Xích Tử - Dân chủ ư? Hãy bình tĩnh!

  • Bởi Khách
    02/04/2011
    1 phản hồi

    Xích Tử

    Quốc hiệu Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa kèm tiêu ngữ Độc lập – Tự do – Hạnh phúc được dùng cho nước Việt Nam của tôi từ năm 1976, một năm sau ngày thống nhất đất nước, nhiều việc ngổn ngang 2 miền, tất nhiên là chưa có chút chủ nghĩa xã hội nào đúng nghĩa cả.

    Quốc hiệu mới đanh thép, sang trọng; phần tiêu ngữ kế thừa quốc hiệu thời kỳ trước đó, từ 1945. Nó gọn ghẽ, rõ ràng trong tuyên ngôn chính trị, song độ dài hơi lớn, có thể so với Lào, Bắc Triều Tiên, Myanmar, Brunei, Lybia… Đến những ngày này, thể chế chính trị được tuyên trong quốc hiệu nước tôi là duy nhất, tức là số 1 trên thế giới.

    Quyết định thay đổi quốc hiệu là một việc làm tập thể rất tự tin của những con người ưu tú của nước tôi; đó là sự nâng cấp và tạo bước ngoặc về mơ ước và khẳng định chính trị cho đất nước sau 31 năm xây dựng và bảo vệ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Trong chừng ấy năm, dù phải trải qua 2 cuộc chiến, đất nước vẫn kiên trì với mục tiêu thể chế là một nước cộng hoà dân chủ.

    Bước vào thời kỳ mới, với khí thế của 3 dòng thác cách mạng mà Việt Nam đang đứng ở “đỉnh cao”, “mắt nhìn bốn hướng”, vừa “vì ta” vừa “vì ba nghìn triệu trên đời”(*), thể chế cộng hoà dân chủ không còn cần thiết phải nói ra nữa. Tính chất, mục tiêu dân chủ đã được hàm ngụ và thể hiện trong nền dân chủ gấp triệu triệu lần của chủ nghĩa xã hội mà các bậc tiền bối đã nói rồi.

    Nhân dân trong nước buộc phải tin nền dân chủ ấy mà không cần chứng minh; nếu có thắc mắc hay thấy lạ lẫm gì chỉ cần động viên rằng đó là dân chủ xã hội chủ nghĩa, khác với dân chủ tư sản. Đối với người nước ngoài có nhận xét, nghi ngờ gì về vấn đề dân chủ, phải đấu tranh để họ công nhận chân lý của phép suy diễn từ hàm ngụ nói trên; nếu không đạt được vậy, có lẽ đó là sự can thiệp vào công việc nội bộ của nước Việt Nam, là thù địch, là diễn biến hoà bình.

    Theo đó, sự thuyết phục của nền dân chủ mới kéo dài suốt đến bây giờ là 66 năm, 2 quốc hiệu, huy động được toàn thể nhân dân chiến đấu, hy sinh, làm ăn, vui chơi đủ kiểu, sinh con đẻ cái, giàu có, đổi thay thân phận giai cấp và chính trị, giao thiệp với cả thế giới.

    Thế nhưng khi bước vào thời kỳ nhiễu nhương thế sự, một loạt các nước có thể chế được gọi tên tương tự bị sụp đổ, trong nước người ta bắt đầu truy vấn những vấn đề về bản chất chính trị của quốc hiệu. Một số trí thức không đề kháng được - theo cách nói chính thống - thì cảm thấy xấu hổ và buồn cho rủi ro lịch sử để không biết tại sao lại có cái “chủ nghĩa xã hội trên mảnh đất vua Hùng”(**) này. Một số tự đề kháng theo kiểu của mình thì tự an ủi rằng chẳng qua đó cũng là một kiểu hệ quả của việc làm “điếc không sợ súng” hoặc như anh nông dân nghèo mà chơi ngông, tuy nhà chưa có điện nhưng cũng đi mua mấy cái quạt điện xịn về treo lên tường, lâu lâu lại tra dầu mỡ rồi xoay cho nó chạy vù vù mà cười tít mắt đắc ý.

    Chỉ khổ cho những người lãnh đạo, những nhà tuyên truyền, không cách nào khác được, vẫn phải ca ngợi cái bản chất tốt đẹp, cái dân chủ không chối cãi được của chế độ. Họ nói như thật, nói một cách thành tâm, nhập vai nhuyễn đến nỗi người nghe còn khả năng tự vấn cảm thấy hoang mang, quay ra nghi ngờ mình: hay lại có ngọc trong đá mà mình không biết. Bậc trí giả, nếu không nghi ngờ thì vì tuổi tác, động viên mình nên bình tĩnh.

    Chẳng hạn như cái nền dân chủ kia, nói vậy nhưng không phải vậy. Cứ quan sát, nghe thật kỹ rồi sẽ hiểu. Một nhà nước cộng hoà có Quốc hội mà cứ mỗi lần bầu cử, người ta lại có những thắc mắc rất có lý về tính dân chủ của qui trình bầu cử đó, nhất là một điều quá rõ ràng, cử tri - nhân dân giống như một công cụ, một kiểu robot được mượn để hoàn chỉnh hình thức của một sinh hoạt chính trị. Cả những người câm điếc cũng “được bầu” những đại biểu Quốc hội cho địa phương mình mà trong đó có đến 2/3 được giới thiệu từ trên trời xuống, đến công chức nghe đài đọc báo mà cũng không biết mặt ngang mặt dọc thế nào nói chi đến những người – cử tri câm điếc.

    Nhưng cứ cho là thực sự dân chủ trong bầu cử đi thì cái Quốc hội được bầu đó là kết quả, là biểu tượng, là niềm tự hào của nền dân chủ. Nhưng không hiểu sao sau 66 năm, đến những khoá gần đây, mỗi lần tổng kết bế mạc một kỳ họp hay cả nhiệm kỳ, chủ tọa Quốc hội lại cứ trở đi trở lại tự hào mà khẳng định rằng rằng sinh hoạt Quốc hội ta ngày càng dân chủ hơn (gần đây nhất là bài tường thuật đại biểu Quốc hội Nguyễn Tấn Dũng gặp gỡ cử tri ở Hải Phòng trên VTV1 tối 31/3/2011). Hoá ra cái thiết chế được tạo nên bởi một qui trình dân chủ và có quyền thiết kế mô hình dân chủ cho nhân dân, cho đất nước mình đó cũng bị mất dân chủ. Nhưng ai lại có quyền tướt đoạt dân chủ của Quốc hội nhỉ? Rất khó hiểu, cũng như khi hiến pháp, luật pháp qui định rành rành rằng Chính phủ là cơ quan do Quốc hội bầu ra, là cơ quan chấp hành của Quốc hội, nhưng trong thứ tự giới thiệu, xướng danh, kính thưa, người ta lại xếp ông Thủ tướng đứng trên Chủ tịch Quốc hội và Chủ tịch Quốc hội, người đứng đầu cơ quan quyền lực cao nhất đại diện cho toàn dân chỉ xớ rớ chầu rìa như thằng mõ trong hội cúng đình.

    Đó là chuyện quốc gia đại sự. Với nhân dân, ở trình độ dân trí bình thường, đều hiểu rằng dân chủ là cái gì đó trọn vẹn, chỉnh thể, không chia cắt, phân lớp trong khái niệm của nó và thể hiện bằng các quyền, các cơ chế vận hành quyền trong thực tiễn đời sống chính trị. Thế nhưng suốt nhiều năm, họ phải làm quen với một quá trình mở rộng dân chủ mà không biết tâm của sự mở rộng đó là ở đâu từ đâu là gì, các đoạn bán kính mở rộng là bao nhiêu, tại sao như thế, do ai quyết định; họ phải đi trên một con đường thăm thẳm của dân chủ hoá mà không biết phía ngược lại, điểm zero, điểm đích của quá trình đó là gì. Họ bị tung đẩy vào đủ thứ chủ trương và những hoạt động gọi là dân chủ hoá như dân chủ cơ sở, dân biết dân bàn dân làm dân kiểm tra với đủ thứ công việc như bàn qui chế chi tiêu nội bộ (cũng là duy nhất trong các cơ quan ở nước ta), bàn việc làm đường bê tông nông thôn v.v… và được giải thích đó là dân chủ, rồi dần cũng tự sướng, có ảo giác như là mình là chủ; trong khi, cái dân chủ, các quyền tự do chính trị được nêu trong quốc hiệu, cái giá trị thiêng liêng mà nền văn minh chính trị của nhân loại đã tạo ra, vốn được các nhà cách mạng vô sản hưởng thụ và lợi dụng để làm cách mạng thì dân không bao giờ được biết đến về nhận thức, tri thức và được làm trong hành động thực tiễn. Để bảo vệ cuộc cách mạng chống lại toàn dân (vì trong cái toàn dân trừu tượng ấy, luôn luôn có một số bộ phận cụ thể là kẻ thù tiềm năng, tuỳ theo chính sách của từng giai đoạn), qua cầu phải rút ván; trước đây cách mạng biết chiếm đài phát thanh của địch để làm điểm tựa thì bây giờ phải coi nơi đó là trọng tâm bảo vệ với hàng trung đội công an canh gác đêm ngày. Khái niệm, giá trị dân chủ cũng vậy: cái sơ hở của địch không bao giờ còn là cái sơ hở của ta.

    Cứ vậy cho nên phải bình tĩnh. Tôi học được cách bình tĩnh đó từ một câu chuyện được nghe đã lâu. Chuyện là sau 1975, có một số cụ kháng chiến ở miền Nam, do lâu ngày gian khổ ác liệt nên yếu mất cái sự đàn ông khi đón vợ từ Bắc vào, khó bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau. Các cụ được cho đi Liên Xô để điều dưỡng. Trong khoá điều dưỡng ấy, các cụ được cho đi xem múa balê. Do diễn viên Tây trang phục hở hang thế nào đó, giữa vỡ diễn, cái sự đàn ông của một cụ bỗng trỗi dậy; thế là cụ ôm chầm lấy cô y tá Nga đi kèm, đứng lên hô to: Hoan hô nền y học Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Xô viết.

    Tôi cũng biết hoan hô nền dân chủ xã hội chủ nghĩa.

    Xích Tử

    (*) Một số ý trong thơ Tố Hữu.
    (**) Một câu trong lời một bài hát.

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    1 phản hồi