Huỳnh Thục Vy: Cách mạng - Bạo động hay bất bạo động?

  • Bởi Admin
    13/03/2011
    4 phản hồi

    Huỳnh Thục Vy

    Cách mạng hay cách mạng xã hội theo nghĩa rộng, được hiểu như là một sự thay đổi sâu rộng trong xã hội nhằm biến cái cơ cấu cũ đã lỗi thời thành một cơ cấu mới tiến bộ và phù hợp hơn, trong một thời gian tương đối ngắn. Đó chính là những biến đổi mang tính chất cơ bản và trọng yếu trong bản chất của thượng tầng xã hội chứ không phải là những cải cách nhỏ mang tính thứ yếu trong một vài lĩnh vực cụ thể nào đó, càng không phải là những đổi chác chính trị nhắm đến mục tiêu thay người lãnh đạo quốc gia của một nhóm người nhỏ (đảo chính).

    Theo nghĩa hẹp, cách mạng chính là một biến cố chính trị lớn, thường được gọi là cách mạng chính trị. Cuộc cách mạng chính trị này sẽ dẫn đến những thay đổi toàn diện từ trật tự xã hội, chế độ chính trị của quốc gia đến tầng lớp những người lãnh đạo. Những cuộc cách mạng chính trị thường bắt đầu bằng những cuộc đấu tranh của đa số quần chúng nhằm lật đổ chế độ chính trị hiện thời để tạo điều kiện xây dựng một chế độ chính trị mới tiến bộ hơn.

    1/ Tính chất bạo lực:

    Dường như khi nói đến cách mạng chúng ta luôn liên tưởng ngay đến bạo lực. Những ai từng ngồi trong nhà trường xã hội chủ nghĩa đều thấm nhuần quan điểm rằng: bạo lực cách mạng là điều kiện tiên quyết và không thể thiếu của việc giành chính quyền. Nhiều người phủ nhận Marx, cho rằng ông này cổ súy bạo lực. Nhưng Marx đã đúng trong nhận thức về lịch sử chính trị đối với những giai đoạn TRƯỚC KHI chúng ta tạo dựng được những Nhà nước Hiến pháp trị. Nhìn lại lịch sử, chúng ta không thể phủ nhận rằng hầu như bất cứ một cuộc thay đổi chế độ chính trị nào cũng đẫm máu. Ngay cả việc tạo dựng một định chế chính trị tiến bộ như sự hình thành Nghị viện Anh cùng với sự ra đời của bản Đại Hiến chương Tự do vào thế kỷ 13 ở Anh quốc cũng chỉ đạt thành qua cuộc đấu tranh mang đầy bạo lực giữa một bên là triều đình phong kiến Anh quốc (đại diện lúc đó là vua John, sau đó là vua Henry III) với một bên là các lãnh chúa phong kiến lãnh đạo quần chúng. Sau này, vào thế kỷ 17, để thành lập được một thế chế quân chủ lập hiến ở Anh với quyền lực nhà vua bị Nghị viện kiểm soát và kiềm chế cũng phải trải qua cuộc Nội chiến và cuộc “Cách mạng Vinh quang” (Glorious Revolution) đẫm máu. Cuộc cách mạng Pháp- một chuyển biến chính trị đặc biệt quan trọng trong lịch sử nước Pháp, với sự ra đời của Hiến pháp 1791, xóa bỏ chế độ phong kiến không còn phù hợp với nguyện vọng người dân và tình hình kinh tế xã hội Pháp lúc bấy giờ, đã diễn biến trong một quá trình thậm chí còn phức tạp và đẫm máu hơn nữa. Còn rất nhiều minh chứng khác, đến nỗi không chỉ có Marx, hầu như tất cả chúng ta khi nghĩa đến cách mạng đều nghĩ ngay đến những phong trào khởi nghĩa, những cuộc chém giết lớn giữa một phe đại diện cho quần chúng và nhà cầm quyền đương thời.

    Thật vậy, nhân loại đã phải trả những cái giá rất đắt, những tổn thương nhân mạng to lớn để đi từ những trang sử cổ đại đến thời hiện đại, để vượt qua thời kỳ của chế độ nộ lệ, rồi chế độ phong kiến mới có thể xây dựng được những Nhà nước dân chủ tiến bộ ( tuy sự tiến bộ này phải trải qua một thời gian nhất định để đạt được diện mạo như ngày hôm nay). Nhưng Marx đã mắc một sai lầm to lớn khi ông cho rằng nhân loại cần phải tiếp tục lật đổ, xóa bỏ những nhà nước dân chủ tư sản (theo cách gọi của ông) bằng những cuộc “cách mạng vô sản” với “bạo lực cách mạng”. Thực tế cho thấy vào cuối thế kỷ 19- đầu thế kỷ 20 chủ nghĩa cộng sản đã mê hoặc những quốc gia nghèo đói, trình độ dân trí thấp, nền công nghiệp hầu như không có, chủ nghĩa tư bản chưa có đủ điều kiện để phát triển, để mà “làm cách mạng”. Họ luôn hô hào xóa bỏ chủ nghĩa tư bản nhưng quả thực, nhiều nhất họ cũng chỉ xóa bỏ được chế độ phong kiến, cùng với sự hỗ trợ đắc lực của tình hình xã hội đương thời đang chất chứa những quả bom bất mãn chỉ chờ thời cơ là phát nổ. Chủ nghĩa cộng sản hoàn toàn không “làm cách mạng” được ở những xứ sở có truyền thống pháp trị và tự do. Chúng ta có thể thấy cách mạng chính trị, tức sự thay đổi chế độ chính trị không thể xảy ra ở những nơi người dân có thể dùng lá phiếu để thay đổi chính phủ. Trong các thể chế dân chủ tự do chỉ có khủng hoảng chính phủ chứ hoàn toàn không hề có khủng hoảng chế độ. Vậy nơi nào có sự chuyên quyền nơi đó có cách mạng, mức độ chuyên quyền càng cao thì khả năng xảy ra sự phản kháng bằng bạo lực càng lớn.

    2/ Một lý thuyết đấu tranh mới:

    Đầu thế kỷ 20, thế giới chứng kiến cuộc đấu tranh dành độc lập của nhân dân Ấn Độ từ tay Thực dân Anh với hình thức đấu tranh bất bạo động đầy ngoạn mục dưới sự lãnh đạo của Mahatma Gandhi. Từ đây, chúng ta có một phương thức đấu tranh giành chính quyền mới, làm thay đổi nhận thức đấu tranh của những nhà cách mạng thời hiện đại. Cách đây hai năm, tôi đã đọc “Từ độc tài đến Dân chủ” của Gene Sharp. Trong tác phẩm này, ông đã phân tích khá toàn diện và cụ thể việc tổ chức và tiến trình của một cuộc cách mạng bất bạo động. Như một bài đã viết cách đây khá lâu, là một Phật tử, tôi cho rằng đây là phương pháp đấu tranh đầy nhân bản và mang lại nhiều niềm hi vọng cho các dân tộc đang sống dưới các ách độc tài, tạo cơ hội cho quần chúng “tay không tất sắt” có thể đoàn kết sức mạnh chống lại những chính quyền độc tài vũ trang hùng mạnh.

    Gần đây, đối với những người đang cổ vũ cho phương pháp đấu tranh “bất hại” này, niềm tin và lý luận của họ lại một lẫn nữa được khẳng định khi có thêm những minh chứng hùng hồn cho việc thực hành một cuộc đấu tranh bất bạo động của quần chúng với sự sụp đổ của hai thể chế độc tài ở Tunisia và Ai Cập. Dù không phải là không có thương vong, nhưng người dân hai nước này đã thành công bằng các cuộc xuống đường không vũ trang để phản đối và cuối cùng là lật đổ được hai nhà độc tài Ben Ali và Mubarak. Nhưng quay sang Libya, tình hình có vẻ ngược lại và phức tạp hơn nhiều. Phong trào chống chính phủ đã trở thành cuộc nổi dậy vũ trang kéo dài cho đến hôm nay vẫn chưa ngả ngũ. Có ai trong chúng ta đã tự hỏi vì sao có sự khác nhau ấy ? Cùng là các quốc gia thuộc thế giới Ả Rập, nền công nghiệp dầu khí là trụ cột kinh tế quốc gia, sống dưới chế độ độc tài, đang rơi vào tình trạng khó khăn về kinh tế, thiếu thốn lương thực, công ăn việc làm của người dân không được bảo đảm…., nhưng cuộc phản kháng của người dân Libya chống chính quyền đã diễn ra theo một kịch bản khác hắn với Tunisia và Ai Cập. Phải chăng chính những người lãnh đạo và những người tham gia đấu tranh không thể tự quyết định được phương pháp và chiều hướng đấu tranh? Đây thực sự là một câu hỏi khó.

    3/ Những yếu tố chi phối tính chất cuộc đấu tranh:

    Trong trình độ tri thức hạn chế của mình, người viết cho rằng ở đây chắc hẳn phải có những yếu tố khách quan vô cùng quan trọng chi phối con đường đấu tranh của người dân chống lại độc tài, những điều mà những nhà đấu tranh không thể can thiệp bằng ý chí chủ quan (ý chí chủ quan thể hiện qua trình độ tổ chức đấu tranh và ý thức chính trị của những người tham gia đấu tranh).

    Trở lại với Libya, chúng ta thấy Gadhafi là nhà độc tài sắt máu và ngoan cố hơn hắn Ben Ali và Mubarak; trong một thời gian dài chế độ của Gadhafi là một chế độ khủng bố, còn bản thân Gadhafi bị Tổng thống Reagan gọi là “con chó dại…”. Đó chính là yếu tố đầu tiên tôi muốn nói đến- bản chất và mức độ độc đoán, tham quyền cố vị của nhà độc tài hay nói chung là chế độ độc tài sẽ chi phối nổ lực, thời gian và chiều hướng đấu tranh của chúng ta. Tiếp đến là sức mạnh nội tại của chế độ : chế độ độc tài càng mạnh, sự đoàn kết nội bộ của họ càng cao thì khả năng ra đi của họ khi có một cuộc phản đối bất bạo động của người dân càng thấp.

    Tiếp theo chúng ta xét đến mối liên kết của chế độ độc tài đó với các thế lực bên ngoài, cụ thể hơn là việc chế độ độc tài đó có quan hệ mật thiết về ngoại giao với ai, phụ thuộc chính trị vào cường quốc nào. Nếu “đàn anh” ngoại giao của họ là một nước có thể chế chính trị tiến bộ, có ý thức hệ phóng khoáng thì khả năng nhượng bộ tăng lên và khả năng đàn áp bằng vũ trang giảm xuống, so với việc “đàn anh” của họ là một nước có chế độ chính trị cực đoan và độc tài hà khắc. Chúng ta có thể thấy Mubarak là vị tổng thống độc tài nhưng được người Mỹ ủng hộ, vì thế sự ra đi của ông khỏi chiếc ghế quyền lực có vẻ êm thấm hơn so với trường hợp ông là “đàn em” của một chế độ tàn bạo như Trung cộng chẳng hạn.

    Điều tiếp theo cần được xem xét là mức độ phẫn uất của lòng dân; mức độ căm phẫn này lại được quyết định bởi mức độ bất công xã hội, hố ngăn cách giàu nghèo, tình trạng tội tệ của nền luật pháp, mức độ bóp nghẹt các quyền tự do, số lượng những hành động làm tổn hại quốc gia và dân tộc của chính quyền, mức độ tổn thương của lòng dân.... Sự phẫn uất do những yếu tố nói trên gây ra và nung nấu trong lòng dân càng lâu dài và càng lớn thì nguy cơ bạo động càng gia tăng. Bởi sự căm giận của lòng người như một quả bom, nó càng lớn thì mức độ công phá và thiệt hại càng lớn. Và cuối cùng điều phải kể đến là cục diện chính trị quốc tế. Nếu xu hướng tự do dân chủ trên thế giới ngày càng vững mạnh, các chế độ độc tài ngày càng yếu và ít đi, một số các cường quốc bất hảo rơi vào khủng hoảng thì các chế độ độc tài sẽ phải xem xét lại sự thiệt hơn giữa một bên là ra đi trong bình yên và một bên là tiếp tục ngoan cố để trở thành tội đồ của cả dân tộc.

    4/ Trở lại tình hình Việt Nam:

    Xét về tình hình Việt Nam, tôi thiển nghĩ Việt Nam giống Trung Quốc nhiều hơn so với các quốc gia Ả Rập kể trên. Vậy nên khi đánh giá tình hình tôi hi vọng những người đấu tranh dân chủ của chúng ta hãy so sánh tình hình nước ta với Trung Quốc để nhận ra những bất lợi và thuận lợi, chứ không phải là so sánh với những nơi cách mạng vừa thắng lợi ở Bắc Phi. Việt Nam và Trung Quốc tuy khác nhau về diện tích lãnh thổ và quy mô chính quyền nhưng lại có nhiều điểm tương đồng như: chế độ chính trị, ý thức hệ của giai tầng lãnh đạo, cách thức và mức độ siết chặt các quyền tự do, bản chất nền kinh tế, tình trạng bất công xã hội… Có thể nói Việt Nam là mô hình thu nhỏ của Trung Quốc. Thêm vào đó, ta nhận thấy ở đây một sự phụ thuộc về chính trị và sự tồn vong mang tính liên đới giữa Việt cộng và Trung cộng.

    Tất nhiên cuộc cách mạng hoa lài đã mang lại cho chúng ta niềm cảm hứng và hi vong to lớn về một thế giới không độc tài, về tiền đồ dân chủ tự do của Việt Nam, bởi chúng ta đã cảm nhận sâu sắc rằng sức mạnh của ý chí và sự đoàn kết chống độc tài của người dân Bắc Phi một lần nữa đã minh định khao khát tự do của nhân loại là không gì cản nổi.

    Theo một số nhà quan sát thời cuộc, thì chưa thể có một cuộc cách mạng như thế ở Việt Nam vì sự quan tâm chính trị của người dân chưa cao, và sự thiếu vắng một lực lượng đối lập mạnh, cùng với một trình độ tổ chức cần thiết. Điều đó đúng, thế nhưng đó là mới chỉ xét mặt chủ quan mà chưa để tâm đến tình hình khách quan, đó là sự tùy thuộc và ảnh hưởng lẫn nhau rất nhiều ở mọi quốc gia trong thời đại Toàn cầu hóa này. Khi nào Trung Quốc rúng động vì sự nổi dậy của người dân thì đó cũng là lúc cho chúng ta hy vọng một cuộc “đổi đời” trong tầm tay. Đây không phải là sự bắt chước, rập khuôn mà là sự suy xét mối tương quan tồn tại và tình hình thực tế khách quan giữa Việt Nam và Trung Quốc. Thiết nghĩ, sự phát hiện đúng thời cơ và hành động đúng thời điểm là một yếu tố cực kỳ quan trọng cho mỗi thắng lợi. Và việc một cuộc cách mạng (ở Việt Nam) sẽ xảy ra trong bạo động hay bất bạo động tùy thuộc rất nhiều vào những điều kiện khách quan ngoài ý chí của tất cả chúng ta.

    Trên đây chỉ là những ý kiến gợi mở và chắc chắn bài viết còn nhiều thiếu sót không thể tránh khỏi. Bài viết chỉ nhằm trình bày quan điểm và những ưu tư của cá nhân tôi. Chúng tôi - thế hệ 8x, vẫn còn quá trẻ để có một tầm nhìn mang tính chiến lược về con đường dân chủ hóa Việt Nam. Thế nên, chúng tôi trông cậy rất nhiều vào những bậc trưởng thượng - những người sẽ vạch ra con đường và dẫn dắt chúng tôi, để từ đó chúng tôi có cơ hội đóng góp sức mình cho đất nước và biết được mình sẽ phải làm những gì. Bởi nếu những người đi trước nhầm đường thì cả dân tộc sẽ khốn đốn và những người trẻ chúng tôi sẽ gặp thảm họa.

    Huỳnh Thục Vy
    Tam Kỳ ngày 13 tháng 3 năm 2011

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    4 phản hồi

    Phản hồi: 

    Bạn Thục Vy thâm mến.
    Lo lắng của bạn chứng tỏ bạn rất có trách nhiệm và có suy nghĩ.
    Mục đích của chúng ta là xây dựng một chế độ dân chủ thật sự cho VN, thay thế chế độ toàn trị chỉ là một phần trong quá trình đó. Khi hết độc tài sẽ phải làm gì để có dân chủ vĩnh viễn, đó cũng là điều cần quan tâm.
    Bạn có thể tham khảo Dự Án Chính Trị của Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên 'để có một tầm nhìn mang tính chiến lược về con đường dân chủ hóa Việt Nam'.
    Bạn rất đúng khi cho rằng nếu không biết mình cần gì? đâu là mục đích cuối cùng phải đến? thì hoàn toàn có thể đi sai đường, mà sai đường thì như bạn nói 'nếu những người đi trước nhầm đường thì cả dân tộc sẽ khốn đốn và những người trẻ chúng tôi sẽ gặp thảm họa'.
    VN đã nhầm đường gần 70 năm rồi, giờ không được phép (đúng ra là không còn cơ hội) để nhầm đường một lần nữa.

    Phản hồi: 

    Huỳnh Thục Vy là một trong số ít những người hàng ngày kêu gọi dân chủ có những suy nghĩ và kiến giải nghiêm túc. Tôi khá bất ngờ khi biết bạn thuộc thế hệ 8X. Tôi có một vài điều nói thêm như sau:
    - Bạn nói rằng: "Theo một số nhà quan sát thời cuộc, thì chưa thể có một cuộc cách mạng như thế ở Việt Nam vì sự quan tâm chính trị của người dân chưa cao, và sự thiếu vắng một lực lượng đối lập mạnh, cùng với một trình độ tổ chức cần thiết." Bạn đã công nhận là nó đúng. Tôi cũng cho là nó đúng. Và rất tiếc là câu trả lời liên quan đến Trung Quốc không giải quyết được các vấn đề căn bản của một cuộc cách mạng, trong đó có việc ai sẽ là người lãnh đạo và lật đổ rồi thì sao, ai lên cầm quyền. Dường như các thảo luận lâu nay cả trong lẫn ngoài nước đều chưa đề cập đến chuyện này. Nhìn "các nhà dân chủ" hiện nay, tôi cảm thấy không có ai đủ khả năng để tập hợp lấy 20 người thì nói gì đến chuyện làm cách mạng. Viết lách của họ còn lâu mới bằng Huỳnh Thục Vy.
    - Về Trung Quốc, bạn nói rằng "khi nào Trung Quốc rúng động vì sự nổi dậy của người dân thì đó cũng là lúc cho chúng ta hy vọng một cuộc “đổi đời” trong tầm tay." Tôi không cho là như vậy. Vai trò của TQ đối với VN hiện nay không thể so sánh được vai trò của Liên Xô với VN trong những năm 1980. Vậy mà khi Liên Xô sụp đổ, VN vẫn tồn tại. Trong khi không thể nói rằng đời sống của dân VN bây giờ tốt hơn những năm 1980 rất nhiều.
    Vài lời đường đột, xin được góp bàn.

    Phản hồi: 

    Huỳnh Thục Vy có suy nghĩ, phân tích rất đúng, lại khiêm tốn. Rất đáng được khen ngợi. Hy vọng Vy sẽ phát triển nhiều hơn nữa, kêu gọi, vận động những người xung quanh mình đi theo hướng này: Tranh đấu bất bạo động, không khiêu khích tạo ra hận thù, xung đột. Phân tích, giải thích, lý luận trong hòa nhã, tôn trọng nhau để Đắc Nhân Tâm, để đoàn kết đi đến mục tiêu cuối cùng: Tự do, dân chủ, độc lập cho VN.

    Trân trọng

    Nguyễn Jung

    Phản hồi: 

    Đấu tranh bất bạo động: Tại sao không?

    Không hoàn thiện là một đặc tính tự thân của thế giới tự nhiên. Nhưng đối với xã hội loài người, sự không hoàn hảo ngoài lý do tự nhiên, còn có thêm những lý do do chính con người gây ra, một cách vô tình hay cố ý. Hoàn thiện bản thân, hoàn thiện xã hội luôn là ước mơ, khao khát chính đáng của loài người từ hàng ngàn năm nay.

    Để ước mơ và khao khát chính đáng đó trở thành hiện thực, không có cách nào khác hơn là phải tích cực và chủ động đấu tranh với các nhân tố, thế lực đang gây ra hay giấu đi những yếu kém, khuyết tật, suy đồi của bản thân cũng như của xã hội. Vì vậy đấu tranh đã nghiễm nhiên là một đặc tính và là một bổn phận của mọi công dân trong các xã hội, kể các xã hội văn minh nhất. Tuyên ngôn Nhân quyền hay các Công ước Quốc tế về các quyền dân sự, chính trị, kinh tế, xã hội và văn hoá của Liên Hợp Quốc không chỉ là việc minh xác những quyền tối thiểu của con người trong một xã hội văn minh mà chính là sự cổ vũ, thúc đẩy cho mọi đấu tranh để các quyền đó đến được với tất cả mọi người. Đối với các xã hội mà nhà nước không phải do dân bầu lên, cuộc đấu tranh đó đương nhiên phải bức thiết và cam go hơn rất nhiều. Bởi quyền con người, dù có được thừa nhận tại những nơi đó, không chỉ thiếu hụt hay thực thi hời hợt mà nó còn bị các thế lực quyền thế kìm giữ cho riêng chúng một cách hung hãn.

    Dùng sức mạnh cơ bắp hay vũ khí để bảo vệ bản thân chống lại cái ác đến từ đồng loại hay thiên nhiên là dạng đấu tranh có tính chất sơ khai, bản năng nhất của con người. Do đó một xã hội muốn thoát khỏi sự man rợ phải là một xã hội biết thừa nhận và cổ vũ các phương pháp đấu tranh bất bạo động - chỉ dùng lý lẽ và các cách thức ôn hòa để tạo áp lực nhằm cải biến, sửa chữa các khuyết tật của cá nhân, tổ chức hay toàn xã hội. Một nhà nước muốn xã hội văn minh hơn thì phải biết cổ vũ, khuyến khích các phương pháp đấu tranh bất bạo động. Một nhà nước muốn người dân thực sự là Con Người thì không bao giờ ngăn cản hay đe dọa các sáng kiến đấu tranh bất bạo động.

    Các xô xát hay bạo lực có thể xảy ra trong các cuộc đấu tranh bất bạo động, trước tiên phải thuộc trách nhiệm nhà nước. Với một hệ thống pháp luật minh bạch và được thực thi đúng đắn, cùng với các phương tiện và nguồn lực khác, một nhà nước có thiện ý hoàn toàn có khả năng kiểm soát và ngăn chặn được mọi nguy cơ bạo lực có thể xảy ra trong các phương thức đấu tranh bất bạo động của dân chúng. Nếu một nhà nước thoái thác việc đảm bảo an ninh cho một cuộc tuần hành để phản đối sự nhũng lạm trắng trợn tiền thuế của dân hay một cuộc biểu tình ngồi trên quảng trường nhằm xiển dương lòng yêu nước trước sự ngang ngược của quốc gia láng giềng, nhà nước đó có còn đủ tư cách là một nhà nước của dân? Gánh thêm một nhiệm vụ có thể sẽ làm cho trách nhiệm của một nhà nước thêm phức tạp. Nhưng đổi lại, và chỉ có thế, nhà nước đó mới chứng tỏ được tính chất của dân, do dân và vì dân và, quan trọng hơn, nhà nước đó có thêm một sức mạnh để ngăn chặn hay loại bỏ các hư hỏng, khuyết tật lỳ lợm nhất của chính bản thân nó một cách hữu hiệu.

    Đấu tranh bất bạo động đã chứng tỏ không chỉ đem lại được độc lập cho nhiều quốc gia bị thực dân đô hộ hàng trăm năm mà nó còn là phương thức để chuyển hoá nhiều chính quyền độc đoán, ác nghiệt, thiếu tự chủ sang chính quyền đa nguyên, nhân ái và tự chủ.

    Đương nhiên vẫn có những cá nhân, thế lực, nhà nước không muốn dân chúng đấu tranh thực sự với các bất công, các khuyết tật của xã hội hay chế độ chính trị, dù là đấu tranh bất bạo động. Nhưng đối với người dân, không thể không tự tìm hiểu, nghiên cứu các phương pháp đấu tranh bất bạo động nếu không muốn bản thân và con cháu mãi vẫn ở trong cái vòng luẩn quẩn của áp bức, chiến tranh và lại áp bức.

    BS Phạm Hồng Sơn