Đối Thoại - Phải nâng cao chất lượng truyền thông độc lập

  • Bởi Admin
    22/02/2011
    2 phản hồi

    Đối Thoại

    ”Quí hồ tinh bất quí hồ đa.”
    (Phải coi trọng chất lượng hơn là số lượng) – Hán học danh ngôn

    Có thể nói cho đến nay trong lĩnh vực truyền thông của Việt Nam đã hình thành được một hệ thống truyền thông độc lập (không dùng ngân sách nhà nước và quan trọng là không chịu sự quản lý, kiểm soát của nhà nước độc tài). Hệ thống truyền thông độc lập đó tuy còn rất nhỏ và đơn giản so với hệ thống truyền thông khổng lồ của nhà nước độc tài, và luôn bị rào chắn, bị phá hoại, nhưng đã có những ảnh hưởng đáng kể đối với dư luận xã hội trong nhiều vấn đề chính trị, kinh tế, xã hội của đất nước trong thời gian vừa qua. Kết quả đó lại một lần nữa cho thấy vai trò tối quan trọng của truyền thông độc lập đối với sự tiến bộ xã hội và nhấn mạnh thêm rằng việc phải phát triển thêm về số lượng cho hệ thống truyền thông độc lập là một trong những nhiệm vụ cơ bản của các cá nhân, tổ chức đấu tranh dân chủ, nhân quyền trong thời gian tới. Tuy nhiên, đồng thời với việc phát triển về số lượng, chúng ta cũng phải hết sức lưu tâm tới việc nâng cao chất lượng cho hệ thống truyền thông độc lập.

    Nếu căn cứ vào đặc tính cơ bản (dối lừa, ngu dân) của hệ thống truyền thông của nhà nước Việt Nam hiện nay thì chất lượng của hệ thống truyền thông độc lập phải hướng tới những tiêu chí sau: Trung thực (tin cậy), Hữu ích (cho sự tiến bộ của cá nhân, cộng đồng), Thuyết phục (sắc bén), Thời sự Lịch thiệp.

    Khách quan mà nói thì sự thành công bước đầu trong việc thu hút độc giả, thính giả đến với các cơ quan truyền thông độc lập vừa qua cũng có phần là do hệ thống truyền thông của nhà nước đã quá giả dối và bưng bít những thông tin có tính hệ trọng đối với đất nước. Nhưng nếu sau thành công ban đầu đó hệ thống truyền thông độc lập không tạo lập vững chắc được những giá trị hơn hẳn so với hệ thống truyền thông của nhà nước thì độc, thính giả sẽ dễ trở lại với thói quen cũ (tìm đến các nguồn tin của nhà nước với cách ít khó khăn và ít tốn kém hơn nhiều). Và một điều cũng không kém quan trọng là truyền thông của nhà nước cũng sẽ không chịu “bất động”, chúng sẽ có những điều chỉnh để lôi kéo độc giả, thính giả trở lại, thay đổi các cách thức lừa bịp, đầu độc dân chúng bằng những thủ đoạn tinh vi hơn, giả dụ như cũng đưa tin, hô hào ủng hộ các cuộc đấu tranh chống chính phủ ở các nước độc tài nhưng lại gài vào những luận điệu chống phương Tây hay duy trì chủ nghĩa dân tộc cực đoan (rất có lợi cho kẻ cầm quyền độc tài).

    Cuộc đấu tranh dân chủ, nhân quyền hiện nay của Việt Nam ở một góc độ hẹp cũng chính là cuộc đấu tranh, cạnh tranh giữa hệ thống truyền thông độc lập còn non trẻ, còn hết sức thiếu thốn của nhân dân với hệ thống truyền thông già đời với nguồn lực thừa thãi của những kẻ cầm quyền độc tài. Chính nghĩa đang thuộc về hệ thống truyền thông độc lập. Nhưng để giành chiến thắng, hệ thống truyền thông độc lập phải tiếp tục nâng cao chất lượng, sao lãng chất lượng sẽ là tự sát.

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    2 phản hồi

    Cái điều khẳng định rõ nhất là"báo mạng"càng nhiều người tham gia thì sự suy sụp của các"báo lề phải"là khó tránh khỏi!!nguồn thông tin và hữu ích bị ém nhẹm,xuyên tạc gần như rõ mồn một là"Vụ án Bao cao su"chẳng có bài báo nào phân tích,bình luận trung thực về con người TS.Hà Vũ!!Thế thì Ai biết được đâu là Đúng là Sai?HP&PL Đúng chỗ nào,Sai chỗ nào?Chẳng khác gì dân mù thông tin trong khi có hơn 700 tờ báo???đó là điều Trái khuấy 100%,chưa nói HP&PL đang bị bôi nhọ trắng trợn!!bởi Đảng CSVN lãnh đạo??Hãy nghiêm túc xem lại cho dân nhờ,dân biết và dân hiểu.Quốc Hội đâu rồi,có còn là Do Dân,Vì Dân không??Saigon,24/02/2011-9h30'.

    Chính họ đang đi vào ngõ cụt

    QĐND – Những ngày qua, trong khi nhân dân cả nước và bè bạn quốc tế vui mừng chào đón thành công của Đại hội lần thứ XI ĐCSVN thì các thế lực thù địch trong và ngoài nước tiếp tục tung lên mạng nhiều “chiêu” tuyên truyền thâm độc. Kẻ thì đóng vai nhà khoa học tâm huyết đóng góp ý kiến cho Cương lĩnh, kẻ thì đóng vai nhà báo “tổng hợp” ý kiến của “các tầng lớp nhân dân”. Có kẻ còn mạo danh là cán bộ lão thành viết thư gửi tới Bộ Chính trị ĐCSVN, như vụ mạo danh đồng chí Đồng Sỹ Nguyên và gần đây là vụ mạo danh Đại tướng Võ Nguyên Giáp là một vài ví dụ.

    Có kẻ còn đóng vai đảng viên lâu năm “bộc bạch” tâm sự, tự rủa mình là thằng “hèn”, rằng: “Nói thật, ngày xưa tôi vào Đảng cũng chỉ với động cơ là được lên chức cao hơn… bây giờ tôi đã hối hận vì đã vào Đảng, nhưng không dám xin ra vì sợ trả thù…”. Đặc biệt là họ lợi dụng ngay thành quả của đổi mới làm thủ đoạn chống lại sự lãnh đạo của Đảng ta. Họ nói: “Trước đây Đảng đã đề ra đường lối đổi mới nhưng bây giờ Đảng đã không còn đổi mới nữa, Đảng đang đi vào ngõ cụt”…

    Về mặt chính trị, theo họ, đường lối của ĐCSVN dựa trên chủ nghĩa Marx-Lenin là thứ “lý luận đã lỗi thời”, chế độ xã hội vẫn là “là độc tài, đảng trị”. Về nhân sự, “vẫn những gương mặt đó”…

    Theo họ, muốn tránh sụp đổ thì Việt Nam phải bỏ Điều 4 Hiến pháp 1992, thực hiện dân chủ - đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập. Đồng thời, Nhà nước phải ban hành các đạo luật nhằm kiểm soát vai trò lãnh đạo của Đảng, cho phép các tổ chức phi chính phủ (NGO’s) tự do hoạt động.

    Trên một phương diện khác, như công tác đường lối đối ngoại, các thế lực thù địch lợi dụng tinh thần yêu nước của nhân dân ta, nhất là thanh niên, họ kêu gọi Việt Nam “hãy đồng hành quân sự với Hoa Kỳ”, “đây là mệnh lệnh của thời đại” (Cù Huy Hà Vũ). Thủ đoạn này nhằm đẩy Việt Nam vào thế đối đầu với những nước khác. Phải chăng những quan điểm trên là những đóng góp “tâm huyết” để xây dựng đất nước, đẩy mạnh công cuộc đổi mới?

    Những ai từng quan tâm đến quá trình cải tổ ở Liên Xô, Đông Âu đều có thể rút ra kết luận rằng: Những sai lầm về đường lối chính trị, kinh tế kéo dài nhiều thập kỷ, trong đó có việc phủ nhận kinh tế hàng hóa, cơ chế thị trường… đã đưa đất nước đến tình trạng trì trệ, khủng hoảng. Nhưng nguyên nhân trực tiếp dẫn đến sụp đổ là do đường lối chính trị của cải tổ sai lầm.
    Bước ngoặt dẫn đến sụp đổ là chủ trương cải tổ hệ thống chính trị, thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, tạo kẽ hở cho các phần tử phản bội và chống đối từ bên trong trỗi dậy. Như mọi người đều biết, cùng một mô hình của CNXH nhưng nhiều nước XHCN khác đã thực hiện đường lối đổi mới có nguyên tắc, không áp dụng đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập đã trụ vững và phát triển mạnh mẽ, trong đó có Việt Nam. Nói như thế không có nghĩa Việt Nam không đổi mới chính trị. Trái lại, trên đất nước này đã diễn ra những đổi mới quan trọng: Đó là việc xác định mục tiêu xây dựng CNXH là “dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”; Đó là “xây dựng Nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do ĐCSVN lãnh đạo”. Đó là “tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, chủ trương “xóa bỏ mặc cảm, định kiến, phân biệt về quá khứ, thành phần giai cấp, xây dựng tinh thần cởi mở, tin cậy lận nhau” (Nghị quyết TW 7 khóa 9)… Vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể xã hội cũng được nâng cao. Các tổ chức này không chỉ có chức năng đoàn kết và bảo vệ lợi ích của các thành viên mà còn có chức năng “giám sát và phản biện xã hội”(Văn kiện Đại hội X, XI).

    Trong quan hệ quốc tế, Việt Nam cũng đã trở thành thành viên của nhiều tổ chức khu vực và quốc tế như ASEAN, WTO… Cho đến nay, Việt Nam đã có quan hệ với hầu hết các thành viên của Liên Hợp Quốc, trong đó có đầy đủ các thành viên thường trực của HĐBA. Việt Nam cũng đã có quan hệ đối tác chiến lược với nhiều nước lớn như: Trung Quốc, Ấn Độ, Nga, Nhật Bản, Pháp…

    Trên lĩnh vực kinh tế – xã hội, các thế lực thù địch một mặt xuyên tạc quan điểm của Đảng, mặt khác thổi phồng những khó khăn, khiếm khuyết trong cơ chế chính sách của Nhà nước, tình trạng quan liêu tham nhũng mà Việt Nam đang cố gắng khắc phục để tác động vào dư luận xã hội. Họ nói rằng “mô hình tập đoàn kinh tế nhà nước Việt Nam đã sụp đổ”, “Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo là đường lối sai lầm”, “ Lý thuyết kinh tế thị trường lấy kinh tế quốc doanh làm chủ đạo thật sự đã đẩy Việt Nam đi vào ngõ cụt”… Thiết tưởng, những ai đã đọc các văn kiện Đại hội X, XI của Đảng một cách nghiêm túc thì ắt thấy rằng khái niệm “Kinh tế Quốc doanh” hoặc “Doanh nghiệp Nhà nước” với khái niệm “Kinh tế Nhà nước” không phải là một. Kinh tế nhà nước không chỉ có các doanh nghiệp, tập đoàn kinh tế mà còn có các chủ thể sở hữu với các nguồn lực khác như ngân hàng, các hình thức dự trữ quốc gia và tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là đất đai, rừng, biển… Vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước với nội dung như trên không chỉ có ở Việt Nam mà còn tồn tại ở tất cả các quốc gia khác. Sự khác biệt trong chính sách giữa các quốc gia là ở cơ cấu và việc sử dụng vai trò của kinh tế nhà nước như thế nào, theo những mục tiêu gì mà thôi. Chẳng hạn, chính phủ Hoa Kỳ đã phải dùng Cục Dự trữ Liên bang (FED) tung ra gói cứu trợ hàng trăm tỷ USD để cứu các ngân hàng đang đứng bên bờ phá sản trong cuộc khủng hoảng năm 2008-2009 là một ví dụ. Ở Việt Nam, trong cuộc khủng hoảng này Nhà nước cũng đã phải đưa ra hàng ngàn tỷ đồng với những phương thức khác nhau để trợ giúp cho các doanh nghiệp và người lao động thất nghiệp. Hiện nay, nhiều công trình giao thông quốc gia đã áp dụng cơ chế “đổi đất lấy hạ tầng” với các doanh nghiệp, hoặc Nhà nước điều tiết giá cả thông qua các tập đoàn của mình như: điện, than, dầu khí để ổn định cuộc sống của người dân trong lúc khó khăn… là những minh chứng về vai trò của kinh tế nhà nước trong việc sử dụng các nguồn lực quốc gia trong xây dựng đất nước, bảo đảm đời sống của nhân dân. Không phủ nhận rằng, thời gian qua, cơ chế quản lý các tập đoàn, doanh nghiệp nhà nước còn nhiều bất cập, sơ hở và đã bị lợi dụng làm tổn hại đến lợi ích chung. Vụ Vinashin là một ví dụ. Bài học đắt giá này đang được tổng kết và đưa ra các giải pháp khắc phục.

    Cho dù đứng trên quan điểm nào, người ta cũng không thể phủ nhận được những thành tựu kinh tế - xã hội của Việt Nam trong thời kỳ đổi mới. Hãy lấy một thí dụ: Từ một quốc gia thường xuyên thiếu lương thực nay Việt Nam đã trở thành một trong những quốc gia hàng đầu xuất khẩu gạo. Năm 2010 trong tình trạng thiên tai mất mùa, Việt Nam đã xuất khẩu tới 6,8 triệu tấn gạo. Việt Nam cũng đã trở thành một “đại gia” xuất khẩu cà phê (chỉ đứng sau Braxin). Đó là chưa kể đến những mặt hàng chiếm thị phần hàng đầu ở nhiều nước phát triển như: Hoa Kỳ, Nhật Bản và cả Liên minh Châu Âu, về thủy sản… Theo Báo cáo Quốc gia 10 năm thực hiện Mục tiêu thiên niên kỷ (MDG) của Liên Hiệp Quốc (từ năm 2000 đến 2015), Việt Nam đã về đích sớm nhiều mục tiêu như: Xóa bỏ tình trạng nghèo cùng cực (vào năm 2002); phổ cập giáo dục tiểu học (vào năm 2000); Việt Nam đã thành công trong việc kiểm soát nhiều dịch bệnh hiểm nghèo trong đó có HIV/AIDS. Chỉ số bình đẳng giới của Việt Nam hiện nay xếp thứ 62 trong số 109 quốc gia, chỉ số này cao hơn nhiều quốc gia có thu nhập bình quân đầu người cao hơn Việt Nam. Tuy nhiên, không thể phủ nhận rằng, Việt Nam đang đứng trước nhiều vấn đề kinh tế, xã hội lớn, thậm chí là bức xúc, như tình trạng phân hóa giàu nghèo, thiếu việc làm, ô nhiễm môi trường, quan liêu, tham nhũng, mô hình tăng trưởng dựa trên khai thác tài nguyên thiên nhiên, lao động rẻ đã cạn dần như văn kiện Đại hội XI đã ghi nhận…

    Đại hội XI kế thừa và phát triển một đường lối chính trị, kinh tế đã tạo ra những bước phát triển vượt bậc cho đất nước về nhiều mặt, hội nhập sâu rộng, có chỗ đứng vững chắc với vị thế ngày càng cao trong cộng đồng quốc tế như vậy thì sao có thể gọi đó là “con đường dẫn đến ngõ cụt” được?

    Lấy ý muốn chủ quan thay cho thực tế, lấy dã tâm thay cho thiện chí, những kẻ bịa ra câu chuyện hoang đường rằng “Việt Nam đang đi vào ngõ cụt, sẽ sụp đổ”… mới chính là người đang đi vào ngõ cụt – ngõ cụt của trí tuệ, của lương tri bởi họ đang đi ngược lại con đường của dân tộc, đang quay lưng lại với những nỗ lực và quyết tâm vượt qua thách thức của nhân dân Việt Nam.

    Lệ Chi

    Theo Quân Đội Nhân Dân