Vũ Thành Tự Anh - Cảnh báo nợ của doanh nghiệp nhà nước

  • Bởi Admin
    12/03/2011
    1 phản hồi

    Vũ Thành Tự Anh

    Theo báo cáo của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, tính đến 31/12/2008, tổng dư nợ nội địa của các tập đoàn, tổng công ty nhà nước là 287.000 tỷ đồng. Nếu tính cả nợ nước ngoài thì đến cuối 2008, tổng nợ của khu vực doanh nghiệp nhà nước (DNNN) xấp xỉ 23,9% GDP.

    Trong năm 2009, theo báo cáo của Chính phủ gửi Quốc hội ngày 1/11/2010 thì nợ của 81/91 tập đoàn, tổng công ty nhà nước (chưa tính Vinashin) là 813.435 tỷ đồng, tương đương với 49% GDP.

    Nếu tính cả nợ của Vinashin, theo báo cáo của Bộ Tài chính là 86.000 tỷ, thì nợ của khu vực DNNN đến cuối năm 2009 (không kể chín tập đoàn, tổng công ty chưa có số liệu) đã lên tới 54,2% GDP năm 2009.

    Rõ ràng là nợ của cả DNNN và Chính phủ đều tăng rất nhanh trong một thời gian rất ngắn, trong đó mức tăng nợ của khu vực DNNN thật sự đáng lo ngại.

    Nếu nhìn vào con số tuyệt đối, sau khi trừ đi các khoản nợ nước ngoài và với những tính toán thận trọng nhất thì trong năm 2009, khu vực DNNN chiếm không dưới 60% trong tổng tín dụng nợ nội địa tăng thêm của toàn nền kinh tế. Đây là bằng chứng cho thấy các DNNN là đối tượng được hưởng lợi nhiều nhất từ chương trình hỗ trợ lãi suất và kích cầu của Chính phủ năm 2009.

    Việc nợ của DNNN và nợ của Chính phủ đang ở mức khá cao, đồng thời tăng rất nhanh đòi hỏi phải sớm có những biện pháp quản lý nợ công hiệu quả.

    85530_91.jpg

    Nội dung quan trọng nhất trong quản lý nợ công là quản lý rủi ro. Đầu tiên là rủi ro thị trường - chủ yếu liên quan đến sự thăng giáng thất thường của thị trường. Với viễn cảnh phục hồi đầy bất trắc, cộng thêm sự lan tỏa khủng hoảng nợ trên thế giới, thị trường có thể không mặn mà với trái phiếu chính phủ, đặc biệt là đối với những quốc gia có mức tín nhiệm tín dụng thấp và triển vọng tiêu cực. Phương pháp chủ yếu để hạn chế rủi ro thị trường là đảm bảo sự linh hoạt về thời điểm, cấu trúc, và các điều khoản của việc phát hành nợ.

    Thứ hai là rủi ro lãi suất. Rủi ro này chủ yếu xảy ra đối với các khoản nợ có lãi suất thả nổi hoặc không được phòng vệ. Vì tỷ lệ nợ chính phủ với lãi suất thả nổi của Việt Nam còn thấp nên rủi ro lãi suất không phải là điều lo ngại trước mắt. Tuy nhiên, vì Việt Nam đã trở thành một nước thu nhập trung bình nên tỷ trọng các khoản vay thương mại sẽ tăng. Vì lãi suất thương mại thường cao và biến động mạnh hơn lãi suất ưu đãi nên trước khi phát hành nợ, Chính phủ và các doanh nghiệp sẽ ngày càng phải cân nhắc nhiều hơn tới rủi ro lãi suất.

    Thứ ba là rủi ro về dòng tiền. Cho đến nay, nợ ngắn hạn chiếm chưa tới 15% trong tổng nợ chính phủ của Việt Nam. Tuy nhiên, việc tỷ lệ nợ ngắn hạn trên dự trữ ngoại tệ đang tăng lên sẽ đòi hỏi Bộ Tài chính phải hết sức thận trọng trong hoạt động quản lý nợ của mình.

    Thứ tư là rủi ro về tỷ giá. Hiện nay khoảng một phần ba nợ chính phủ của Việt Nam là bằng đồng yen, vì vậy nếu đồng yen vẫn tiếp tục xu thế lên giá như hiện nay thì gánh nặng nợ nần cũng gia tăng theo. Tương tự như vậy, với sức ép của Mỹ và EU, xu thế đồng nhân dân tệ tăng giá là khó tránh khỏi.

    Trong khi đó, tín dụng thương mại bằng nhân dân tệ, đặc biệt là trong các dự án cơ sở hạ tầng và công nghiệp nặng ở Việt Nam đang tăng lên một cách nhanh chóng. Chính phủ cũng như doanh nghiệp vì vậy cần rất thận trọng khi đi vay bằng nhân dân tệ.

    Cuối cùng, rủi ro lớn nhất có lẽ nằm ở hoạt động... quản lý rủi ro nợ công! Cho đến nay, từ Bộ Tài chính cho đến các DNNN đều chưa coi trọng đúng mức việc phân tích, đánh giá, và có biện pháp hiệu quả nhằm hạn chế rủi ro khi phát hành nợ.

    Cần lưu ý rằng vì nợ của DNNN và nợ của Chính phủ có tính chất và cấu trúc khác nhau nên cần có những biện pháp quản lý rủi ro thích hợp. Tuy nhiên, dù nợ ở cấp độ nào thì cũng phải tuân thủ một số nguyên lý cơ bản: không nên chấp nhận rủi ro khi không có biện pháp hữu hiệu để thấu hiểu và quản lý nó; không nên chấp nhận một mức độ rủi ro vượt quá một ngưỡng an toàn; và không nên chấp nhận rủi ro nếu không có một sự đền bù thỏa đáng.

    Khi bỏ qua những nguyên lý hết sức giản dị nhưng cơ bản này, một doanh nghiệp có thể rơi vào tình trạng khó khăn, thậm chí mất khả năng trả nợ, từ đó ảnh hưởng tiêu cực đến các doanh nghiệp khác cũng như toàn bộ nền kinh tế. Trường hợp Vinashin mới đây là một ví dụ điển hình. Tương tự như vậy, một nền kinh tế cần có chiến lược quản lý rủi ro nợ tốt để tránh đưa đất nước rơi vào gánh nặng nợ nần.

    ___________________________________

    (*) Chương trình Giảng dạy kinh tế Fulbright

    Chủ đề: Kinh tế

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    1 phản hồi

    Trọng, Dũng, Sang, Thanh, Anh, Rứa, Huynh, Hải ngày càng bị kẻ đồng chí khôn gian trói tay trói chân dần

    Những lời phản đối của bà Nga về HS và TS chỉ là một điều thủ tục phải có mà thôi mặc dù nó hoàn toàn vô hiệu quả. Bị lệ thuộc đến thế thì TQ chỉ có thể coi BCT đảng CSVN là một bọn hèn, tráo trở

    BCT đảng CSVN, nếu thật sự có bộ óc người, phải biết rút chân là khỏi tổ kiến lửa càng sớm càng tốt

    http://sgtt.vn/Thoi-su/141611/Gia-dien-mua-tu-Trung-Quoc-ngay-cang-dat-do.html

    Giá điện mua từ Trung Quốc ngày càng đắt đỏ

    SGTT.VN - Theo thông tin từ tổng công ty Điện lực miền Bắc, Trung Quốc lại đòi tăng giá bán điện cho Việt Nam với mức tăng ước từ 15% trở lên. Điều này sẽ làm khó khăn thêm cho tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) khi khoản phát sinh hơn 27.000 tỉ đồng năm 2010 đang bị treo lại.

    Kéo đường dây mua điện Trung Quốc qua xã Ỷ Ty, huyện Bát Xát, Lào Cai. Ảnh: Phạm Ngọc Bằng

    Giá điện Trung Quốc ngày càng đắt đỏ

    Công ty Điện lực miền Bắc cho hay, năm 2010, Việt Nam đang mua của Trung Quốc với giá 5,1 cent/kWh. Nhưng mới đây, phía đối tác Trung Quốc lại đòi tăng giá điện lên cao hơn. Mức đề nghị tăng lần này của Trung Quốc rất cao, vượt mức giá bán điện bình quân năm 2011 mà Chính phủ vừa phê duyệt, có thể lên tới 6 – 7 cent/kWh.

    Hiện, cả tổng công ty Điện lực miền Bắc và EVN đều không đồng ý với mức giá bán điện mới của Trung Quốc đưa ra và vẫn đang tiếp tục đàm phán. Tuy nhiên, trong lúc hợp đồng nhập khẩu điện năm 2011 chưa chốt ký, phía Trung Quốc đã yêu cầu mức giá điện mới bán cho Việt Nam sẽ phải được áp dụng từ 1.1.2011. Hai bên phải cam kết với nhau, khi thống nhất được giá thì phía Việt Nam sẽ phải trả bù phần chênh lệch giá mới so với giá hiện nay tính trên sản lượng điện đã cấp cho Việt Nam từ đầu năm.

    Đây không phải là lần đầu tiên Trung Quốc tăng giá bán điện cho Việt Nam. Năm 2008, giá điện mà Trung Quốc bán cho Việt Nam là 4,5 cent/kWh và đến năm 2010, mức giá mới đã tăng thêm 12%.

    “Nguồn cứng”

    Từ ba năm nay, nguồn điện nhập khẩu từ Trung Quốc ngày càng đóng vai trò quan trọng trong hệ thống cung ứng điện quốc gia của Việt Nam. Thiếu hụt nguồn điện nội địa triền miên là một trong những lý do thúc đẩy EVN mỗi năm phải cầu cứu vào việc chia sẻ sản lượng điện từ Trung Quốc. Hồi cuối năm 2010, Chính phủ cũng đã thông qua chủ trương nhập khẩu tối đa nguồn điện của nước này và coi đây là một trong những giải pháp dài hạn, căn cơ để đảm bảo nguồn cung điện quốc gia. Vì lẽ đó, sản lượng điện của Trung Quốc đã trở thành một nguồn cứng trong kế hoạch cấp điện mỗi năm.

    Cái giá của sự phụ thuộc

    Tuy nhiên, thực tế thời gian qua, Việt Nam cũng hứng chịu không ít những khó khăn khi phải phụ thuộc ít nhiều vào đối tác bán điện này. Đơn cử như tháng 3.2010, đúng lúc thuỷ điện miền Bắc sụt giảm trầm trọng thì công ty lưới điện Vân Nam, Trung Quốc lại tạm ngưng cấp điện đường dây 220kV Tân Kiều – Lào Cai và 110kV Hà Khẩu – Lào Cai. Lý do là... để thi công công trình. Chia sẻ với báo chí dịp này, ông Đặng Hoàng An, phó tổng giám đốc EVN khi đó, giải bày rằng việc đàm phán mua thêm điện của Trung Quốc rất khó khăn khi chính nước bạn cũng kêu thiếu điện do hạn hán.
    Năm 2011, EVN mua của Trung Quốc khoảng 4,671 tỉ kWh

    Việt Nam bắt đầu mua điện của Trung Quốc từ tháng 7.2005, nhưng chỉ để cung cấp cho hai tỉnh miền núi là Hà Giang và Yên Bái, với sản lượng khi đó chỉ 180 – 200 triệu kWh. Năm 2007, EVN mua 2,67 tỉ kWh và phân phối cho tám tỉnh phía Bắc. Năm 2008, lượng điện nhập khẩu từ Trung Quốc là 3,5 tỉ kWh. Năm 2011, dự kiến EVN sẽ mua của Trung Quốc khoảng 4,671 tỉ kWh (chiếm tỷ trọng khoảng 4% tổng sản lượng điện cấp cho Việt Nam). Chỉ riêng hai tháng đầu năm 2011, EVN đã mua của Trung Quốc 956 triệu kWh, tăng 28,89% so với cùng kỳ năm 2010. Theo kế hoạch từ tháng 3 tới tháng 6, mỗi tháng Việt Nam sẽ nhận khoảng 420 – 434 triệu kWh của Trung Quốc.

    Năm nay, Trung Quốc không đưa ra lý do thiếu điện, song việc ký hợp đồng mua điện lại vất vả vì lý do tăng giá. Nếu mức giá mới còn cao hơn cả giá bình quân bán điện trong nước thì năm 2011, EVN sẽ còn lỗ nặng hơn trong kinh doanh điện. Chưa hết, việc tăng mua điện Trung Quốc còn gặp trở ngại vì đặc thù hạ tầng kỹ thuật lưới điện hai quốc gia. Tổng công ty Điện lực miền Bắc cho biết, hai đường dây 110kV và 220kV tải điện từ Trung Quốc hiện đang độc lập với hệ thống điện quốc gia, chỉ phục vụ cung ứng điện trực tiếp cho 12 tỉnh phía Bắc. Nguồn điện Trung Quốc không hoà được vào nguồn điện Việt Nam. Ngay cả nguồn 110kV và 220kV của Trung Quốc cũng không hoà được với nhau. Do vậy, việc cấp hỗ trợ giữa các nguồn để đáp ứng nhu cầu phụ tải gặp nhiều khó khăn. Khi dư điện của Trung Quốc, sản lượng này cũng không thể san sẻ sang cho tỉnh khác.

    Nhu cầu mua điện của Trung Quốc tăng cao, khu vực cấp điện rộng hơn so với thiết kế ban đầu nên các đường dây trên đều đã bị quá tải. Các đơn vị nhận điện ở cuối đường dây 110kV có chất lượng điện áp không ổn định, giờ cao điểm điện áp thấp, có lúc điện áp đường dây này chỉ còn 82kV, giờ thấp điểm, điện áp lại rất cao, về đêm Sơn La thường lên trên 125kV.

    Các tỉnh phía Bắc này còn phải phụ thuộc một sản lượng điện đáng kể từ nguồn thuỷ điện nhỏ, đa số không có hồ chứa, công suất phát rất thấp, dưới 30MW. Vì thế, mùa khô, khi thiếu nguồn thuỷ điện, việc tăng mua từ nguồn Trung Quốc để bù đắp lại cũng lại gặp phải khó khăn do năng lực truyền tải. Trong khi đó, việc mua điện của Trung Quốc phải thực hiện theo hợp đồng thương mại rất chặt chẽ. Chỉ cần sử dụng tăng hay giảm sản lượng điện so với mức đăng ký trong hợp đồng, phía Việt Nam ngay lập tức sẽ bị phía Trung Quốc phạt. Điển hình như năm 2010, do thiếu điện và nhu cầu mua vượt sản lượng, ngoài chi phí phải trả trong hợp đồng, tổng công ty Điện lực miền Bắc đã bị đối tác Trung Quốc phạt trên 887.000 USD.

    Những khó khăn nêu trên đặt ra cho EVN bài toán về hiệu quả của chiến lược nhập khẩu điện dài hạn từ nước láng giềng!

    Theo đánh giá của các chuyên gia trong ngành điện, Trung Quốc bán điện cho Việt Nam có lợi hơn nhiều so với việc bán cho nội địa. Nếu tải nguồn điện này từ biên giới các tỉnh phía tây Trung Quốc vào nội địa phía đông Trung Quốc, chi phí truyền tải sẽ còn đắt hơn nếu bán điện cho Việt Nam. Thực tế trên là một câu chuyện đáng lưu ý!