Đơn kháng cáo bản án sơ thẩm của bà Nguyễn Thị Dương Hà

  • Bởi Admin
    07/04/2011
    13 phản hồi

    Kính gửi: Quý Báo,

    Tôi, Cù Thị Xuân Bích em gái TS luật Cù Huy Hà Vũ, xin gửi Quý báo Đơn kháng cáo toàn bộ bản án hình sự sơ thẩm 04/4/2011 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đối với TS Vũ về "Tội tuyên truyền chống Nhà nước CHXHCN Việt Nam" để những ai quan tâm được biết.

    Trân trọng cảm ơn Quý Báo.

    Cù Thị Xuân Bích

    image001_6.jpg

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    13 phản hồi

    CAM viết:
    Trần Thị Ngự viết:
    Còn ở VN thì ông nên có một phương pháp đầu tranh kiểu khác.

    Theo tôi không nên đấu tranh làm gì, vừa mang tiếng hám danh, thích gây tiếng vang, vừa khổ vợ khổ con. Các bạn "dân chủ" hãy dừng lại đi, hãy lo cho bản thân và gia đình.

    CAM

    Bạn CAM thuộc loại phản động rồi, sai ý của bạn Trọng.

    Bạn Trọng, bạn Dũng, ... trong đại hội đảng ta chẳng phải đã gào lên phải đẩy mạnh "dân chủ" trong đảng đấy sao ? Bạn Dũng iêu sư thật ghét giả dối và bạn Trọng lú vẫn luôn cam kết bầu cử "dân chủ" đấy thôi

    Các bạn í, trong BCT (bố con tao), đều là "chiến sĩ dân chủ" đấy (loại giả cầy, loại cuội)

    NiMarxNiJesus viết:
    Tran Thi Ngự viết:
    Kiểm soát việc kháng án viết:
    Lại vẫn theo nguyên tắc một số nước, nếu bà Dương Hà không đủ thẩm quyền kháng án thì tòa án phải trả lời bằng văn bản chính thức ngay, đồng thời chỉ rõ nơi đâu và những ai có quyền kháng án (theo đạo luật nào).

    Bà Hà là LS thì lẽ nào bà lại không biết thủ tục kháng cáo. Còn nếu bà thật sự không biết thì có lẻ bà nên thôi hành nghề luật sư.

    Tôi thì nghĩ là bà DH thừa biết thủ tục kháng án trong 1 vụ án .

    Nhưng riêng trong vụ này; có những điểm cần phân tích :

    1/ Theo 1 số thông tin ngoài lề, trong lúc bào chữa cho mình; ông Vũ đã lỡ tuyên bố đại ý : Muốn xử sao thì xử, xử bao nhiêu năm cũng được, dân tộc sẽ phá án cho ông ta .

    2/ Cũng theo thông tin ngoài lè, ông Cù đề nghị với tòa là giao cho chú của ông Cù làm đại diện pháp lý và đã bị tòa từ chối .

    Cho nên tôi nghĩ rằng bản kháng án này hoặc là bà DH vì sót chồng mà phải làm vì ông Cù không chịu kháng án ???

    Hoặc là bà DH cốt làm như thế để tạo thêm tiếng vang .

    ...

    Tiếng vang cũng mạnh rồi nhưng nếu chưa đủ mạnh hoặc nếu cần thiết thì tạo thêm.

    Trích dẫn:
    ông Vũ đã lỡ tuyên bố đại ý : Muốn xử sao thì xử, xử bao nhiêu năm cũng được, dân tộc sẽ phá án cho ông ta

    Ông Vũ cũng là một thành viên của dân tộc VN thì ông ta có quyền phá án cho ông ta cùng với nhiều người khác.

    Kháng án có hai loại : nội dung và hình thức (quy trình). Hình như các luật sư đã có kiến nghị về việc sai về hình thức (quy trình)gởi cho QH, TANDTC, ... rồi. Cần có xét xử về việc này nhanh chóng thì bản án về nội dụng mới có hiệu lực.
    Ở đây tôi nói về luật chung quốc tế. Còn ở các nước toàn trị như ở CN, TQ, BTT thì luật nó khác bởi nếu xét theo ánh sáng của Mac-Lê, tiêu diệt giai cấp thì đảng CS phải đúng

    Thời 1975, đại đa số quân nhân, nhân viên chính quyền VNCH bị bắt giam trong trại cải tạo nhiều năm mà không hề có tòa án xét xử và luật sư để bào chữa. Luật pháp nhà nước XHCN là như thế?

    Trích dẫn:
    ... thành công trong việc bêu xấu chế độ ...

    Như vậy phải chăng bác NiNi cho rằng việc bêu xấu chế độ CS là chính xác vì những sự việc nêu ra là đúng với sự thật ?

    Trần Thị Ngự viết:
    Còn ở VN thì ông nên có một phương pháp đầu tranh kiểu khác.

    Theo tôi không nên đấu tranh làm gì, vừa mang tiếng hám danh, thích gây tiếng vang, vừa khổ vợ khổ con. Các bạn "dân chủ" hãy dừng lại đi, hãy lo cho bản thân và gia đình.

    CAM

    Khi một ngưới nhập cuộc đấu tranh, tùy theo tình hình diển biến và hoàn cảnh xả hội, người ta có thể có nhiều mục tiêu dài hạn hay ngắn hạn khác nhau. Thí dụ: 1) đạt được sự thay đổi xả hội, 2) gây tiềng vang để khời đầu một cuộc đầu tranh rộng lớn hơn, 3) hay cốt chỉ gây tiềng vang.

    Nếu ông CHHV chì muống gây tiềng vang, thì ông đà đạt mục đích một cách mỹ mãn. Còn nếu ông muốn thấy có sự thay đồi xả hội, thì theo nhận xét chủ quan của tôi cái kiểu đầu tranh của ông chỉ phù hợp với hoàn cảnh ở các quốc gia tây phương. Còn ở VN thì ông nên có một phương pháp đầu tranh kiểu khác. Cũng có thể ông ở trong cuộc, ông biết cái thế của ông hơn nhửng kẻ đoán mò như tôi, nhưng củng có thể ông tính sai nước cờ.

    Còn nhớ trước đây, có tin luật sư Trần Lâm, một LS lão thành ở VN, sẻ là một thành phần của ban bào chữa cho ông CHHV, nhưng sau lại thầy LS Trầm Lâm không tham gia. Trả lời phỏng vần của BBC, LS Trần Lâm có một nhận xét vế vụ án CHHV như sau:

    BBC viết:
    Ông Trần Lâm, một luật sư có tiếng ở Hà Nội nói với đài BBC vụ xử ông Hà Vũ sẽ phức tạp do các diễn biến ở các nước Ả Rập và Bắc Phi cũng như sự can thiệp của các quan chức Việt Nam.
    Ông nói:
    "Cái vụ này cũng có thể gọn nhẹ thôi, chứ cũng không phải là căng thẳng lắm.
    "Thế nhưng mà cái việc nó cứ thêm cái nọ, thêm cái kia, để kéo dài... rồi người này can thiệp, người kia can thiệp bây giờ trở thành cái việc lại khó xử.
    "Lắm thầy nhiều ma, nhiều cha con khó lấy chồng. Nay ý này, mai ý kia, rồi quốc tế, rồi trong nước, rồi ông to, rồi ông nhỏ nên tự nó thành vụ án lớn.

    Nguôn:
    http://www.bbc.co.uk/vietnamese/vietnam/2011/03/110322_ts_ha_vu_trial.shtml

    Có thể vì "tình hình" quá phừc tạp mà LS Trần Lâm không muốn tham gia, còn các người ủng hộ ông Vủ thì cứ quyết "xung phong" không nhân nhượng mà có thể không hề nghỉ đến hậu quả cho kết quả vụ án.

    Trần Thị Ngự viết:
    Nếu cần một cái đơn với nhiều chi tiết hơn bà Hà nên mượn đở bài viết của tác giả "một công dân"(#30947 ).

    ...

    Thế nên tôi tự hỏi, không biết việc công bố như trên có tác dụng gì cho vụ án.

    Bà đã tự có câu trả lời rồi, sao còn phải hỏi. Bà có thấy chính quyền Việt Nam luôn dùng báo chí để tuyên án cho dư luận biết trước cả khi tòa án kết tội, rồi sau đó lại dùng báo chí để "thay mặt dư luận" tuyên dương tòa án không?

    Những nạn nhân thấp cổ bé họng kia công bố các văn bản ra cộng đồng cũng chỉ là những tiếng nói yếu ớt cất lên để mong cầu sự cảm thông chia sẻ của cộng đồng (như họ đã viết), chứ thấm vào đâu so với kẻ vừa có bạo quyền vừa có hệ thống bồi bút báo chí khổng lồ trong tay?

    Bà nói bên Hoa Kỳ thế này thế nọ và muốn họ phải theo "luật tố tụng" này nọ liệu đã công bằng chưa? Bà nên làm thế với chính quyền Việt Nam thì đúng hơn, hãy nói cho chính quyền Việt Nam biết cách hành xử của chính quyền Hoa Kỳ và yêu cầu chính quyền Việt Nam làm đúng theo "luật tố tụng" thử xem. Hay là bà cũng đang muốn tiếp tay cho kẻ ác ném thêm cho nạn nhận một hòn đá?

    Tran Thi Ngự viết:
    Kiểm soát việc kháng án viết:
    Lại vẫn theo nguyên tắc một số nước, nếu bà Dương Hà không đủ thẩm quyền kháng án thì tòa án phải trả lời bằng văn bản chính thức ngay, đồng thời chỉ rõ nơi đâu và những ai có quyền kháng án (theo đạo luật nào).

    Bà Hà là LS thì lẽ nào bà lại không biết thủ tục kháng cáo. Còn nếu bà thật sự không biết thì có lẻ bà nên thôi hành nghề luật sư.

    Tôi thì nghĩ là bà DH thừa biết thủ tục kháng án trong 1 vụ án .

    Nhưng riêng trong vụ này; có những điểm cần phân tích :

    1/ Theo 1 số thông tin ngoài lề, trong lúc bào chữa cho mình; ông Vũ đã lỡ tuyên bố đại ý : Muốn xử sao thì xử, xử bao nhiêu năm cũng được, dân tộc sẽ phá án cho ông ta .

    2/ Cũng theo thông tin ngoài lè, ông Cù đề nghị với tòa là giao cho chú của ông Cù làm đại diện pháp lý và đã bị tòa từ chối .

    Cho nên tôi nghĩ rằng bản kháng án này hoặc là bà DH vì sót chồng mà phải làm vì ông Cù không chịu kháng án ???

    Hoặc là bà DH cốt làm như thế để tạo thêm tiếng vang .

    Trong mọi trường hợp, nếu đây là 1 vụ đấu tranh chính trị thì tôi không có ý kiến còn nếu thuần túy là 1 vụ xử án theo hình luật VN thì phía ông Cù để nhiều sơ hở quá ; đồng thời, cách tranh đấu của những người bênh vực ông Cù cũng không hay ho trong việc giúp cho ông Cù khỏi tai ách đặc biệt là dựa vào 1 số giáo dân mà quên rằng VN không phải Ba Lan mà công giáo có đủ ảnh hưởng vào guồng máy chính trị .

    Những người này có thể đã thành công trong việc bêu xấu chế độ bằng những mất mát từ hạnh phúc gia đình cho đến sự an lành của cá nhân ông Cù .. lẽ tất nhiên, đang say máu thì ngay ông Cù cũng không nhận ra hay chấp nhận chơi xả láng ..

    Kiểm soát việc kháng án viết:
    Lại vẫn theo nguyên tắc một số nước, nếu bà Dương Hà không đủ thẩm quyền kháng án thì tòa án phải trả lời bằng văn bản chính thức ngay, đồng thời chỉ rõ nơi đâu và những ai có quyền kháng án (theo đạo luật nào).

    Bà Hà là LS thì lẽ nào bà lại không biết thủ tục kháng cáo. Còn nếu bà thật sự không biết thì có lẻ bà nên thôi hành nghề luật sư.

    Luật Tố Tụng Hình Sự VN viết:
    Điều 231. Những người có quyền kháng cáo

    Bị cáo, người bị hại, người đại diện hợp pháp của họ có quyền kháng cáo bản án hoặc quyết định sơ thẩm.

    Người bào chữa có quyền kháng cáo để bảo vệ lợi ích của người chưa thành niên hoặc người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất.

    Nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự và người đại diện hợp pháp của họ có quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định có liên quan đến việc bồi thường thiệt hại.

    Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và người đại diện hợp pháp của họ có quyền kháng cáo phần bản án hoặc quyết định có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ.

    Người bảo vệ quyền lợi của người chưa thành niên hoặc người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất có quyền kháng cáo phần bản án, quyết định của Toà án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của người mà mình bảo vệ.

    Người được Toà án tuyên bố là không có tội có quyền kháng cáo phần lý do bản án sơ thẩm đã tuyên là họ không có tội.

    http://vi.wikisource.org/wiki/B%E1%BB%99_lu%E1%BA%ADt_T%E1%BB%91_t%E1%BB%A5ng_h%C3%ACnh_s%E1%BB%B1_n%C6%B0%E1%BB%9Bc_C%E1%BB%99ng_h%C3%B2a_x%C3%A3_h%E1%BB%99i_ch%E1%BB%A7_ngh%C4%A9a_Vi%E1%BB%87t_Nam

    Không biết bà Hà đóng vai gì trong đơn kháng cáo này (người đại diện hợp pháp hay người bào chửa) và không biết luật VN có cho vợ được hành xử như người đại diện hợp pháp không. Không biết các luật sư biện hộ cho ông CHHV có làm đơn kháng cáo riêng mà không công bố hay không.

    Riêng về nội dung đơn kháng cáo, đây là đơn kháng cáo ngắn nhất và đơn giản nhất mà tôi từng thấy. Có thể đây là kiều VN vì người ta thường không quen tranh luận về yếu tố luật pháp lại toà.

    Nếu cần một cái đơn với nhiều chi tiết hơn bà Hà nên mượn đở bài viết của tác giả "một công dân"(#30947 ).

    Ngoài ra tôi củng lấy làm lạ là có rẩt nhiều đơn từ gởi tóa án hay khiều nại được gia đình ông CHHV công bố nguyên văn trên một số trang web. Trên nguyên tắc, các đơn từ chính thức gởi cho tòa án được coi là các tài liệu của tòa án. Khi bà Hà với tư cách luật sư cho công bố các biên bản tham khào với thân chủ (tức ông CHHV) tôi đả vô cùng ngạc nhiên. Khi tham khào luật HSTT VN và qui định vế hành nghề luật sư ở VN, thì tôi thầy rỏ ràng bà Hà vi phạm nguyên tằc bí mật nghề nghiệp, cho dù ông CHHV đồng ý cho bà công bố. Khi được biết bà Hà bị bác quyền biện hộ cho ông Vủ, tôi đoán là do bà đả liện tục công bố các tài liệu chính thức của vụ án cho công chúng.

    Tại Hoa Kỳ, các tài liẹu này chỉ được công bố nguyên văn cho nhừng người có liên hệ trong việc xử án và biện hộ. Ngoài ra, ai muốn xử dụng phải xin phép tòa án. Báo chí và các nhà nghiên cứu thường xin phép tòa để đọc các tài liệu này, nhưng không được quyền công bố nguyên văn. Trong các vụ án lớn, các luật sư thường trả lời báo chí về tình hình hay két quả vụ án, họ có quyền trình bày quan điểm của họ, hay tường thuật lại nội dung thào luận nhưng không bao giờ công bố nguyên văn các tài liệu cũa vụ án như trường hợp của ông CHHV.

    Thế nên tôi tự hỏi, không biết việc công bố như trên có tác dụng gì cho vụ án.

    ketui viết:
    Theo hiểu biết của tui, bà Hà chỉ có quyền kháng án khi ông Vũ mất năng lực trách nhiệm hinh sự(nhưng nếu có thì họ thả luôn rùi), uỷ quyền cho bà Hà (nhưng hạn hữu lắm), thời gian qua thấy lạ là nhiều văn bản có tính uỷ thác uỷ quyền lại do bà Bích (em gái) mà không phải bà Hà (vợ). Vợ và em gái, theo pháp luật thì ai hơn ai?

    Tôi nghĩ chắc ăn hơn là các luật sư của ông Vũ đều làm đơn kháng án cho thân chủ mình, cũng nhanh và không tốn kém nhiều

    Theo hiểu biết của tui, bà Hà chỉ có quyền kháng án khi ông Vũ mất năng lực trách nhiệm hinh sự(nhưng nếu có thì họ thả luôn rùi), uỷ quyền cho bà Hà (nhưng hạn hữu lắm), thời gian qua thấy lạ là nhiều văn bản có tính uỷ thác uỷ quyền lại do bà Bích (em gái) mà không phải bà Hà (vợ). Vợ và em gái, theo pháp luật thì ai hơn ai?

    NiMarxNiJesus viết:
    Tôi không biết rõ về quyền kháng cáo ở VN .

    Người bị xử án có quyền kháng cáo thì rõ rồi, còn thân nhân người bị kết án có quyền này không ?

    Bác Huân hãy liên lạc với các luật sư và bà Dương Hà để hỏi về thắc mắc của bác NiNi.

    Thao nguyên tắc các bên trong vụ kiện được quyền kháng án như bên nguyên, bên bị và các luật sư. Ở đây ông Hà Vũ có ủy quyền cho bà Dương Hà hay không ?

    Lại vẫn theo nguyên tắc một số nước, nếu bà Dương Hà không đủ thẩm quyền kháng án thì tòa án phải trả lời bằng văn bản chính thức ngay, đồng thời chỉ rõ nơi đâu và những ai có quyền kháng án (theo đạo luật nào).

    Ở VN thì ngành tư pháp không độc lập, không khách quan và không công bằng cho nên trong những vụ án chính trị, tòa án và chính phủ chung sức đứng hẳn về một phe, tức phe đảng CSVN, cho nên tòa án thay vì chí công vô tư trong việc xem xét thì tòa án VN lại thích mập mờ, chơi tới bến cho bõ ghét, cho mày chết. Các phiên tòa có án định sẵn như vậy thì có cả trăm luật sư cũng vẫn như nhau vì chánh án chỉ việc rút túi đọc bản án có sẵn do NTD, NPT, ... chỉ giùm

    Ví dụ tòa án ND Hà Nôi không thụ lý đơn ông Vũ kiện NTD việc bauxite nhưng không chỉ rõ tòa án nào có thể làm việc này

    Tôi đề nghị các luật sư của ông Vũ cũng làm làm ngay một bản kháng án

    Tôi không biết rõ về quyền kháng cáo ở VN .

    Người bị xử án có quyền kháng cáo thì rõ rồi, còn thân nhân người bị kết án có quyền này không ?

    Báo Quân Đội Nhân Dân điện tử ngày 10 tháng 4 năm 2011 đã đăng bài của luật sư Nguyễn Minh Tuấn “Phiên tòa nghiêm minh, đúng pháp luật.” (http://www.qdnd.vn/QDNDSite/vi-VN/61/43/5/5/5/144603/Default.aspx)
    Từ khi kết thúc phiên tòa xử ông Cù Huy Hà Vũ ngày 4 tháng 4 năm 2011, đây có lẽ là bài báo đầu tiên trên một tờ báo chính thức có mô tả tương đối chi tiết về những gì diễn ra trong phiên tòa.

    Một điểm rất đáng lưu ý trong bài báo là chi tiết: “Chủ tọa phiên tòa đã bác bỏ yêu cầu của ông Cù Huy Hà Vũ và các luật sư “đòi Hội đồng xét xử công bố toàn văn 10 bài viết đăng tải trên VOA, RFA được cho là tuyên truyền chống đối Nhà nước”, với lý do “các bằng chứng ấy đều đã được Kiểm sát viên công bố rõ trong cáo trạng, bản thân Vũ đã thừa nhận 10 tài liệu đó là của mình và các tài liệu trên đều có chữ ký xác nhận của Vũ. Trong những lần hỏi cung, Vũ thừa nhận và ký vào biên bản hỏi cung với cơ quan điều tra.”

    Việc Hội đồng xét xử từ chối yêu cầu của ông Cù Huy Hà Vũ và các luật sư bào chữa về việc công bố toàn văn các chứng cứ mà Viện Kiểm sát đưa ra để kết tội ông Cù Huy Hà Vũ đã vi phạm nguyên tắc về yêu cầu xác định sự thật của vụ án “một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ” và về trách nhiệm chứng minh tội phạm, được quy đinh trong Điều 10, và nguyên tắc về quyền bình đẳng trước tòa quy định tại Điều 19, thuộc Chương II “Những nguyên tắc cơ bản” trong Bộ Luật Tố Tụng Hình Sự (TTHS) năm 2003 của nước CHXHCN Việt Nam. Cụ thể:

    Điều 10. Xác định sự thật của vụ án
    Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Toà án phải áp dụng mọi biện pháp hợp pháp để xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, làm rõ những chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định vô tội, những tình tiết tăng nặng và những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo.
    Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng. Bị can, bị cáo có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội.”

    Điều 19. Bảo đảm quyền bình đẳng trước Toà án
    Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người đại diện hợp pháp của họ, người bảo vệ quyền lợi của đương sự đều có quyền bình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, đưa ra yêu cầu và tranh luận dân chủ trước Toà án. Tòa án có trách nhiệm tạo điều kiện cho họ thực hiện các quyền đó nhằm làm rõ sự thật khách quan của vụ án.

    Các nguyên tắc cơ bản này phải được tuân thủ nghiêm ngặt trong mọi hoạt động của các cơ quan tố tụng khi các cơ quan này thực hiện trách nhiệm của mình, được quy định tại Điều 63 của Bộ Luật TTHS :

    Điều 63. Những vấn đề phải chứng minh trong vụ án hình sự
    Khi điều tra, truy tố và xét xử vụ án hình sự, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Toà án phải chứng minh:
    1. Có hành vi phạm tội xảy ra hay không, thời gian, địa điểm và những tình tiết khác của hành vi phạm tội;
    2. Ai là người thực hiện hành vi phạm tội; có lỗi hay không có lỗi, do cố ý hay vô ý; có năng lực trách nhiệm hình sự hay không; mục đích, động cơ phạm tội;”

    Căn cứ vào các điều luật trên, Hội đồng xét xử ông Cù Huy Hà Vũ tại phiên tòa ngày 4/4/2011 có nhiệm vụ xem xét, phân tích đầy đủ và đánh giá toàn diện các chứng cứ, các yếu tố có thể cấu thành tội phạm trong những hành vi của ông Cù Huy Hà Vũ để kết luận ông Vũ có phạm tội tuyên truyền chống Nhà nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam theo quy định tại Điều 88 Bộ Luật hình sự hay không.

    Để thực hiện trách nhiệm chứng minh tội phạm của mình, một trong những việc mà tòa phải làm là đánh giá chứng cứ. Thủ tục đánh giá chứng cứ được quy định tại Điều 66 Bộ Luật TTHS.

    Điều 66. Đánh giá chứng cứ
    1. Mỗi chứng cứ phải được đánh giá để xác định tính hợp pháp, xác thực và liên quan đến vụ án. Việc xác định các chứng cứ thu thập được phải bảo đảm đủ để giải quyết vụ án hình sự.
    2. Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán và Hội thẩm xác định và đánh giá mọi chứng cứ với đầy đủ tinh thần trách nhiệm, sau khi nghiên cứu một cách tổng hợp, khách quan, toàn diện và đầy đủ tất cả tình tiết của vụ án.”

    Vì các chứng cứ không được công bố toàn văn, đầy đủ để bên công tố và bên bào chữa tranh tụng trực tiếp trước tòa, phiên tòa đã bỏ qua và không thể thực hiện thủ tục quy định trong Chương XXI “Tranh luận tại tòa”, đặc biệt là Điều 217 và 218 về thủ tục tranh tụng trực tiếp, để bên công tố và bên bào chữa tranh luận trực tiếp về từng chi tiết trong nội dung các bài viết, và làm sáng tỏ quan điểm của mình, xem hành động viết các bài báo/phỏng vấn và nội dung các bài viết mà bên công tố dùng làm chứng cứ có vi phạm Hiến Pháp và pháp luật khác của Việt nam không; ông Cù Huy Hà Vũ có động cơ “chống Nhà Nước XHCN Việt Nam” không; ông Vũ có lỗi trong hành vi của mình không; ông Vũ có cố ý phạm lỗi không; có cấu thành tội phạm theo điều 88 Bộ luật hình sự không. Việc các chứng cứ không được tranh luận trực tiếp và đầy đủ trước tòa đã dẫn đến hậu quả là việc đánh giá chứng cứ không được thực hiện đúng theo yêu cầu tại Điều 66 Bộ Luật TTHS.

    Bản thân việc xác định được ông Cù Huy Hà Vũ là tác giả của các bài báo, bài phỏng vấn được dùng làm chứng cứ trong vụ án chưa chứng minh được ông Vũ phạm tội theo điều 88 Bộ Luật Hình Sự. Nội dung cụ thể của từng bài viết đó mới là đối tượng cần được các bên tranh cãi trước tòa để xác định các yếu tố cấu thành tội phạm. Việc tranh cãi trực tiếp nội dung của các bài viết sẽ cho phép Hội đồng xét xử có cơ hội nghe phân tích của từng bên, xem xét kỹ từng chi tiết trong nội dung, đánh giá và đưa ra kết luận độc lập của mình. Không thể phán xét nội dung của một bài viết một cách khách quan, đầy đủ và toàn diện nếu chỉ dựa vào tiêu đề hay trích đoạn của bài viết đó. Cũng không thể xác định chính xác động cơ của tác giả bài viết mà chỉ nghe tóm tắt nội dung của chứng cứ hay chỉ nghe trích đoạn hoặc tiêu đề thông qua trình bày của bên công tố mà không nghe ý kiến của bị cáo hay luật sư bào chữa và bỏ qua thủ tục tranh tụng trực tiếp. Việc chứng minh này thuộc thẩm quyền và trách nhiệm của Tòa án, và tranh tụng trực tiếp là phương pháp để đảm bảo làm sáng tỏ hành vi và mức độ phạm tội, cũng như xác định động cơ và lỗi của bị người bị kết tội. Nếu không nghe tranh luận trực tiếp, mà chỉ nghiên cứu hồ sơ vụ án, thì Hội đồng xét xử vẫn chưa thực hiện hết trách nhiệm của mình. Phiên tòa đã bỏ qua thủ tục tranh tụng trực tiếp các chứng cứ một cách toàn diện theo điều 217 và 218 của Bộ Luật TTHS.

    Ngoài ra, bài báo nói trên cũng viết: “Theo quy định của pháp luật, HĐXX chỉ công bố những tài liệu mới phát sinh (nếu có) trong vụ án để những người tiến hành tố tụng, luật sư, bị cáo và những người liên quan phân tích đánh giá. Ở vụ án này điều đó đã không xảy ra.”

    Phải khẳng định rằng, lập luận này hoàn toàn trái với quy định tại Điều 214 Bộ Luật TTHS, theo đó “Các tài liệu đã có trong hồ sơ vụ án hoặc mới đưa ra khi xét hỏi đều phải được công bố tại phiên tòa.” Nếu một văn bản dưới luật nào đó về thủ tục quy định tại điều 214 Bộ Luật TTHS có hướng dẫn khác đi, thì theo nguyên tắc quy định tại khoản 2 Điều 80 Luật Ban Hành Các Văn Bản Pháp Luật về áp dụng văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn, Hội Đồng Xét Xử phải tuân theo quy định tại điều 10 và điều 214 Bộ Luật TTHS.

    Cũng trong bài báo nói trên, luật sư Nguyễn Minh Tuấn cho biết tòa đã bác bỏ yêu cầu của ông Cù Huy Hà Vũ “đòi thay toàn bộ Hội đồng xét xử vì đều là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam; thay kiểm sát viên” vì “những lời đề nghị không có căn cứ pháp luật”.

    Tuy nhiên, theo Điều 43 Bộ Luật TTHS, ông Cù Huy Hà Vũ có quyền đề nghị thay người tiến hành tố tụng, và đề nghị của ông Vũ được đưa ra căn cứ vào quy định tại Điều 14 thuộc chương II “Các nguyên tắc cơ bản” của Bộ Luật TTHS.

    Điều 14. Bảo đảm sự vô tư của những người tiến hành hoặc người tham gia tố tụng
    Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, Chánh án, Phó Chánh án Toà án, Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký Tòa án không được tiến hành tố tụng hoặc người phiên dịch, người giám định không được tham gia tố tụng, nếu có lý do xác đáng để cho rằng họ có thể không vô tư trong khi thực hiện nhiệm vụ của mình.”

    Việc đảm bảo sự vô tư của những người tham gia tố tụng là một trong những nguyên tắc cơ bản nhất của nhà nước pháp quyền, được sử dụng để đảm bảo kết quả tố tụng khách quan, công bằng, đảm bảo pháp chế xã hội chủ nghĩa.

    Vì một trong những chứng cứ được bên công tố sử dụng để kết tội ông Cù Huy Hà Vũ có nội dung liên quan đến Đảng Cộng Sản Việt Nam (CSVN), và vì các thành viên hội đồng xét xử và kiểm sát viên đều là đảng viên Đảng CSVN, nên về mặt hình thức ông Vũ có đầy đủ căn cứ để cho rằng những người tiến hành tố tụng không tuyệt đối vô tư trong khi xem xét hành vi và động cơ của ông, và do đó có thể có kết luật thiếu khách quan về vụ án.

    Hội đồng xét xử không thể nói yêu cầu của ông Vũ không có cơ sở pháp luật để bác bỏ yêu cầu của ông, mà cần phải chứng minh được là những người tiến hành tố tụng hoàn toàn vô tư.

    Nếu bài của luật sư Nguyễn Minh Tuấn trên báo Quân Đội Nhân Dân phản ánh đúng sự thật, thì phiên tòa xử ông Cù Huy Hà Vũ chưa “nghiêm minh và đúng luật”, và cần phải được mở lại và xử cho đúng (căn cứ điểm A khoản 2 Điều 250 Bộ Luật TTHS) .