn lại trong dự toán năm 2011.

    Song, lại xuất hiện một điều không rõ ràng với nhận thức trong nghị quyết 11, rằng dường như người ta đã quên mất yêu cầu cắt giảm 10% chi thường xuyên của chín tháng còn lại trong dự toán năm 2011. Con số này, nếu được cắt giảm đúng như yêu cầu sẽ lên tới vài chục ngàn tỉ đồng, nếu căn cứ trên con số chi thường xuyên dự kiến vào khoảng 442.100 tỉ đồng trong năm nay. Ít nhất, lãnh đạo bộ Tài chính đã không ít lần tuyên bố, sẽ xem xét có cho các cơ quan nhà nước tiêu số tiền này hay không vào đầu quý 3 và căn cứ vào tình hình cụ thể lúc đó. Thông điệp nước đôi như vậy, rõ ràng, sẽ gây nhiều hệ luỵ với niềm tin thị trường.

    Trả lời TTXVN, bộ trưởng bộ Kế hoạch và đầu tư Võ Hồng Phúc cho biết, dự kiến sẽ giảm được khoảng trên 50.000 tỉ đồng năm 2011 nhờ thực hiện các giải pháp không kéo dài thời gian giải ngân, không ứng trước kế hoạch năm 2012 vốn ngân sách và trái phiếu chính phủ, giảm 32% vốn trái phiếu chính phủ, giảm 10% tín dụng đầu tư của Nhà nước. Việc tuyên bố con số đó là thể hiện sự quyết tâm của bộ này trong việc thực hiện nghị quyết 11, song điều cốt lõi nhất vẫn là khâu thực hiện. Người ta có quyền đặt câu hỏi, vì năm 2008 chính bộ này đã tuyên bố cắt giảm hơn 30.000 tỉ đồng của các dự án đầu tư công, song đến cuối năm, chi cho đầu tư phát triển từ ngân sách nhà nước vẫn tăng cao tới 20% so với dự toán.

    Trong ba năm vừa rồi, Việt Nam đã phải lựa chọn nhiều chính sách trái ngược nhằm đối phó với bất ổn kinh tế vĩ mô. Chính sách tiền tệ thắt chặt hiện nay là đúng đắn sau khi nó được mở quá rộng trong suốt thập kỷ qua. Theo viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, Việt Nam là một trong những nước có tốc độ tăng tín dụng cao nhất trên thế giới, trung bình 33%/năm trong tám năm qua. Nếu tính luỹ tiến thì đầu 2003 tổng tín dụng là 1 đồng thì cuối 2010 tổng tín dụng là 9,6 đồng, tăng gần mười lần. Đó là nguyên nhân bất ổn vĩ mô tăng cao, lạm phát cao so với tất cả các quốc gia đối tác, dù họ cũng chịu tác động bên ngoài như Việt Nam chúng ta do kinh tế họ cũng rất mở.

    Hiện nay chính sách tiền tệ đã trở nên chặt chẽ hơn bao giờ hết. Song để giảm tổng cầu, nó cần được tiếp sức bởi chính sách tài khoá. Con số 3.400 tỉ đồng mới chỉ là báo cáo sơ bộ vì có tới 22 bộ ngành và địa phương chưa báo cáo. Vì lẽ đó, cần quyết tâm chính trị nhiều hơn nữa với chính sách tài khoá, nhất là khi bộ Kế hoạch và đầu tư đã than thở rằng “nhiều địa phương đề nghị không cắt giảm”.

    Tư Giang

    Trích dẫn:
    Có điều đáng buồn là trong những nghị quyết của Chính phủ, chúng ta đã khẳng định khi Việt Nam mở cửa hội nhập, nhất là vào WTO, thì có thể rủi ro, bất ổn là rất cao, thậm chí là khủng hoảng. Thế nhưng công tác chuẩn bị của chúng ta vẫn không tốt!

    Chính phủ VN quả thật bất tài?

    http://sgtt.vn/Goc-nhin/143157/Bat-on-vi-mo-co-nguon-goc-chinh-tu-noi-tai.html

    Bất ổn vĩ mô có nguồn gốc chính từ nội tại

    SGTT.VN - Việt Nam đang nhìn lại quá trình ba năm gia nhập WTO giữa lúc nền kinh tế trong nước đang đối diện với những bất ổn vĩ mô. Có ý kiến cho rằng sự bất ổn này có nguyên nhân từ việc chúng ta gia nhập WTO khi chưa có sự chuẩn bị đầy đủ.

    Trước hàng loạt cú sốc sau khi gia nhập WTO, Việt Nam lại đặt tăng trưởng như là mục tiêu hàng đầu phải cố để đạt được. Nhưng điều đó không phù hợp với cách thức quản trị của nền kinh tế trong bối cảnh mới. Ảnh minh hoạ. Ảnh: Hồng Thái

    Phóng viên Sài Gòn Tiếp Thị phỏng vấn viện phó viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương Võ Trí Thành xung quanh vấn đề này.

    Có một số ý kiến cho rằng sau khi gia nhập WTO, Việt Nam đã phải chịu những cú sốc lớn và điều này có thể đã không xảy ra nếu Việt Nam gia nhập WTO muộn hơn, có sự chuẩn bị tốt hơn. Bình luận của ông?

    Tôi không nghĩ như vậy về việc gia nhập WTO. Tuy nhiên, nếu nhìn bên ngoài, có mấy cái tạo ra những cú sốc bất lợi. Thứ nhất, khi ta vào WTO, hình ảnh Việt Nam được đánh giá cao trong bối cảnh luồng vốn bên ngoài đang dư thừa rất nhiều. Năm 2007, thanh khoản của thế giới cao. Các dự án hàng tỉ USD – vì thế – liên tục đổ vào Việt Nam dẫn đến sự kỳ vọng quá mức ở trong nước. Thứ hai, trước hàng loạt cú sốc như thế, Việt Nam lại đặt tăng trưởng như là mục tiêu hàng đầu phải cố để đạt được. Những điều đó không phù hợp với cách thức quản trị của nền kinh tế trong bối cảnh mới. Vì vậy, không phải mình không có hiểu biết về quản trị vĩ mô mà chính những yếu tố như tôi vừa nói đã khiến việc điều hành chính sách của mình giật cục, không phù hợp và làm cho bất ổn kinh tế trở thành căn bệnh kinh niên của Việt Nam.

    Vậy nguyên nhân nào gây tác động lớn hơn, thưa ông, trong nước hay nước ngoài?

    Thật khó mà tách bạch. Nếu không có những cú sốc dồn dập như về giá từ bên ngoài như thế, thì có thể ta chưa nhận ra được vấn đề của việc tăng trưởng theo chiều rộng, hay nói cách khác là dựa vào đầu tư. Còn khi điều này bắt đầu gây ra bất ổn mà vẫn không thay đổi kịp thời chính sách, vẫn cứ theo đuổi mục tiêu tăng trưởng để đến mức rủi ro bất ổn và lạm phát dâng cao mới nhận ra vấn đề nào là cần thiết và cấp bách thì đó là do ta. Tôi nghĩ hai yếu tố trong – ngoài đan xen nhau. Có điều đáng buồn là trong những nghị quyết của Chính phủ, chúng ta đã khẳng định khi Việt Nam mở cửa hội nhập, nhất là vào WTO, thì có thể rủi ro, bất ổn là rất cao, thậm chí là khủng hoảng. Thế nhưng công tác chuẩn bị của chúng ta vẫn không tốt!

    Nhận xét vắn tắt của ông về tình hình chung sau mấy năm gia nhập WTO?

    Chúng ta đã làm ăn, tiêu dùng và đã sống phần nào đó trên mức chúng ta có thể.

    Giá một số mặt hàng cơ bản như xăng dầu, điện... mà ta phải nhập khẩu đang tăng cao. Trong khi đó, quá trình chuyển đổi cơ chế điều hành giá cả từ bao cấp sang thị trường mới chỉ bắt đầu. Điều này gây khó khăn gì cho công tác điều hành trong bối cảnh hiện nay và lựa chọn chính sách nên như thế nào?

    Trong điều hành vĩ mô, bên cạnh cái khó phải đối phó như bất ổn vĩ mô do tổng cầu tăng mạnh, tín dụng quá cao, thâm hụt ngân sách lớn, đầu tư công bành trướng trong nhiều năm, còn cái khó nữa là lạm phát vừa do cầu kéo vừa do chi phí đẩy, ví dụ giá nhiên liệu đầu vào tăng. Để hạn chế tác động tiêu cực của giá đầu vào, bên cạnh nỗ lực của doanh nghiệp, chúng ta buộc phải giảm tổng cầu, tăng lãi suất, hạn chế cung tín dụng. Thường các nước có hai cách để hạn chế tác động của chi phí đẩy. Thứ nhất là có nguồn lực dự trữ để can thiệp, ví dụ mở kho dầu chiến lược; thứ hai là nhà nước bù giá, tức là chấp nhận dùng một phần ngân sách để trợ giá. Cả hai cách đó ở Việt Nam có lẽ đều không được. Lý do là nguồn lực của ta hạn hẹp.

    Như vậy, trong ngắn hạn chúng ta tiếp tục duy trì giá (thấp) là không bền vững. Chúng ta phải chấp nhận giá thị trường. Trong dài hạn điều này là tốt về tổng thể. Người ta sẽ phải tập trung cải tổ doanh nghiệp theo hướng ví dụ như tiết kiệm năng lượng hơn. Chỉ có điều hiện nay, ví dụ như giá điện, Chính phủ không thể tăng một lần mà phải có lộ trình để tránh cú sốc lớn cho nền kinh tế. Tuy nhiên, lộ trình này cũng không thể quá dài do nguồn lực của ta có hạn và đặc biệt, lộ trình đó cần minh bạch, rõ ràng và đàng hoàng.

    Tư Giang (thực hiện)