Việt Nam: một chính quyền kém năng lực

  • Bởi Admin
    15/03/2011
    7 phản hồi

    David Koh<br />
    Đan Thanh chuyển ngữ (Tqvn2004 hiệu đính)

    Hãy cân nhắc những số liệu sau đây, đơn vị tính bằng đôla Mỹ, lấy từ BBC. Nợ nước ngoài của chính phủ Việt Nam vào đầu tháng 3/2011 là 29 tỷ, chỉ vào khoảng 42% tổng sản phẩm quốc nội hằng năm. Quốc gia này đang trải qua thâm hụt kép, trong cả thương mại lẫn ngân sách Nhà nước. Tuy nhiên, rút từ các số liệu dưới đây, sẽ thấy chính phủ Việt Nam có thể bị phá sản (vỡ nợ).

    Dự trữ của chính phủ, tức tiết kiệm của họ, chiếm không đầy 50% trị giá khoản nợ. Nếu bắt buộc phải thanh toán toàn bộ 29 tỷ USD nợ này ngay ngày mai, chính phủ Việt Nam sẽ không có đủ tiền để trả. Nếu tất cả các chủ nợ đòi thanh toán cùng một lúc, ngân sách của chính phủ sẽ không xoay đâu ra tiền để trả. Điều này khó có khả năng xảy ra, nhưng phải hoàn toàn không thể, chẳng hạn khi đất nước rơi vào một cuộc khủng hoảng chính trị như ở Ai Cập vừa qua, hay một thảm họa tầm cỡ quốc gia như động đất tại Nhật Bản tuần vừa rồi, hoặc một cơn hoảng loạn đột ngột của các nhà đầu tư và người cho vay ngoại quốc.

    Tình hình ít có cơ tiến triển trong ngắn hạn. Thâm hụt ngân sách vẫn tiếp tục và chính phủ lại đang dự liệu thâm hụt 5% trong năm tài khóa này. Thâm hụt mậu dịch cũng không có dấu hiệu sớm dịu đi, số liệu tháng 2 cho thấy thâm hụt tới gần 1 tỷ USD. Chính phủ có kế hoạch giới hạn thâm hụt mậu dịch năm nay ở mức 18% kim ngạch xuất khẩu, tương đương 14,2 tỷ USD. Nhưng như thế vẫn là tăng nhẹ so với năm 2010.

    Do đó, trong bối cảnh thâm hụt kép vẫn tiếp tục, việc vay nợ thêm có lẽ sẽ là cần thiết, có tính đến yếu tố FDI và kiều hối từ Việt kiều gửi về. Tuy nhiên, kiều hối lại đi thẳng vào túi người dân chứ không vào ví của chính phủ. Dân chúng có tài sản trị giá vài tỷ đôla Mỹ, nằm dưới các dạng thức tiết kiệm khác nhau mà chủ yếu là đôla Mỹ và vàng. Lý do chủ yếu của việc này tất nhiên là sự thiếu tin tưởng vào đồng nội tệ Việt Nam, cũng như không tin vào khả năng chống lạm phát của chính phủ.

    Năm 2011, cần 4 tỷ USD để trả lãi suất tiền chính phủ nợ nước ngoài. Khoản này chiếm chừng 12% ngân sách Nhà nước. Càng ngày, những người cho chính phủ Việt Nam vay tiền càng phải tính đến thu nhập tương lai và khả năng chính phủ thu được thuế, coi đó như những yếu tố quan trọng quyết định có cho vay nữa không. Ở khía cạnh này, những người đi vay nào nắm quyền tối thượng (tức là Nhà nước – ND) thì đều có xu hướng có lợi thế hơn là những người đi vay là tư nhân; và người ta tự hỏi phải chăng đó là một rủi ro đạo đức trên thị trường tài chính quốc tế?

    Nếu dự trữ ngoại tệ của chính quyền Việt Nam rớt xuống dưới mức 4 tỷ USD cần có hằng năm để trả lãi suất đi vay, thì khi ấy điều gì xảy ra? Dự trữ ngoại tệ của Nhà nước đã và đang theo khuynh hướng đi xuống, kể từ khi khủng hoảng tài chính bắt đầu ở Việt Nam vào năm 2008, trước cả cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu.

    Phản ứng của khu vực sẽ thế nào nếu Việt Nam trở thành một Iceland hay Hy Lạp của Đông Nam Á?

    Giờ đây, đã có một động lực buộc phải hạn chế thâm hụt ngân sách, bằng cách cắt giảm chi tiêu của chính phủ. Việc cắt giảm đã được lên kế hoạch, tuy nhiên chỉ là giảm 0,5% so với năm 2010. Cần phải giảm nhiều hơn nữa, và chính phủ cùng các nhà lãnh đạo đảng phải tự làm gương, cũng như các cơ quan của họ phải đi đầu trong vấn đề này. Vài năm trước đây, người dân Việt Nam đã từng rất ấn tượng khi một nguyên thủ nước ngoài rời Hà Nội bằng hàng không giá rẻ. Đối nghịch với đó, trong các chuyến đi cấp nhà nước, các vị lãnh đạo của Việt Nam thường mang theo hàng đoàn nhân viên, sử dụng chuyên cơ của hàng không quốc gia. Đi lại ít “phong cách” hơn có thể là một biện pháp giúp cắt giảm ngân sách. Các ví dụ khác về sự lãng phí thì có đầy rẫy.

    Điều mà chính phủ cần phải làm là thiết chế hóa công tác điều hành vĩ mô và ngăn ngừa nạn lạm chi. Trên tổng thể, cần ấn định một mức thâm hụt mà không chính phủ nào được phép thay đổi hoặc chi tiêu vượt quá nếu không được 80% đại biểu Quốc hội chuẩn y, và Chủ tịch Nước cũng phải được phép nghiên cứu ngân sách nhà nước, phải có quyền yêu cầu chính phủ thực thi những thay đổi mang tính cưỡng chế, theo luật định. Chủ tịch Nước cũng phải được phép phủ quyết thâm hụt ngân sách nếu ông ta thấy rằng tỷ lệ 80% đại biểu Quốc hội phê chuẩn kia đã không phải vì lợi ích của quốc gia. Việc bắt buộc tiết kiệm chi tiêu ngân sách hàng năm của chính phủ nên trở thành một thông lệ.

    Cần thể chế hóa cả kiểm soát đối với những lĩnh vực cụ thể. Ví dụ, trong khi lĩnh vực quốc phòng, y tế và giáo dục không cần thiết phải bị ấn định quá chặt, thì ngân sách dành cho các bộ ngành khác và các doanh nghiệp nhà nước phải được kiểm soát chặt chẽ và đặt vào một lộ trình giảm dần trong vòng 5 năm tới, cho đến chừng nào tình hình tài chính đã được cải thiện đáng kể. Trừ phi các doanh nghiệp nhà nước có tầm quan trọng chiến lược đối với an ninh quốc gia, còn nếu chúng không thể tồn tại mà không có ngân sách nhà nước bơm vào, thì nên thu gọn hết chúng lại.

    Điều nghịch lý là, đây cũng là thời điểm các nước tài trợ cho Việt Nam nên xem xét giảm viện trợ, dù chỉ là dần dần, để buộc chính phủ nước này phải đưa ra những lựa chọn quyết liệt hơn đối với vấn đề ngân sách của họ, cũng như để đảm bảo Việt Nam chi tiêu có chừng mực. Với tình trạng tài chính hiện nay thì câu chuyện tăng trưởng của Việt Nam rất không bền vững và có thể còn đi giật lùi.

    David Koh là nghiên cứu viên cao cấp, Viện Nghiên cứu Đông Nam Á.

    Người dịch: Đan Thanh
    Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2011

    Chủ đề: Kinh tế

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    7 phản hồi

    Phản hồi: 

    Các nươc´ theo mô hình đa đảng và dân chủ thì thường là ngân hàng quôc´gia độc lập từ chính phủ .

    Ví dụ: Nươc´ Đưc´ thì chính phủ có nợ công, nhưng ngân hàng quôc´ gia thì dự trữ nhiêù và lãi nhiêù. Nợ chính phủ Đưc´ thì không có nghĩa là nươc´ Đưc´ vỡ nợ.

    Trong khi CHXHCNVN thì tât´ cả đêù do một đảng điêù hành và ngân hàng Nhà nươc´ không độc lập từ chính phủ .

    Tuy nhiên đừng lo CHXHCNVN vỡ nợ, vì các tập đoàn Nhà nươc´ và cơ quan chính phủ đã tăng giá hàng loạt. Ngoài ra, VN còn nhiêù tài nguyên để bán, tuy nhiên khai thác bưà bãi và gâp´ rút sẽ gia tăng ô nhiễm môi trường nặng nề .

    Phản hồi: 

    Nguyễn Quang A - Đôi lời với anh David Koh

    David Koh là một nhà nghiên cứu có tiếng của Viện Nghiên cứu Đông Nam Á (ISEAS) ở Singapore, có uy tín về những nghiên cứu của anh về Việt Nam. Anh có nhiều bạn người Việt và họ quý mến anh vì tính thân thiện của anh, vì những đánh giá sắc sảo của anh về tình hình chính trị và xã hội Việt Nam.

    Ngày 14.3.2011, anh có một bài đánh giá về Chính phủ Việt Nam. Tôi chia sẻ đánh giá chung của tiêu đề bài phân tích của anh, nhưng muốn trao đổi đôi lời về các lập luận liên quan đến tài chính-kinh tế của anh, mà có lẽ không phải là lĩnh vực nghiên cứu chính của anh.

    Anh dựa vào số liệu do BBC thu thập, thực ra là số liệu chính thức của Bộ Tài chính công bố, rằng “nợ nước ngoài của Chính phủ Việt Nam vào đầu tháng Ba năm 2011 là 29 tỉ USD”. Đấy là con số mà Bộ Tài chính công bố. Tuy nhiên, ngay sau đó anh nói con số này là “hơn 42% tổng sản phẩm quốc nội hàng năm” thì bạn đọc nghi ngay về tính chính xác của số liệu anh dùng.

    Anh nói Việt Nam thâm hụt kép, thâm hụt thương mại và thâm hụt ngân sách, giống như các học giả và báo chí Việt Nam đã nêu ra từ nhiều năm nay gay gắt hơn anh nhiều và Chính phủ Việt Nam cũng đưa ra nhiều biện pháp để chống loại thâm hụt kép này (chưa bàn đến kết quả ra sao).

    Để lý giải Việt Nam có thể vỡ nợ, anh lập luận như sau: “Dự trữ của chính phủ, tức các khoản tiết kiệm của nó, ít hơn 50% số nợ”. Đây là một nhận xét mơ hồ và lẫn lộn. Không rõ anh định nói về dự trữ ngoại tệ của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam hay về các khoản tiết kiệm của chính phủ? Có lẽ là dự trữ ngoại hối, nhưng đấy đâu phải là các khoản tiết kiệm của chính phủ. Ngân sách thâm hụt kinh niên thì lấy đâu ra tiết kiệm, để dành.

    Untitled1copyjpg-024159.jpeg

    Anh tiếp tục lập luận, “nếu phải trả toàn bộ 29 tỉ tiền nợ ngày mai, Chính phủ Việt Nam sẽ không có đủ tiền để trả hết”. Giả định này của anh không chỉ đúng với Việt Nam mà còn đúng với rất nhiều chính phủ như Mỹ, và nhiều nước phát triển khác. Những người am hiểu về nợ, về tài chính và kinh tế đoán ra ngay đây chắc không phải là lĩnh vực nghiên cứu của anh. Vấn đề là chữ “nếu” trong giả định của anh: “nếu phải trả toàn bộ 29 tỉ vào ngày mai”, “nếu tất cả các chủ nợ đòi tiền một lúc”.

    Nếu cái “nếu” của anh thành sự thật, thì tất cả các ngân hàng trên thế giới, không trừ ngân hàng nào, tất cả các chính phủ có tổng các khoản nợ vào thời điểm đó lớn hơn các khoản thu ngân sách cũng ở thời điểm ấy (ngày mai) đều bị vỡ nợ và con số đó có thể là cả trăm chính phủ. Anh cũng cho rằng “điều này có thể không xảy ra, nhưng tồn tại một khả năng như thế”. Đấy là cách lập luận không sai nhưng chẳng ăn nhập gì với hoạt động của thế giới thực!

    Theo Bản tin nợ số 6 của Bộ Tài chính (phát hành tháng 12-2010) nợ nước ngoài của Chính phủ Việt Nam từ 2006 đến tháng 6-2010 và cơ cấu (%) của các khoản nợ chính phủ này, phân theo lãi suất cố định và lãi suất thả nổi, tính từ số liệu của bản tin trên, như sau:

    Từ số liệu trên có thể thấy mức độ gia tăng của nợ nước ngoài của chính phủ tăng khá nhanh trong thời gian gần đây. Đó là chưa kể đến các khoản nợ trong nước.

    Nếu tính cả nợ do chính phủ bảo lãnh (từ khoảng 1 tỉ USD đến 3,9 tỉ USD năm 2009 và 30.6.2010, biểu 4.02 của bản tin trên) thì số nợ mà chính phủ có nghĩa vụ trả cao hơn và con số vào 30.6.2010 là 29 tỉ. Có lẽ đấy là con số mà anh Koh đã dẫn ra trong phân tích của mình.

    Cũng từ bản tin trên chúng ta thấy số nợ gốc, lãi và phí mà Chính phủ Việt Nam đã trả trong các kỳ ấy ở hàng thứ hai. Có thể thấy lãi, phí và gốc được trả dần dần (dự trù kế hoạch trả nợ trong bảng tin trên được tính cho đến 2025 (biểu 4.14 của bản tin trên, thí dụ cho 2011 là 725,07 triệu gốc và 376,5 triệu USD tiền lãi và phí).

    Đáng tiếc bản tin trên không cho chúng ta biết phân bố kỳ hạn của các khoản vay, nhưng đại bộ phận (trên 76%) các khoản vay có lãi suất dưới 3% chắc là các khoản vay có kỳ hạn dài, cỡ vài ba chục năm. Như thế chuyện phải trả tất cả ngày mai là không thể xảy ra. Người vay và người cho vay đều phải tuân thủ các điều kiện mà hai bên thoả thuận.

    Anh Koh viết, “năm 2011, cần 4 tỉ USD để trả tiền lãi chính phủ nợ nước ngoài”. Bạn đọc chẳng hiểu anh lấy đâu ra con số 4 tỉ USD. Nếu nợ 29 tỉ mà năm 2011 phải trả 4 tỉ tiền lãi thì lãi suất trung bình hẳn phải là gần 14%! Ngay cả tổng trả nợ gốc, lãi và phí của năm 2011 cũng chẳng đến con số đó. Có lẽ chính phủ cần cung cấp đầy đủ thông tin hơn để cho các học giả trong và ngoài nước đỡ bị lầm lẫn.

    Bất cứ bạn đọc nào nếu kiểm tra chéo một chút đều thấy ngay những con số được anh Koh dùng rất mâu thuẫn nhau và khiến cho bạn đọc cảm thấy phân tích của anh quá sơ sài. Giá mà anh Koh cứ tung hoành trong lĩnh vực phân tích xã hội-chính trị mà anh rất am hiểu và tham khảo các bạn bè am hiểu hơn về kinh tế, tài chính để củng cố cho các phân tích như vậy của anh thì hay biết mấy.

    Nợ chính phủ gia tăng, thâm hụt kép và nhiều bất cân đối vĩ mô khác đã được các học giả trong nước nêu lên từ nhiều năm nay. Chính phủ cũng đã ý thức và có chủ trương mạnh mẽ để chống lạm phát, bình ổn kinh tế vĩ mô. Vấn đề là phải kiên quyết thực hiện và giải quyết tận gốc rễ vấn đề. Công bố Bản tin nợ định kỳ là nỗ lực minh bạch đáng ghi nhận, song cần minh bạch hơn nữa, vì như thế chính phủ có thể tạo niềm tin hơn cho các đối tác và là tốt cho sự phát triển của đất nước.

    Nguyễn Quang A
    Theo Lao Động

    Phản hồi: 

    [quote=Admin]@Bác Nguyễn Ngọc Già: Theo RFA thì 2 tháng đầu năm vẫn mỗi tháng 1 tỷ usd thâm hụt thương mại.

    @Bác NiNi: Câu hỏi của bác rất thú vị, tôi không chuyên về kinh tế nhưng cũng xin lạm bàn theo hiểu biết của mình:

    Tác giả có nói khó có khả năng tất cả các chủ nợ cùng đồng thời đòi nợ với VN. Nhưng dù có muốn đi chăng nữa thì vẫn có những ràng buộc pháp lý khiến họ không làm được như vậy. Ví dụ thời hạn trả nợ trên hợp đồng cho vay hoặc trái phiếu chính phủ không cho phép chủ nợ đòi con nợ ngày mai mày phải trả tao tiền vì tao cần. Do đó khả năng vỡ nợ như vậy là nhỏ.

    Về con số nợ tính theo GDP bao nhiêu là lớn, bao nhiêu thì mới là nguy hiểm, cũng không có một chuẩn nhất định để đánh giá. Nhật Bản nợ tới 200% GDP, lại dính động đất và sóng thần như vậy, mà vẫn được coi là ổn định kinh tế. Ngược lại, Việt Nam vay nợ có 50% GDP, nhưng lại có người cho đó là mất ổn định. Lý do nằm ở khả năng chi trả. Bác NiNi là người làm ăn đứng đắn, dự án đầu tư khả thi và rủi ro thấp, thì tôi cho bác vay 1000usd cũng vẫn là an toàn. Nhưng nếu anh A nào đó là con nghiện cờ bạc, tiền trao đồng nào vứt vào sòng bài đồng ấy, thì cho vay 50usd cũng phải cân nhắc. Gần đây Dân Luận có cho đăng bài của bác Nguyễn Văn Tuấn và Vũ Thành Tự Anh phân tích nợ của VN, thấy nợ của khối doanh nghiệp nhà nước tăng lên rất nhanh, trong khi lượng sản phẩm tạo được tăng chậm, chứng tỏ sự lãng phí vốn ghê gớm của các doanh nghiệp này. Thay vì dùng khoản vay để đẻ ra thêm tiền - mà phải nhiều hơn lãi suất đi vay, thì những doanh nghiệp như Vinashin lại làm khoản vay thụt lùi đi vì cách ném tiền qua cửa sổ của họ. Với cung cách đó thì vỡ nợ là khó tránh khỏi.[/quote]

    Cho dù có khả năng chi trả với mức nợ công tới hơn 100% GDP, các chính phủ giỏi và nghiêm túc đều nỗ lực, cố gắng giảm số nợ này thông qua kiểm soát chi tiêu hợp lý, đánh thuế trên các sản phẩm không cần thiết như thuốc lá, rượu mạnh.

    Hơn nữa ngoài mức nợ, phải xét xem đó là "nợ nước ngoài", lãi xuất cao hay là "nợ nội địa" lãi xuất trung bình và thấp.

    Phản hồi: 

    @Bác Nguyễn Ngọc Già: Theo RFA thì 2 tháng đầu năm vẫn mỗi tháng 1 tỷ usd thâm hụt thương mại.

    @Bác NiNi: Câu hỏi của bác rất thú vị, tôi không chuyên về kinh tế nhưng cũng xin lạm bàn theo hiểu biết của mình:

    Tác giả có nói khó có khả năng tất cả các chủ nợ cùng đồng thời đòi nợ với VN. Nhưng dù có muốn đi chăng nữa thì vẫn có những ràng buộc pháp lý khiến họ không làm được như vậy. Ví dụ thời hạn trả nợ trên hợp đồng cho vay hoặc trái phiếu chính phủ không cho phép chủ nợ đòi con nợ ngày mai mày phải trả tao tiền vì tao cần. Do đó khả năng vỡ nợ như vậy là nhỏ.

    Về con số nợ tính theo GDP bao nhiêu là lớn, bao nhiêu thì mới là nguy hiểm, cũng không có một chuẩn nhất định để đánh giá. Nhật Bản nợ tới 200% GDP, lại dính động đất và sóng thần như vậy, mà vẫn được coi là ổn định kinh tế. Ngược lại, Việt Nam vay nợ có 50% GDP, nhưng lại có người cho đó là mất ổn định. Lý do nằm ở khả năng chi trả. Bác NiNi là người làm ăn đứng đắn, dự án đầu tư khả thi và rủi ro thấp, thì tôi cho bác vay 1000usd cũng vẫn là an toàn. Nhưng nếu anh A nào đó là con nghiện cờ bạc, tiền trao đồng nào vứt vào sòng bài đồng ấy, thì cho vay 50usd cũng phải cân nhắc. Gần đây Dân Luận có cho đăng bài của bác Nguyễn Văn Tuấn và Vũ Thành Tự Anh phân tích nợ của VN, thấy nợ của khối doanh nghiệp nhà nước tăng lên rất nhanh, trong khi lượng sản phẩm tạo được tăng chậm, chứng tỏ sự lãng phí vốn ghê gớm của các doanh nghiệp này. Thay vì dùng khoản vay để đẻ ra thêm tiền - mà phải nhiều hơn lãi suất đi vay, thì những doanh nghiệp như Vinashin lại làm khoản vay thụt lùi đi vì cách ném tiền qua cửa sổ của họ. Với cung cách đó thì vỡ nợ là khó tránh khỏi.

    Phản hồi: 

    [quote="Tên tác giả"]Nhập siêu hơn 1 tỷ đô la trong hai tháng[/quote]

    Vậy là đỡ lắm rồi đó! Hồi mới năm ngoái, mỗi tháng là 1 tỉ đô đấy!. 2009 cũng vậy, mỗi tháng là 1 tỉ đô.

    Phản hồi: 

    Tôi không giỏi về các nguyên tắc tài chánh lắm nên nêu câu hỏi ở đoạn này :

    Dự trữ của chính phủ, tức tiết kiệm của họ, chiếm không đầy 50% trị giá khoản nợ. Nếu bắt buộc phải thanh toán toàn bộ 29 tỷ USD nợ này ngay ngày mai, chính phủ Việt Nam sẽ không có đủ tiền để trả. Nếu tất cả các chủ nợ đòi thanh toán cùng một lúc, ngân sách của chính phủ sẽ không xoay đâu ra tiền để trả. Điều này khó có khả năng xảy ra, nhưng phải hoàn toàn không thể, chẳng hạn khi đất nước rơi vào một cuộc khủng hoảng chính trị như ở Ai Cập vừa qua, hay một thảm họa tầm cỡ quốc gia như động đất tại Nhật Bản tuần vừa rồi, hoặc một cơn hoảng loạn đột ngột của các nhà đầu tư và người cho vay ngoại quốc.

    Vậy thì những quốc gia đang nợ khủng khiếp như Mỹ, Canada cũng ở tình trạng này; nghĩa là giả sự phải trả tất cả các khoản nợ thì không một quốc gia nào như Mỹ và Canada có thể trả ; Thế thì họ có bị vỡ nợ không ?

    Phản hồi: 

    Nhập siêu hơn 1 tỷ đô la trong hai tháng

    Mức nhập siêu tại Việt Nam trong tháng hai được cho biết đã vượt một tỷ đô la.
    Theo tổng cục thống kê Việt Nam thì kim ngạch xuất khẩu trong tháng hai đạt 4 tỷ 850 triệu; trong khi đó nhập khẩu gần 5 tỷ 960 triệu.

    Gộp chung cả hai tháng đầu năm nay, mức nhập siêu của Việt Nam được thống kê gần hai tỷ đô la.

    Theo đài RFA