Việt Hoàng - Người Việt Nam ở Nhật Bản: "Người ơi, người ở đừng về!"

  • Bởi Khách
    21/03/2011
    4 phản hồi

    Việt Hoàng (Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên)

    Sự kiện động đất, sóng thần gây chết chóc và tàn phá nước Nhật đang gây sự chú ý đặc biệt cho cả thế giới, trong đó có Việt Nam. Lý do để người Việt Nam quan tâm đến Nhật Bản có mấy lý do: Thứ nhất hiện nay người Việt đang học tập sinh sống tại Nhật là hơn 31.000 người. Thứ hai Nhật là người bạn thân thiết của Việt Nam, là nước cấp viện ODA lớn nhất cho Việt Nam. Thứ ba là tinh thần dân tộc vĩ đại của người Nhật trong cơn hoạn nạn đã lay động trái tim của tất cả chúng ta.

    Những gì đang xảy ra ở Nhật đã được báo chí Việt Nam tường thuật tương đối đầy đủ và cập nhật trên các phương tiện truyền thông. Hôm nay đọc một bài viết trên Tuần Việt Nam, bài ‘Hồi âm của ông Hà Minh Thành, cảnh sát Nhật gốc Việt’, tôi bỗng giật mình và thấy cần lên tiếng ngay về một vấn đề tuy nhỏ nhưng rất quan trọng, nhất là với những người Việt đang sống và làm việc tại Nhật.

    Ông Hà Minh Thành viết ‘Rất mong báo chí trong nước nên đưa tin một cách chính xác về tình hình thảm họa. Hiện tại theo thông tin, tôi được biết rất nhiều người Việt hiện tại đã ở các vùng an toàn ở Nhật như Tokyo, Yokohama, Nagoya , thậm chí cả ở miền Kansai (Quan Tây) và miền Nam như Osaka, Kyoto, Himeji, Nagasaki v.v... đang ùn ùn di tản về VN.

    Phần nhiều trong số họ không giỏi tiếng Nhật để có thể bình tĩnh theo dõi thông tin cập nhật liên tục trên truyền thông, để ứng phó trước tình hình mà chỉ theo dõi qua các mạng truyền thông Internet bằng tiếng Việt trong nước và kế nữa là tin đồn truyền miệng. Nỗi lo sợ thái quá của các thân nhân trong nước cũng tác động rất lớn.

    Thực sự tình hình nhà máy điện hạt nhân Fukushima 1 vẫn còn nguy hiểm nhưng vẫn còn kiểm soát được, cho dù có tình huống xấu nhất xảy ra thì ở các vùng khác có lẽ cũng không sao, vì phạm vi thiệt hại nặng nhất cũng chỉ trong vòng bán kính 80km trở lại.

    Tôi lo sợ rằng sau đợt khủng hoảng này khi quay trở lại Nhật, phần nhiều người Việt Nam sẽ gặp nhiều khó khăn về kinh tế vì sẽ mất việc làm, mất nhà cửa, cản trở việc học hành của con cái. Một số đại lý người Việt nhân cơ hội này tăng giá vé lên đến 1800USD cũng là những việc làm thể hiện sự không có lương tâm trong kinh doanh”.

    Thiển nghĩ, nếu người nào đủ sáng suốt thì chỉ cần đọc đoạn trên là biết được cần phải làm gì. Nhưng tôi thì không tin điều đó lắm vì dân tộc Việt Nam là dân tộc không giống ai. Tâm lý đám đông và phản xạ theo cảm tính vẫn chi phối mạnh mẽ các hành động của người Việt chúng ta.

    Mọi người nên cám ơn ông Hà Minh Thành vì lời khuyên rất chân tình của ông “Hãy ở lại Nhật chứ đừng về Việt Nam trong lúc này”.

    Xét về lý, người Việt sang Nhật để học tập và kiếm tiền cho bản thân chứ không phải đi làm ‘nghĩa vụ quốc tế’, hoạn nạn này là do thiên tai gây ra chứ không phải là chiến tranh như ở Libya, vì vậy nếu chính phủ Nhật không yêu cầu người Việt rời khỏi Nhật thì tại sao chúng ta lại bỏ đi cơ hội mà chắc chắn không phải dễ dàng để có được? Bạn sợ chết, sợ gặp nguy hiểm! Tôi nghĩ rằng nên nhìn vào những người Nhật và tự hỏi mình: Họ không sợ chết ư? Không lẽ mạng sống người Nhật không bằng mạng sống người Việt? Hơn nữa bạn đã ở những vùng an toàn rồi cơ mà?

    Xét về tình, người Việt có câu ‘trong cơn hoạn nạn, mới hiểu được lòng nhau’, tại sao chúng ta không ở lại Nhật để chia bùi sẻ ngọt, cùng khắc phục hậu quả thiên tai với nhân dân Nhật? Đất nước đã cưu mang bạn và đang giúp đỡ rất nhiều cho quê hương của bạn? Đây là cơ hội tốt để mỗi người Việt chứng minh cho người Nhật thấy rằng chúng ta cũng là những con người có tấm lòng và không vô ơn, vô cảm trước những mất mát lớn lao của nhân dân Nhật?

    Báo chí Việt Nam có thể vô tâm cũng có thể chủ tâm khi đưa tin về tình hình tại Nhật một cách cường điệu. Tôi chợt nhớ cách đây 6 năm về trước, khi tại Ukraine xảy ra ‘Cách mạng Cam’ đưa Iushenko, một người thân Phương Tây lên làm tổng thống, các cuộc biểu tình đã diễn suốt hơn hai tuần. Báo chí Việt Nam làm rùm beng sự việc cứ như là sắp chiến tranh và đổ máu đến nơi. Tôi hỏi thăm và biết được tại thủ đô Kiev khi đó vẫn bình thường, không có chuyện gì ghê gớm cả, ai đi biểu tình cứ đi; ai đi làm cứ đi làm. Mục đích của báo chí là dọa dẫm dân Việt Nam đừng có mà nghĩ đến chuyện ‘đa nguyên đa đảng’ vì ‘đa đảng là loạn’… Người thân ở Việt Nam khi đó (cũng như ở Nhật bây giờ) do thiếu thông tin nên cũng hoảng hốt, kêu gọi con cái trở về Việt Nam ngay và sau đó một thời gian tất cả đều phải quay lại Ukraine với một cái giá rất đắt, tiền làm lại vida, tiền mua vé máy bay, lại phải bắt đầu mọi cái từ đầu…

    Chính quyền Nhật Bản là một chính quyền có trách nhiệm, có bản lĩnh cho nên chỉ một thời gian ngắn là họ sẽ khôi phục lại nước Nhật. Nên nhắc lại chuyện cũ, khi nước Mỹ bị khủng bố năm 2001, có những người Trung Quốc du lịch và học tập tại Mỹ đã vui mừng khi thấy Mỹ bị khủng bố và sau đó tất cả những người này đã bị trục xuất khỏi Mỹ và không bao giờ được cấp viza đến Mỹ. Thiết nghĩ những người Việt Nam đang có ý định rời Nhật nên cân nhắc về quyết định của mình để sau này khỏi hối tiếc. Câu hỏi mà mỗi người cần đặt ra cho mình là họ sẽ làm gì ở Việt Nam? Tôi nghĩ rằng những nụ cười của họ khi về đến Việt Nam sẽ nhanh chóng biến mất khi đối diện với thực tế phũ phàng tại Việt Nam.

    Việt Hoàng (Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên)

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    4 phản hồi

    VM viết:
    Bất cứ chính quyền nào chẳng mong chờ dân mình ngoan ngoãn, cam chịu như dân Nhật, sẵn sàng "cảm thông" với chính quyền. Sự ngoan ngoãn đó có thể được rèn giũa bởi thói quen và bởi sự kiểm soát chặt chẽ qua nhiều năm. Chưa hẳn đó đã là biểu hiện của sự ưu việt.

    Có lẽ bác nhầm. Họ đã phát triển tư duy cao đến mức khó tin, mọi chuyện đều rạch ròi đến từng chi tiết nhỏ. Chuyện đứng xếp hàng không phải vì họ cam chịu gì hết mà vì họ hiểu rằng họ đã thỏa thuận với nhau từ trước như vậy, nếu chỉ cần một người làm sai đi chắc chắn sẽ không ai có lợi, hại mình hại người (như cái ví dụ đèn xanh của bác). Còn nếu thấy giải pháp đó chưa tối ưu, họ sẽ thỏa thuận lại luật chơi rồi tất cả lại cứ thế mà làm. Tôi thấy đó mới là cách tư duy của con người đúng nghĩa, khác với lối sống theo bản năng của động vật bậc thấp.

    Một quốc gia thay chính phủ với tần suất cao nhất thế giới, quan chức tham gia hối lộ bên ngoài nước Nhật còn bị phanh phui ầm ĩ lôi cổ về đưa ra tòa... mà bảo là ngoan ngoãn cam chịu thì thua.

    VM viết:
    Có lẽ vì quá chán ngán với cảnh lộn xộn ở VN mà không ít người VN đang quá tán dương tính kỷ luật của người Nhật, tôn sùng, coi đó như một tấm gương mẫu mực về văn hóa, nhân cách, tinh thần.

    - “50 năm nữa , kinh tế Trung Quốc chắc chắn sẽ đứng đầu thế giới, nhưng vĩnh viễn Trung Quốc không thể được gọi là cường quốc vì 50 năm nữa người Hoa cũng chưa thể có trình độ dân trí và ý thức đạo đức công dân cao như người Nhật hiện tại. Tôi hổ thẹn mình là con cháu của Khổng Tử nhưng không hiểu cái đạo Nhân Nghĩa làm người bằng họ.” - Vương Hy

    Có lẽ vì quá chán ngán với cảnh lộn xộn ở VN mà không ít người VN đang quá tán dương tính kỷ luật của người Nhật, tôn sùng, coi đó như một tấm gương mẫu mực về văn hóa, nhân cách, tinh thần.

    Tôi không có ý định so sánh cách hành xử, tổ chức của Nhật với VN, vì hai nước quá khác biệt nhau: một nước có bề dày tổ chức nhà nước hàng trăm năm, nước kia chỉ vài chục năm; một nước đã công nghiệp hóa từ hàng chục năm, nước kia thì đang vật lộn với CNH; một nước có GDP 40 ngàn USD còn nước kia chỉ vẻn vẹn có 1 ngàn. Lẽ dĩ nhiên cách ứng xử với tình hình khác nhau là điều không có gì đáng ngạc nhiên.

    Vấn đề là sự nhìn nhận hơi thái quá (kiểu ca ngợi) với những gì người Nhật thể hiện. Nói kiểu ca ngợi này là tinh thần kỷ luật, nhân bản... (quá nhiều người viết rồi). Nhưng nhìn ở khía cạnh khác: đó không phải là phản ứng tự nhiên của một xã hội loài người! cái tôi muốn nói chính là sự phản ứng phi tự nhiên đó.

    Người bạn Nhật của tôi có nói về sự máy móc của người Nhật: cứ đèn xanh là họ cắm mặt qua đường, chẳng cần quan sát, và không ít người bị xe đụng.

    Khi thảm họa xảy ra, than khóc, tìm đủ mọi cách để kiếm cái ăn cái mặc, chạy qua nơi khác an toàn hơn... mới là phản ứng tự nhiên của mọi con người.

    Cách phản ứng của người Nhật cho thấy họ bị ghép thái quá vào khuôn phép, vào các các cơ chế, quá tin tưởng vào những gì mà xã hội và chính phủ có thể làm để giúp họ. Tại sao hàng đoàn người phải mất thời gian xếp hàng để mua thực phẩm, để đi xe buýt? nếu thực phẩm ít thì thiếu gì cách để vận chuyển đến; nếu thiếu người phát thì tại sao không trưng dụng dân tại chỗ làm công việc phát thực phẩm - mà kỳ lạ nhất là sự cam chịu của dân Nhật khi xếp hàng dài như vậy mà không kêu ca - họ phải kêu ca chứ, để mọi thứ vận hành tốt hơn, để họ đỡ phải đứng một chỗ xếp hàng và dành thời gian đó làm nhiều việc có ích hơn.

    Bất cứ chính quyền nào chẳng mong chờ dân mình ngoan ngoãn, cam chịu như dân Nhật, sẵn sàng "cảm thông" với chính quyền. Sự ngoan ngoãn đó có thể được rèn giũa bởi thói quen và bởi sự kiểm soát chặt chẽ qua nhiều năm. Chưa hẳn đó đã là biểu hiện của sự ưu việt.

    “Mỹ chất” của dân một nước lớn

    Người Việt Nam vốn kính trọng dân Nhật. Mà ít thù hận họ, so với dân các nước Á Ðông khác. Có lẽ vì, không như ở Nam Hàn và Trung Quốc, thời gian quân Nhật chiếm và cai trị nước ta rất ngắn, tháng 3 đến tháng 8 năm 1945.

    Trận động đất ở Fukushima vừa qua lại khiến nhiều người Việt thán phục tinh thần của người Nhật Bản hơn. Ở nhiều quốc gia, khi có một trận động đất làm cho bao nhiêu nhà cửa đổ nát như thế này, một mối lo của giới cảnh sát là người ta đến hôi của tại các cửa hàng. Ở Nhật Bản không thấy.

    Chủ Nhật vừa qua, 13/3/2011, ông Nguyễn Ðình Ðăng, làm việc ở Nhật Bản từ năm 1995, đã bày tỏ niềm kính trọng trong blog của ông: “…Xem trên TV thấy cụ già được quân lính cõng ra khỏi khu nhà đổ nát, vẫn mỉm cười trả lời phóng viên. Mấy phụ nữ nhận cơm nắm người ta phát trong căn nhà mất điện tối om, vẫn cúi lạy cảm ơn dưới ánh đèn pin. Cũng thấy có người khóc (cụ già và trẻ con). Toàn bộ Nội ác Nhật Bản làm việc hầu như 24/24 từ Thứ Sáu (ngày động đất). Ông kết luận: “Một đất nước mà người dân thực sự bình thản, lịch sự, giữ phẩm cách, rất trật tự, tử tế với nhau trong thảm họa… là một đất nước thực sự vĩ đại.”

    Hai chữ “vĩ đại” có quá đáng hay không? Chúng ta nhớ trong phim “Chuyện Tử Tế” của Trần Văn Thủy, có đoạn một phóng viên hỏi mấy em bé (với biểu ngữ viết mấy chữ “vĩ đại”) rằng: “Các em đã thấy cái gì vĩ đại bao giờ chưa?” Các cháu bé cười! Có lẽ tấm lòng cảm phục diễn tả qua hai chữ “vĩ đại” cũng không phải là quá đáng. Tiến Sĩ Nguyễn Ðình Ðăng, với hai bằng tiến sĩ Vật lý và Toán học, “đã sống 18 năm thời niên thiếu của mình rồi sau này làm việc vài năm tại Việt Nam, 11 năm tại Liên Xô cũ, một thời gian tại Châu Âu và thăm một số trường đại học tại Hoa Kỳ,” theo lời tự thuật trong một bài trước đây. Những lời ngợi khen của ông chắc rất có cân nhắc và rất thành thật.

    Một dân tộc, và mỗi con người, khi bị thử thách trong những cơn hoạn nạn, là lúc chứng tỏ mình lớn hay nhỏ, có đáng kính trọng hay không. Một dân tộc sẽ được người ta kính trọng khi tư cách chững chạc, đường hoàng thể hiện ngay trong tư cách của những người dân bình thường, chứ không phải chỉ thấy trong những công trình văn hóa, kinh tế, đồ sộ. Khi nhìn các Kim Tự Tháp ở Egypt hay các vận hà và Vạn Lý Trường thành ở Trung Quốc, người ta không quên rằng trong đó cũng thể hiện chế độ khắc nghiệt của các vua chúa và thân phận khốn cùng của hàng vạn dân phu. Nền văn hóa của một dân tộc thể hiện ngay trong cuộc sống hàng ngày của người dân bình thường.

    Trong cuốn tự truyện “Niên Biểu,” Phan Bội Châu kể những kinh nghiệm đầu tiên đối với dân Nhật vào năm 1905, là trên xe công cộng có ai bỏ quên đồ thì cũng không lo bị ai lấy mất. Cụ đi xe lửa từ Thần Hộ (Kobe) tới Hoàng Tân, xuống ga, chờ hành lý mà không thấy. Nhưng một viên chức đã trấn an, gọi xe đưa cụ Phan và cụ Tăng Bạt Hổ đến quán ăn mà ông ta đã giữ chỗ cho trước. Tới nơi, thì hành lý của họ cũng tới. Hai cụ đã từng bỏ quên đồ trên xe lửa, vài ngày sau tới tìm thấy vẫn ở chỗ cũ. Cụ nhận xét: “Chính trị của cường quốc với trình độ của quốc dân chỉ một việc ấy!” Cho nên, cụ cũng khen người Nhật không khác gì ông Nguyễn Ðình Ðăng, một trăm năm sau: “Mỹ chất của dân quốc nước lớn thiệt có như thế!” Chúng tôi lập lại hai chữ “Mỹ chất” trên tựa đề là để chúng ta cùng tưởng nhớ Phan Bội Châu.

    Phan Bội Châu bày tỏ niềm cảm phục khi gặp một người phu kéo xe ở Tokyo. Trở lại Nhật Bản lần thứ hai sau khi về nước, Phan Bội Châu và Tăng Bạt Hổ đến Ðông Kinh để tìm một sinh viên người Trung Hoa học ở trường Chấn Võ. Một người phu xe biết đọc chữ Hán đưa hai ông khách Việt Nam từ ga xe lửa tới trường, nhưng anh du học sinh đó đã đi ở chỗ khác rồi. Người phu xe bảo hai khách ngoại quốc chờ ở một đầu phố, anh ta đi tìm giúp. Chờ từ 2 giờ đến 5 giờ chiều, anh phu xe trở lại, báo tin đã tìm được địa chỉ. Anh đưa hai người đến khách sạn nơi chàng sinh viên Trung Hoa đang ở trọ. Hai nhà cách mạng Việt Nam muốn đền ơn, đưa cho anh ta một đồng. Anh ta nhất định từ chối, chỉ nhận đúng 52 xu. Anh giải thích: Vì đó là giá một chuyến xe đi từ nhà ga Tokyo đến khách sạn này. Phan Bội Châu kết luận: “Than ôi! Trình độ trí thức dân nước ta xem với tên phu xe Nhật Bản chẳng dám chết thẹn lắm sao!

    Một người Việt Nam khác cũng vừa mới “phải hổ thẹn về một bài học làm người” sau khi gặp một em bé lên 9 tuổi trong vùng Fukushima bị động đất. Câu chuyện của anh Hà Minh Thành đã được truyền bá khắp các mạng của người Việt Nam trong và ngoài nước, chỉ xin kể vắn tắt. Cùng với các cảnh sát Nhật đến Fukushima lo việc cứu trợ người bị nạn, anh Thành gặp một em bé 9 tuổi, rét lạnh vì chỉ mặc một mảnh áo thung và chiếc quần cộc tập thể dục, đang xếp hàng chờ nhận thức ăn cấp cứu. Cha mẹ và gia đình em có lẽ đã tử nạn cả. Anh Thành cởi chiếc áo lạnh của mình tặng em bé, em nhận lấy. Anh lại đưa cho em bao lương khô khẩu phần ăn tối của mình. Em bé cúi đầu, nghiêng mình cảm ơn như lối người Nhật. Xong, em đem gói lương khô đó tới để chung vào thùng thực phẩm mà người ta đang phân phát rồi lại quay lại xếp vào hàng như cũ. Anh Thành “mới hỏi nó tại sao con không ăn mà lại đem bỏ vào đó. Nó trả lời: “Bởi vì còn có nhiều người chắc đói hơn con. Bỏ vào đó để các cô chú phát chung cho công bằng chú ạ”.

    Hà Minh Thành viết: “Xưa nay tôi không phục người Nhật lắm. Từ khi còn đi học, làm kỹ sư rồi làm cảnh sát thì phải luôn tiếp xúc với những người Nhật ở mặt trái của xã hội. Nhưng mà hành động của người dân Nhật trong vùng động đất bây giờ đã khiến tôi phục họ thật sự.” Anh kể chuyện một ký giả Trung Quốc tên là Vương Hy Văn cùng với anh đi ngang qua một ngôi nhà bị sập. Họ trông thấy rất nhiều đồng tiền giấy “có lẽ từ ngôi nhà đó trôi ra, ướt, nằm tứ tán cả bãi đất.” Tổng cộng số tiền rơi vãi chắc cũng vài chục triệu yen, một Mỹ kim hiện đổi được khoảng 78 yen. Nhưng mà chẳng ai thèm nhặt. Cũng giống như năm 1905 Phan Bội Châu và Tăng Bạt Hổ thấy không ai lượm lấy đồ người khác bỏ quên trên xe lửa! Một trăm năm sau, nhà báo Trung Hoa cũng phải thú nhận: “50 năm nữa, kinh tế Trung Quốc chắc chắn sẽ đứng đầu thế giới, nhưng vĩnh viễn Trung Quốc không thể được gọi là cường quốc vì 50 năm nữa người Trung Quốc cũng chưa thể có trình độ dân trí và ý thức đạo đức công dân cao như người Nhật hiện tại. Tôi hổ thẹn mình là con cháu của Khổng Tử nhưng không hiểu cái đạo Nhân Nghĩa làm người bằng họ.” Vương Hy Văn không dùng hai chữ “vĩ đại” nhưng niềm kính trọng cũng cao như của Nguyễn Ðình Ðăng.

    Khổng Tử vẫn còn “sống” ở Nhật Bản trong mấy thế kỷ qua, mặc dù họ đã “duy tân” theo Âu Mỹ được hơn một thế kỷ rưỡi. Nhà báo Mỹ T. R. Reid kể rằng khi các con ông được nhận vào học mấy năm ở trường tiểu học Yodobashi số 6, Tokyo, thì “bài học mạnh nhất mà các con tôi mang theo được sau khi rời ngôi trường Nhật Bản này là một điều mà chúng tôi không chờ đợi. Các cháu được dạy để trở thành những môn đồ Khổng Giáo tí hon (to be little Confucians).” Ngôi trường công lập đó dùng biết bao nhiêu thời giờ, kỹ xảo và năng lực để dạy các bài học đạo đức: đức hạnh công dân, cách cư xử đúng, hành vi đúng, như là những thành tử trong một cộng đồng. Reid đã việt cuốn “Confucius Lives Next Door” (Ông Khổng Tử bên hàng xóm). Mỗi khi nhà báo thắc mắc tại sao người Nhật lại hành động khác hẳn lối người Mỹ, ông hàng xóm của Reid ở Tokyo, ông Matsuda Tadao lại giải thích bằng một câu: “Ðức Khổng Tử nói rằng…” Trước năm 1945, ở Việt Nam các bậc cha mẹ, ông bà cũng thường dạy con cháu như vậy: “Ðức Khổng Tử nói rằng…” T R Reid giải thích tất cả những đức tính của người Nhật Bản, lễ độ, liêm khiết, trung trực, trọng công ích, danh dự, tín nghĩa, vân vân, là nhờ nền giáo dục Nho giáo.

    Người Trung Hoa và người Việt Nam đã tự cắt đứt với truyền thống đó, thay các quy tắc đạo lý của Khổng Mạnh bằng các khẩu hiệu chính trị nhập khẩu từ Liên Xô.

    Trong một bài về đời sống dân Nhật, Nguyễn Ðình Ðăng đã kể chuyện bà vợ và con ông đánh mất ví, rồi sau đó có người lượm được đã đem trả, hoặc gửi bưu điện trả tận nhà. Trong một cuộc hội nghị khoa học, một giáo sư người Ý đến dự, cũng mất thẻ thông hành (hộ chiếu) trong khi đi chơi Tokyo. Anh ta hết sức hốt hoảng, nhưng mọi người nói anh cứ yên tâm, gọi điện báo cho Ðại Sứ Quán rồi chờ. Quả nhiên ngày hôm sau, Ðại Sứ Quán Italia gọi điện thoại nói có người đã nhặt được hộ chiếu của anh và gửi đến cho. Nhà khoa học người Ý kêu lên: “Thật là không thể tin được!”

    Nguyễn Ðình Ðăng cũng giải thích tư cách đạo đức của người Nhật đạt được là nhờ nền giáo dục, giống như T R Reid. Nhưng ông còn nhận thấy một yếu tố quan trọng khác, nằm trong chế độ chính trị nước Nhật: Ðó là quyền tự do phát biểu. Reid là người Mỹ, đối với ông thì cuộc sống tự do dân chủ ở Nhật không có gì khác lạ với ở Mỹ, cho nên ông chỉ so sánh nền giáo dục hai nước. Nguyễn Ðình Ðăng từ Việt Nam sang Nhật nên nhìn thấy những điều T R Reid không quan tâm.

    Nước Nhật đã có một hiến pháp dân chủ do người Mỹ soạn cho, sau khi Nhật bại trận. Ông Ðăng viết: “Quyền tự do cá nhân được Hiến Pháp tôn trọng tuyệt đối,” và “ở Nhật không có bất kỳ tổ chức hoặc cá nhân nào có quyền bắt bạn cắt xén sáng tạo của bạn, hoặc ngăn cấm bạn triển lãm hoặc in ấn tác phẩm của mình vì những gì bạn viết hoặc vẽ ra trong tác phẩm…”Ông Ðăng còn thấy khi tới sống ở nước Nhật cả trẻ em cũng cảm thấy được sống tự do:

    “Một anh bạn Việt Nam mới sang Nhật cùng vợ và con trai học lớp Một. Tôi hỏi cháu: “Cháu thấy trường Nhật khác với trường Việt Nam thế nào?” Cháu trả lời: “Ở trường Nhật cháu cảm thấy được nói năng tự do thoải mái”.

    Ông Ðăng nhớ lại câu chuyện của chính con trai của ông, nói với cha là cháu đã biết nói dối lần đầu tiên khi còn học lớp Một ở Hà Nội. Sáng hôm đó cô giáo quát: “Ai quên mang lọ mực, hãy để tay lên bàn.” Các học sinh để tay lên bàn đều lãnh một vụt thước kẻ vào tay rất đau. Con tôi cũng quên mực, nhưng không muốn ăn vụt, nên cháu đã nói dối: “Thưa cô, sáng nay lúc em chuẩn bị lọ mực đi học, mẹ em đã đánh đổ mất!” Cháu được cô tha.” Ông kết luận: “Dạy dỗ dựa trên sự sợ hãi không cảm hóa được con người mà chỉ làm con người trở nên dối trá, thủ đoạn.”

    Nhưng Nguyễn Ðình Ðăng vẫn nhìn xa hơn câu chuyện trước mắt:

    “Không thể xây dựng một xã hội tự do, văn minh, hạnh phúc dựa trên sự sợ hãi của người dân. Có lẽ người Nhật hiểu rất rõ điều đó khi xây dựng xã hội của họ”.

    Tất cả mọi người Việt Nam đều muốn nước mình sẽ tiến bộ, có ngày theo kịp dân Nhật Bản. Qua những câu chuyện trên đây ai cũng có thể rút ra những kết luận phải làm gì. Phải có tự do dân chủ. Phải xây dựng nền giáo dục dựa trên đạo lý; không bắt các nhà giáo, các khoa học gia, nhà văn, nghệ sĩ làm nô lệ cho các cán bộ chính trị. Ðừng để đến đầu thế kỷ 22 lại có người Việt Nam đến nước Nhật và cảm thấy hổ thẹn như ông, cha đã từng hổ thẹn.

    Ngô Nhân Dụng