Thiên Nguyên - Mạn bàn về câu hỏi " Vong bản từ đâu" của ông Hà Sĩ Phu

  • Bởi Khách
    20/02/2011
    4 phản hồi

    Thiên Nguyên

    Hôm nọ đọc bài "Vong bản từ đâu" của ông Hà Sĩ Phu, tôi tuy thuộc thế hệ trẻ, song cũng rất đồng cảm với những ý kiến mà ông nêu ra. Sau đó vài hôm, lại được đọc bài "Ai rửa xe thuê" của ông Đinh Từ Thức, bỗng nhiên cảm thấy sốt sắng muốn đóng góp một vài góc nhìn theo quan điểm cá nhân về vấn đề trên.

    Theo tôi, dọc suốt chiều dài lịch sử nước ta, nhất là khoảng một ngàn năm trở lại đây, nhân tài vào thời đại nào cũng có. Từ Lý Thường Kiệt, Lê Văn Thịnh, Trần Quốc Tuấn, Trần Thủ Độ, Chu Văn An, Nguyễn Hiền, Ngô Sĩ Liên, Nguyễn Trãi, Lương Thế Vinh, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nguyễn Công Trứ, Nguyễn Văn Siêu, Cao Bá Quát, Nguyễn Du... Họ là những cá nhân kiệt xuất đã được lịch sử công nhận một cách nghiêm cẩn. Đặc biệt, đúng như ông Hà Sĩ Phu nhận xét, trong khoảng sau thời kỳ Pháp thuộc, đội ngũ những tinh hoa tri thức được nở rộ phát triển mạnh mẽ hơn bao giờ hết. Thật khó hiểu, ở một giai đoạn nửa thực dân nửa phong kiến, nhân dân còn đang điêu đứng trong nghèo đói và thuốc phiện, mà cái sự học không những không bị vùi lấp mà còn trở nên mạnh mẽ hơn, sục sôi hơn. Có thể giải thích điều này như thế nào?

    Như chúng ta đã biết, cho tới khoảng giữa thế kỷ XIX, về căn bản nước ta vẫn là một nước phong kiến lạc hậu quanh đi quẩn lại với những tam cương, ngũ thường, tam tòng, tứ đức; tóm lại là những khuôn vàng thước ngọc của nho giáo đã thành chuẩn mực từ hàng ngàn năm trước. Đặc biệt với chính sách bế quan tỏa cảng của nhà Nguyễn đã dẫn tới nước ta bị chậm tiến so với thế giới bên ngoài quá nhiều, đặc biệt là với phương Tây thì khoảng cách đó càng lớn. Lớn đến nỗi sứ thần triều Nguyễn là Phan Thanh Giản, Phạm Phú Thứ sau khi đi Pháp về đã kể những “chuyện lạ nước ngoài” như:

    “Đèn thắp không dầu, ngọn lửa chúc xuống (đèn điện), giếng nước vọt lên cao (nước phun trong công viên) v.v..” Vua kinh dị giao cho đình thần bàn. Các quan bàn xong tâu:

    - “Quy luật tự nhiên là nước chảy xuống, lửa bốc lên cao, trái lại là nghịch thường, không đúng sự thật. Bọn Phan Thanh Giản bị họ bầy trò quỷ thuật làm cho quáng mắt”. (theo Trung Bắc Chủ Nhật, 17.0.1943). Đến khi Pháp đưa tàu chiến đến đánh phá cảng Đà Nẵng, dân ta còn hoảng sợ khi gặp những vũ khí tối tân chưa từng thấy bao giờ, và cho rằng kẻ địch là bậc quỷ thần(!) Khi người Pháp thiết lập nền đô hộ lên nước ta, một mặt họ vơ vét tài nguyên khoáng sản, áp đặt nền cai trị thực dân. Nhưng mặt khác, [dù vô tình hay hữu ý] họ cũng mở toang cánh cửa văn hóa cho nền văn minh phương Tây ùa vào. Một cuộc đột phá vĩ đại về văn hóa. Các bậc chí sĩ nước ta từ đó đã bắt đầu hiểu rằng, đâu là cái đích mà loài người thực sự muốn hướng đến. Hơn nữa, nếu muốn dành lại độc lập tự chủ, cần phải có được sự văn minh của phương Tây. Vậy là một phong trào Tây học được hình thành khá rõ rệt, đặc biệt, dưới sự giúp đỡ của nền giáo dục Pháp, một nền giáo dục cực kỳ tiên tiến.

    Cái thứ hai cần chú ý, cùng với sự tiếp cận văn minh phương Tây, chúng ta vẫn còn giữ lại được những truyền thống vốn có của dân tộc, trong đó có tinh thần hiếu học, coi trọng sự uyên bác hơn vinh hoa quyền quý. Nhà nước phong kiến thời xưa vốn đã đề cao những người học rộng hiểu nhiều, các vị đỗ đạt khoa bảng. Những người có lắm tiền nhưng không có học thì bị cho là phường trọc phú, không được coi trọng. Chu Văn An, Nguyễn Trãi, hay Nguyễn Bỉnh Khiêm, khi công danh viên mãn đều đã lui về ở ẩn, chọn lối sống an bần lạc đạo. Có một điều thú vị là xã hội thời đó lại không có ác cảm với cái nghèo, ngược lại, coi nghèo là phẩm chất cần có của một kẻ sĩ. Như Nguyễn Bỉnh Khiêm trong bài thơ "Nhàn":

    "Một mai, một cuốc, một cần câu,
    Thơ thẩn dầu ai vui thú nào

    .....
    Rượu, đến cội cây, ta sẽ uống,
    Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao"

    Rồi Nguyễn Công Trứ trong bài bài phú "Hàn nho phong vị phú", có câu:

    "...Đêm năm canh an giấc ngáy khò khò,
    đời thái bình cửa thường bỏ ngỏ..."

    Hay như Nguyễn Khuyến trong "Chốn quê":

    "Sớm trưa dưa muối cho qua bữa
    Chợ búa trầu chè chẳng dám mua"

    Trong loạt truyện dân gian về Trạng Quỳnh, ta cũng thi thoảng bắt gặp hình ảnh của một trọc phú, thường đóng vai nhân vật phản diện, bị chê cười vì tuy giàu có nhưng dốt đặc.

    Cái truyền thống hiếu học đáng quý ấy vẫn còn tồn tại âm ỉ cho đến tận giai đoạn cuối của thời kỳ Pháp thuộc. Trong các truyện ngắn của nhà văn Nam Cao ta vẫn gặp những nhân vật trí thức như "anh giáo" được mọi người tin cậy và tôn trọng.

    Một khi xã hội vẫn đề cao tri thức, vẫn giữ gìn được truyền thống hiếu học của dân tộc, thì những giá trị tốt đẹp không thể bị mất đi hoặc thay thế bởi những giá trị rẻ tiền nào khác.

    Song cho đến lúc cách mạng vô sản du nhập vào nước ta, người ta đã phá bỏ hết mọi giá trị cũ và thay bằng một tư tưởng mới tưởng như là đỉnh cao văn minh nhân loại. Song hệ tư tưởng đó đã dần bộc lộ những điểm yếu chết người và dần dần sụp đổ trong niềm tin của cả những con người bảo thủ nhất, thì bây giờ tất cả chúng ta như đang bơ vơ trong một thế giới rộng lớn mà không biết đâu là giá trị đích thực. Cộng với sự hội nhập ồ ạt của các nền văn minh, chúng ta như những người chết đuối về tư tưởng mỗi người cố bám lấy một cái cọc gần mình nhất. Nhưng hỡi ôi, những cái cọc ngoại lai, rác rến ấy đâu có một chút gì là hồn dân tộc?

    Truyền thống hiếu học đã bị chà đạp, tri thức bị rẻ rúng. Bây giờ người ta tôn vinh những giá trị mới, đó là DANHLỢI. Một khi người ta coi đồng tiền là cứu cánh, thì người ta có thể bỏ qua những điều tối thiểu nhất về đạo đức. Người ta coi danh vọng là cứu cánh, và thế là người ta dùng mọi cách để trang hoàng cho cái bề ngoài một cách lố lăng nhất để che đậy đi cái rỗng tuếch bên trong, dẫn đến hệ lụy là một xã hội nhố nhăng bát nháo rởm đời như chúng ta thấy ngày hôm nay.

    Muốn biết tương lai đất nước ra sao, gồm những con người thế nào, thực ra, rất đơn giản: Hãy xem giới trẻ hiện nay đang hâm mộ những ai. Họ hâm mộ những ai, đương nhiên họ sẽ muốn trở thành (giống) người đó.

    Vậy ai là những người mà giới trẻ hiện nay muốn hướng đến? Giáo sư nào? Tiến sỹ nào? Nhà văn hóa nào? Học giả nào? Không đâu. Đó là doanh nhân Cường Đô la, cầu thủ Phạm Như Thành, ca sỹ Hồ Ngọc Hà, diễn viên Tăng Thanh Hà, Hoa hậu Mai Phương Thúy, người mẫu Trần Bình Minh... Đấy, tương lai nước Việt đại loại gồm những người như vậy.

    Tóm lại, theo tôi, với câu hỏi: "Chúng ta vong bản vì đâu?", tôi có câu trả lời rằng: Do sự sụp đổ của truyền thống hiếu học, và sự tôn sùng các giá trị mới là lợi danh thay cho các giá trị cũ là tri thức.

    Hy vọng tôi đã phần nào làm rõ thêm vấn đề mà tất cả chúng ta đang cùng nhau đi tìm hướng ra.

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    4 phản hồi

    Nhân tiện, không phải tự nhiên mà kẻ sĩ Việt Nam và Trung Hoa tôn vinh cái nghèo như một phẩm chất cao quí của giai cấp mình. Trích bài "Ưu đạo bất ưu bần?" trong sách Tổ Quốc Ăn Năn của Nguyễn Gia Kiểng:

    "...Văn hóa Khổng Giáo trở thành độc hại không phải vì nó sai ngay từ đầu mà vì nó đã không biết đổi mới. Nó đã khai thác triệt để hai tính xấu của Khổng Tử là tinh thần thủ cựu, bài bác điều mới lạ, và tinh thần bất dung (thí dụ như việc giết thiếu chính Mão chỉ vì ông Mão có tài biện luận và không đồng ý với Khổng Tử). Không những thế nó còn bóp méo tư tưởng của chính Khổng Tử.
    Một thí dụ của sự xuyên tạc đó là tinh thần an bần lạc đạo, nghĩa là cam phận nghèo mà vui với đạo đức. Tinh thần này theo các nho sĩ lấy từ một câu trong Luận Ngữ. người quân tử chỉ lo giữ đạo lý chứ không lo nghèo (quân tử ưu đạo bất ưu bần). Nhưng Khổng Tử nào đâu có ý định nói như thế. Ông nói nguyên văn như thế này: Người quân tử mưu tìm học đạo chứ không mưu tìm miếng ăn. Làm ruộng có khi mất mùa cũng đói, còn học đạo thì có lộc. Người quân tử chỉ cần lo học cho giỏi chứ đừng sợ nghèo (Quân tử mưu đạo bất mưu thực. Canh dã, nỗi tại kỳ trung hĩ. Học dã, lộc tại kỳ trung hĩ. Quân Tử ưu đạo bất ưu bần). Đó chỉ là một lời khuyên thực dụng mà thôi, có nghĩa là cứ lo học đi rồi sẽ được làm quan và sẽ có ăn. Nên nhớ rằng mục đích của việc học đạo chỉ là để được làm quan. ý Khổng Tử qua câu nói này hoàn toàn không phải là sự chấp nhận nghèo khổ miễn là sống hợp đạo đức. (Cần hiểu chữ đạo của Khổng Tử đồng nghĩa với nghề, nghĩa là học thi, thư, lễ, nhạc cho thạo để ra làm quan chứ không phải là đạo đức như ta hiểu). Chính Khổng Tử cũng rất ham phú quí, ông từng nói phú quí mà cầu được thì dù phải làm kẻ cầm roi đánh xe ngựa ta cũng nhận (phú quí nhi khả cầu dã, tuy chấp tiên chi sĩ, ngô diệc vi chi). Khổng Tử lương thiện nhưng không phải vì thế mà ông đề cao sự nghèo khổ. Ông đã đi khắp nơi cầu được làm quan, có lúc sẵn sàng làm gia nhân cho những kẻ giàu có phản trắc. Nhân sinh quan của ông rất thực dụng: cầu ích lợi cho mình và sống lương thiện. Đó là một nhân sinh quan rất khiêm tốn về mặt đạo đức.
    Từ đời nhà Hán, luân lý của Khổng Giáo bị bóp méo đi để biến thành một thứ luân lý nông nghiệp lạc hậu. Lưu Bang, tức Hán Cao Tổ, sau khi diệt được Tần và Sở, thống nhất thiên hạ, nhận định rằng mối nguy cho dòng họ mình là những kẻ giàu có và gan dạ. Ông bèn xóa bỏ thương nghiệp và chỉ giữ lại nông nghiệp. Việc phân chia xã hội ra bốn giai cấp sĩ, nông, công, thương bắt đầu từ đó. Nếu chỉ xét về mục đích duy trì quyền hành thì nhà Hán hoàn toàn có lý. Nghe nông chân lấm lấy bùn, được mùa thì no, mất mùa thì đói, không thể nào giàu lớn được, gia tài chỉ là ruộng đất, có bao nhiêu triều đình thấy rõ hết. Vả lại, người nông dân ở yên một chỗ, kiến thức hạn hẹp mà đởm lược cũng không có bao nhiêu. Trái lại, người buôn bán giao du nhiều, hiểu biết rộng rãi, lại quen đương đầu với rủi ro thành ra gan dạ (có gan làm giàu). Nghề buôn bán lại dẽ phát đạt, có thể đưa tới những tài sản rất lớn, kín đáo và dễ di chuyển. Những thương nhân giàu có này lại không làm quan ăn lộc vua và do đó không mang ơn vua như lớp nho sĩ, họ có thể là những đe dọa lớn cho các vua chúa. Chính vì thế mà nhà Hán dẹp bỏ thương nghiệp, và khi thương nghiệp đã bị xóa bỏ, sự trao đổi hàng hóa không còn nữa thì công nghiệp chỉ còn là một nghề phụ của nghề nông, làm ra những nhu yếu phẩm cho xóm làng mà thôi. Dưới đời nhà Hán, thương nhân không những bị trù dập thô bạo mà còn bị miệt thị như những kẻ xấu xa, đáng khinh bỉ.
    Các triều đại về sau có lúc nới lỏng cho thương nghiệp đôi chút nhưng rời lại xiết lại ngay. Triều đại nào cũng coi thương nghiệp là mối nguy và đều ra sức trù dập và miệt thị. Cuối cùng với thời gian một giá trị mới đã được thêm vào Khổng Giáo, đó là tâm lý khinh bỉ nghe buôn bán. Phải công bình mà nói, tâm lý này hoàn toàn không có trong đầu óc Khổng Tử. Cả Khổng Tử lẫn các môn đệ của ông đầu không bao giờ bài xích thương nghiệp, cũng như Marx không bao giờ tưởng tượng có việc kiểm duyệt báo chí hay những chiến dịch tẩy não, những trại tù cải tạo tư tưởng của các chế độ cộng sản sau này..."

    Tôi thấy đoạn này rất không ổn:

    "Cái thứ hai cần chú ý, cùng với sự tiếp cận văn minh phương Tây, chúng ta vẫn còn giữ lại được những truyền thống vốn có của dân tộc, trong đó có tinh thần hiếu học, coi trọng sự uyên bác hơn vinh hoa quyền quý. Nhà nước phong kiến thời xưa vốn đã đề cao những người học rộng hiểu nhiều, các vị đỗ đạt khoa bảng. Những người có lắm tiền nhưng không có học thì bị cho là phường trọc phú, không được coi trọng. Chu Văn An, Nguyễn Trãi, hay Nguyễn Bỉnh Khiêm, khi công danh viên mãn đều đã lui về ở ẩn, chọn lối sống an bần lạc đạo. Có một điều thú vị là xã hội thời đó lại không có ác cảm với cái nghèo, ngược lại, coi nghèo là phẩm chất cần có của một kẻ sĩ. Như Nguyễn Bỉnh Khiêm trong bài thơ "Nhàn":

    Một mai, một cuốc, một cần câu,
    Thơ thẩn dầu ai vui thú nào
    .....
    Rượu, đến cội cây, ta sẽ uống,
    Nhìn xem phú quý tựa chiêm bao

    Rồi Nguyễn Công Trứ trong bài bài phú "Hàn nho phong vị phú", có câu:

    ...Đêm năm canh an giấc ngáy khò khò,
    đời thái bình cửa thường bỏ ngỏ...

    Hay như Nguyễn Khuyến trong "Chốn quê":

    Sớm trưa dưa muối cho qua bữa
    Chợ búa trầu chè chẳng dám mua

    Trong loạt truyện dân gian về Trạng Quỳnh, ta cũng thi thoảng bắt gặp hình ảnh của một trọc phú, thường đóng vai nhân vật phản diện, bị chê cười vì tuy giàu có nhưng dốt đặc.

    Cái truyền thống hiếu học đáng quý ấy vẫn còn tồn tại âm ỉ cho đến tận giai đoạn cuối của thời kỳ Pháp thuộc. Trong các truyện ngắn của nhà văn Nam Cao ta vẫn gặp những nhân vật trí thức như "anh giáo" được mọi người tin cậy và tôn trọng."

    Thứ nhất, nếu không phải để đem lại sự giàu có cho bản thân, người thân và đất nước, thì học để làm cái gì? Và sự nghèo đói có ý nghĩa đẹp đẽ gì, mà được tôn vinh như một phẩm chất của nhà nho?
    Tâm lí này có "đáng quí" không? Có lành mạnh không? Hay nó có triệu chứng bệnh hoạn?

    Thứ hai, một xã hội "không có ác cảm với cái nghèo", thậm chí còn tôn vinh cái nghèo như "một phẩm chất của chí sĩ" chắc chắn không phải một xã hội thịnh vượng. Nó không giàu lên được, vì người dân không có động lực vươn lên. Khi mà sự giàu có bị phỉ nhổ và sự nghèo đói được tôn vinh, thì ai muốn làm giàu?

    Chính tuyên bố "Làm giàu là vinh quang!" của Đặng Tiểu Bình, chứ không phải lời kêu gọi treo cổ người giàu trong cải cách ruộng đất của Mao, đã phát động chặng đua tăng trưởng của Trung Quốc. Tuy sự tăng trưởng đó tồi dở trên nhiều khía cạnh, nó vẫn là một minh chứng hoàn toàn thuyết phục để khẳng định rằng muốn kinh tế phát triển, xã hội phải có một tâm lí thuận lợi cho kinh doanh. Phải đưa lợi nhuận lên hàng một giá trị.

    Đừng sợ tâm lí ham thích làm giàu. Nó không phải thủ phạm khiến xã hội rơi vào tình trạng vô đạo. Trái lại, nó là một điều kiện cần thiết để xã hội tiến tới phồn vinh. Nước Mỹ, siêu cường số một thế giới hiện nay, cũng là quốc gia mà hoạt động kinh doanh làm giàu được tôn vinh nhiều nhất.

    Vậy thủ phạm của sự suy sụp đạo đức trong xã hội là cái gì?

    Không phải Hồ Ngọc Hà hay Trần Bình Minh. Mà là cơ chế phi dân chủ.

    Những điều đang diễn ra có thể được giải thích một cách giản dị. Khi đất nước mở cửa, giới trẻ được tiếp cận với thương mại quốc tế và thông tin tự do. Nhờ thế, họ có thể du nhập và hấp thụ những tư tưởng tiến bộ của nhân loại, để thay thế đống tro tàn của tư tưởng Nho giáo cổ hủ, cũng như "thế hệ vàng" đã say mê thực hiện trong 3 thập niên đầu thế kỉ 20. Cách mạng văn hóa Việt Nam, sau đợt trì hoãn từ 1945, đã được tiếp tục và gia tăng cường độ.

    Trong những giá trị tiến bộ mới du nhập, có "lợi nhuận" bên cạnh "tự do". Tâm lí "trọng đạo khinh bần" của đám sĩ phu Nho học bị thế hệ chúng tôi dứt khoát giã từ, cũng như chúng tôi đang dần giã từ tâm lí nô lệ. Chuyển biến này phải được nhìn nhận như một may mắn của quốc gia. Nhưng may mắn đã không trọn vẹn, vì Việt Nam vẫn là một nước phi dân chủ.

    Không có dân chủ thì không có pháp trị. Không có pháp trị, thì người ta có thể tìm kiếm lợi nhuận bằng mọi biện pháp vô đạo đức. Mà "lợi nhuận" lại là thứ quá hấp dẫn để có thể khước từ trong nền kinh tế thị trường. Kết quả là người ta vứt bỏ đạo đức.

    Như thế, việc cần làm không phải là chặn cuộc cách mạng văn hóa lại. Trì hoãn tiến trình này là làm hại quốc gia. Việc cần làm là dân chủ hóa đất nước cho nhanh. Phải du nhập "tự do" nhanh như chúng ta đã du nhập "lợi nhuận".

    Thiên Nguyên viết:
    (...)
    Tóm lại, theo tôi, với câu hỏi: "Chúng ta vong bản vì đâu?", tôi có câu trả lời rằng: Do sự sụp đổ của truyền thống hiếu học, và sự tôn sùng các giá trị mới là lợi danh thay cho các giá trị cũ là tri thức.

    Đó không phải là câu trả lời. Câu trả lời đến từ chính quyền cộng sản. Do quá trình mị dân:
    - hệ thống giáo dục cũ kỹ và bệ rạc.
    + nhồi nhét những thứ vô dụng ngay từ bậc tiểu học.
    + hệ thống độc tài sản sinh ra hệ lụy dễ nhìn thấy nhất trong giáo dục, mà ai cũng biết. Điển hình là nhà giáo Đỗ Việt Khoa hầu như một mình một ngựa trong cuộc chiến chung.
    + do độc tài: một khi độc tài, không ai bị kiểm soát. Khi không có phản biện, hệ thống sẽ đi theo lối mòn, thường là xuống dốc.

    Tôi gặp một số bạn trẻ từ quê nhà, thường thì họ mặc định lý luận không phải của họ và không có sức thuyết phục, quan trọng là họ ít chấp nhận phản biện, chỉ nhìn theo một hướng.