Dân Chủ – Đó là quyền của tất cả các quốc gia

  • Bởi Nguyễn Trang Nhung
    20/02/2011
    5 phản hồi

    Joshua Muravchik

    Có phải Dân Chủ là cho mọi người? Đối với người Mỹ thì câu trả lời rất là hiển nhiên. Nền Dân Chủ của Hoa Kỳ dựa trên những tiền đề rằng: "Tất cả mọi người sinh ra đều bình đẳng, (và) được đấng tạo dựng nên họ ban cho những quyền bất khả chuyển nhượng," và rằng "Chính quyền có được quyền lực chính đáng là nhờ vào sự ưng thuận của những người dưới quyền cai trị." Những điều này, nêu ra trong bản Tuyên Ngôn Độc Lập của Hoa Kỳ, là những "chân lý" đã được xem là "hiển nhiên." Đương nhiên, từ trước đến nay chưa bao giờ có những điều như vậy. Không một chính quyền nào trước đây đã đặt nền tảng trên những điều này. Những điều này, tuy thế, là những điều tuyên xưng niềm tin hay những nguyên lý đầu tiên, và dù không thể chứng minh được, đã bày tỏ những quan điểm căn bản về công lý của các bậc lập quốc Hoa Kỳ. Dẫn giải từ lý thuyết này, tác giả Joshua Muravchik, một học giả của Học Viện Doanh Thương Hoa Kỳ, và là tác giả của cuốn sách: "Xuất Cảng Nền Dân Chủ: Hoàn Thành Vận Mệnh Hoa Kỳ," đã nhìn vào khái niệm của "nền dân chủ phổ quát" và định nghĩa sự giới hạn và những thách thức của khái niệm này.

    * * *

    Không có điều gì trong bản Tuyên Ngôn Độc Lập nói rằng các nguyên lý này chỉ áp dụng cho người Mỹ. Ngược lại, các tác giả đã nhắm mô tả những nguyên lý về một chính phủ công bình có thể áp dụng cho "mọi người." Tính chất phổ quát này đã được xác nhận bởi sự thành công với việc chính thể Hoa Kỳ thu hút hằng triệu những người di dân thuộc mọi giống dân khác biệt hoàn toàn với những người lập quốc, và những người nô lệ đã được thả tự do. Trong khi quốc gia tăng trưởng với nhiều ngôn ngữ khác nhau, nền dân chủ của Mỹ đã không yếu đi, mà đều đặn tăng trưởng một cách vững chắc hơn. Những người Mỹ đã tin tưởng vào nền dân chủ của mình và vào các lý do mà các bậc tiền bối lập quốc đã nêu lên, cũng cần phải tin tưởng chắc chắn rằng người dân ở các quốc gia khác cũng được trời ban cho những quyền tương tự, và chính quyền khắp mọi nơi phải được thiết lập trên sự ưng thuận của người dân.

    Những thách thức của Thuyết Dân Chủ Phổ Quát

    Nhưng với nét đặc trưng rất Hoa Kỳ này, lòng tin chắc vào ý tưởng dân chủ phổ quát đã không được xem như là điều "hiển nhiên" đối với mọi người. Thí dụ, các đại biểu của các Chính Quyền Á Châu tụ họp ở Vọng Các năm 1993 trong buổi họp vùng để chuẩn bị cho hội nghị thế giới của Liên Hiệp Quốc về Nhân Quyền đã tuyên bố rằng: "Tất cả mọi quốc gia... có quyền định đoạt hệ thống chính trị cho họ," với ngụ ý bao gồm cả những hệ thống vô dân chủ. Và họ nhấn mạnh rằng Nhân Quyền, "phải được xem xét trong bối cảnh của... quốc gia và những điều cá biệt của vùng và các quá trình khác nhau về lịch sử, văn hóa, và tôn giáo của mỗi nước." Mặc dù câu nói trên đã được bày tỏ một cách khoa trương, như thường dùng trong các lời tuyên bố ngoại giao, điểm được nêu lên thật là rõ ràng: Dân Chủ có thể không tốt cho tất cả mọi người. Lời tuyên ngôn ở Vọng Các đã ngấm ngầm ủng hộ ý kiến của đường lối chính trị "theo kiểu Á Đông" đặt để tập thể trước cá nhân, và theo đuổi chính sách phát triển kinh tế bằng các phương tiện của nền thống trị độc quyền. Các ý tưởng tương tự, đã được đề ra cho những người ở các vùng khác, thí dụ như, những người vùng Trung Đông ưa thích các hệ thống chính trị dựa trên các lời giáo huấn của đạo Hồi Giáo, hay những người Châu Mỹ La Tinh thì lại thấy hệ thống chính trị theo kiểu hợp tác bình dân thích hợp hơn là một nền dân chủ cách "máy móc".

    Một đường hướng tranh luận thứ hai thách thức thuyết dân chủ phổ quát từ một phương hướng khác. Nhiều nhà học giả Hoa Kỳ đã đặt câu hỏi là không biết những người thuộc các nước nghèo hay các nước không thuộc Tây phương có khả năng tự cai trị chính họ hay không? Nhà bình luận chính trị Irving Kristol đã viết: "Tôi không phải một trong những người đã vui sướng lên với sự thành công của nền dân chủ ở Á Căn Đình [Argentina] hay ở Phi Luật Tân [Philippines] hay ở... Đại Hàn... Tôi cá rằng dân chủ sẽ không sống sót nổi ở những quốc gia đó," bởi vì các quốc gia đó thiếu "những điều kiện tiên quyết của nền dân chủ... những điều chắc chắn... như các quan điểm về truyền thống và văn hóa." Tâm điểm của quan điểm này, không phải ở chỗ có một thể chế khác tốt đẹp hơn dân chủ, mà là nền dân chủ ở các quốc gia đó thực sự bất khả thi. Như nhà học giả về chính trị James Q. Wilson đã viết: "Dân chủ và sự tự do của con người thì tốt cho mọi người... Nhưng những cái tốt họ mang lại chỉ có thể ghi nhận khi người ta điềm tĩnh và dung thứ được những khác biệt." Ông ta nêu lên, đây không phải là trường hợp ở Trung Hoa, Nga Sô, hầu hết Phi Châu và ở Trung Đông, hay hầu hết Châu Mỹ La Tinh. Ông Wilson và Kristol, là những người bảo thủ, nhưng nhiều học giả cấp tiến khác đã dựa theo cái nhìn của họ. Thí dụ, khoa học gia về chính trị Robert Dahl viết:"Đó là một thực tế bi thảm, dù có thể nhiều người không đồng ý, là hầu hết tại các nước khác trên thế giới đều thiếu những điều kiện cần thiết cho sự duy trì và phát triển dân chủ, và nếu mà có thì cũng yếu ớt."

    Chúng ta hãy cùng cân nhắc lại từng điểm một trong hai điều phản đối thuyết dân chủ phổ quát này. Trước lời tuyên bố rằng mỗi quốc gia có quyền chọn hệ thống chính trị cho mình, ta phải hỏi ai đã phát biểu cho quốc gia của mình? Nhà kinh tế người Ấn Độ, Amartya Sen, người đã đoạt giải Nobel năm 1998, cho rằng: "những lý lẽ bào chữa cho những xếp đặt các nền chính trị chuyên chính ở Á Châu... thường được đưa ra không phải từ những sử gia độc lập mà chính là từ những giới cầm quyền." Bởi vì những biện luận như vậy rõ ràng là chỉ nhằm phục vụ riêng tư, nên những điều đó thường được nêu lên với danh nghĩa của người dân. Những giới này nói với chúng ta, là "nhân dân Trung Hoa" hay "nhân dân Tân Gia Ba [Singapore]" hay bất cứ ở nơi nào, người dân không muốn dân chủ. Bỏ qua một bên điểm khôi hài này, (tại sao, tách các điều này khỏi những tiền đề dân chủ, sự việc đã có bao giờ ăn nhằm đến những gì người dân muốn?) Ở đây câu hỏi được nêu lên, là làm thế nào chúng ta biết những gì người dân muốn trừ phi chúng ta hỏi họ?

    Những kẻ cai trị thường nói họ biết đối tượng của họ muốn gì, nhưng tại sao phải chấp nhận những lời tuyên bố của họ? Vào năm 1950, ở miền nam nước Mỹ, phát ngôn viên cho người da trắng thường khẳng định rằng "những người da màu" hài lòng chấp nhận việc phân biệt chủng tộc. Nhưng mà khi quyền bầu cử đã được bảo đảm cho người da đen, thì lập luận này của những người phân biệt chủng tộc đã hoàn toàn bị phản bác.

    Trên khắp thế giới, đã có nhiều trường hợp trong đó người sống dưới chế độ độc tài rốt cuộc cũng đã được cơ hội bày tỏ ước muốn của họ, và kết quả thì luôn đi ngược lại với những gì những kẻ độc tài tuyên xưng. Thông thường, điều này đã xảy ra khi chính thể đương nhiệm tự đưa mình rơi vào vòng áp lực và bởi vậy đã dàn xếp một cuộc bầu cử dưới những nhiệm kỳ có lợi cho họ trong niềm hy vọng còn bám víu vào quyền lực. Vào năm 1977, khi các cuộc biểu tình dâng cao để chống lại hệ thống quân luật mà Indira Gandhi đã áp đặt trên Ấn Độ, bà đã đồng ý tiến hành một cuộc bầu cử vì bà tin tưởng rằng cuộc bầu cử sẽ mang lại cho bà lá phiếu tín nhiệm. Bà lý luận rằng trong một quốc gia đã kiệt quệ như Ấn Độ, những tiền đề kinh tế mà bà đưa ra sẽ được chấp nhận nhiều hơn là những quyền lợi về chính trị. Ngược lại, cuộc bầu cử đã truất phế bà ra khỏi địa vị, và phe đối lập là phe được lãnh đạo bởi đảng của "tiện dân", những người nghèo nhất của những người nghèo (thuộc đẳng cấp xã hội thấp nhất Ấn Độ) [đã lên cầm quyền]. Vào năm 1987, ông Ferdinand Marcos kêu gọi một "buổi bầu cử tức thời" ở Phi Luật Tân, để phe đối lập không có đủ thời giờ tổ chức, nhưng ông ta cũng vậy, đã bị đánh bại. Vào năm sau đó ở Chí Lợi [Chile], Tổng thống Augusto Pinochet, không dám liều lĩnh một cuộc tranh cử, đã đồng ý một cuộc trưng cầu dân ý để quyết định cho ông được tiếp tục cai trị. Sáng kiến này là để cho cử tri chọn lựa giữa tình trạng hiện thời hay một tương lai xa lạ mà chỉ dẫn đến bất ổn. Mặc dù vậy, đa số đã bầu "không chấp nhận" sự tiếp tục cai trị của ông Pinochet. Vào năm 1989, chính quyền Ba Lan và phe đối lập đã đồng ý để có một cuộc bầu cử bán phần. Nhiều ghế trong ngành lập pháp đã được đề ra để dân chúng lựa chọn, nhưng trong danh sách của những đảng viên cộng sản cao cấp không có một người đối lập nào để bảo đảm là họ sẽ thắng cử. Tuy vậy, người dân đã làm hỏng ý đồ đó. Mặc dầu không có những ứng cử viên khác để chọn, phần đông cử tri đã xóa trên lá phiếu tên của những người tai to mặt lớn đang cai trị. Những người này là những ứng cử viên chưa từng có trong lịch sử, tranh cử không có đối lập mà vẫn thua. Vào năm 1990, trong lúc các chế độ độc tài ngã nhào chung quanh thế giới, những nhà cai trị quân sự ở Miến Điện đã bị đương đầu với những cuộc biểu tình vĩ đại trên đường phố. Quân lính đã giết rất nhiều người biểu tình, nhưng rốt cuộc những nhà cai trị đã phải đồng ý để đưa ra một cuộc bầu cử đầu tiên trên toàn quốc trong vòng 30 năm qua. Đảng Liên Minh Quốc Gia Dân Chủ (National League for Democracy) đã thắng hơn 80 phần trăm lá phiếu, nhưng bi thảm thay chính quyền quân phiệt đã từ chối chấp nhận kết quả của cuộc bầu cử.

    Ước muốn có nền dân chủ

    Còn rất nhiều những thí dụ điển hình như vậy có thể nêu lên. Ngược lại, đâu là những thí dụ điển hình về những người độc tài đã thắng cử trong một cuộc bầu cử tự do vì nhân dân chấp thuận sự cai trị của họ? Đã có khi nào người dân lại bỏ phiếu từ bỏ những quyền dân chủ của họ? Thật ra cũng có những trường hợp các nhà lãnh đạo được bầu trong cuộc bầu cử tự do, đã từ chối không nhượng bỏ quyền lực, và do đó đã biến họ trở thành những kẻ độc tài, nhưng chưa có trường hợp nào mà những kẻ độc tài đó dám nêu lên ý định độc tài của họ khi tranh cử. Cũng có những trường hợp những cựu đảng viên Cộng Sản được bầu trở lại quyền hành ở nhiều quốc gia thuộc khối Xô Viết cũ. Nhưng không có một ứng cử viên nào đã đề nghị phục hồi lại sự cai trị độc đảng. Thay vào đó, họ đã vận động tranh cử trên những vấn đề xã hội và kinh tế, đồng thời xác nhận sẽ tuân theo những thủ tục dân chủ.

    Hai trường hợp gần đây nhất là người dân Indonesia và Iran sống dưới sự cai trị chuyên chính đã chứng tỏ ước muốn chế độ dân chủ cho họ. Các cuộc biểu tình của sinh viên học sinh đã đưa đến sự sụp đổ chế độ của Tướng Suharto vào năm 1998; những cuộc bầu cử tiếp sau đó đã khiến cho đảng phái cai trị Golkar phải thất bại nặng nề. Iran vẫn chưa đưa ra được những cuộc bầu cử hoàn toàn tự do. Chỉ có những ứng cử viên nào tuyên hứa ủng hộ một hệ thống Hồi Giáo và đã được chấp nhận bởi thẩm quyền của hàng giáo phẩm mới được cho phép ra ứng cử. Nhưng ít ra, những cuộc bầu cử nghị viện trong năm nay đã chứng tỏ rõ ràng ước muốn của đại chúng cho một chế độ dân chủ càng bành trướng hơn. Những biến cố này cho thấy "ông trời có mắt," vì Iran và Indonesia là hai quốc gia đã lên tiếng trình bày lý lẽ tích cực nhất ở hội nghị Vọng Các cho rằng người dân Á Đông không hoan nghênh những tiêu chuẩn quốc tế về nhân quyền và dân chủ.

    Một dạng thái khác của điểm tranh luận này cho rằng một vài quốc gia không muốn có dân chủ được minh họa bằng lời của nhà học giả Hoa Kỳ Howard Wiarda, một nhà chuyên môn về Châu Mỹ La Tinh. "Tôi nghi ngờ rằng Châu Mỹ La Tinh muốn... dân chủ theo lối Hoa Kỳ (U.S-style)." Điều này thoạt nghe như là đặt câu hỏi có phải chăng dân chủ là một giá trị thích hợp phổ quát cho mọi nơi, nhưng hơn thế, có phải chăng tất cả mọi quốc gia phải có một hệ thống chính trị được đúc từ một cái khuôn giống nhau, được đặt tên là cái khuôn của người Mỹ. Đây là một vấn đề sai nhầm. Tại sao bất cứ quốc gia nào khác lại muốn dân chủ theo lối Hoa Kỳ? Hệ Thống Mỹ, với những nét đặc thù như chính sách Cân Bằng và Kiểm Soát, quyền lực mạnh mẽ được phân chia cách kỳ quặc ở Thượng Viện, sự phân chia quyền lực giữa tiểu bang và chính quyền liên bang, cái ưu thế của hai đảng chính, vân vân... được khởi sanh từ những kinh nghiệm riêng của nước Mỹ. Các chế độ dân chủ khác gồm có các hệ thống nghị viện, những chính quyền thống nhất, có các cuộc bầu cử đa đảng, có chế độ đại biểu theo tỷ lệ cân xứng, có các hệ thống lập pháp đơn viện, và vô số các dạng khác. Khi những người chiếm cứ Phe Đồng Minh thiết lập Dân Chủ ở Nhật Bản sau Đệ Nhị Thế Chiến, họ đã thử dùng hệ thống liên bang trong một thời gian ngắn, nhưng cái đó quá xa lạ đối với truyền thống của Người Nhật, cho nên hệ thống đó đã không tồn tại. Mỗi một nền dân chủ có tính cách riêng biệt của nó, và có thể có nhiều dạng tổ chức khác nhau.

    Tuy nhiên, không thể nói rằng những gì được gọi là dân chủ thì xứng với tên của nó. Trải qua nhiều năm, nhiều phong trào và chính thể cách mạng, hay nhiều người Cộng Sản, đã tự cho họ là "dân chủ" bởi vì họ tự nhận là đã tận tâm lo cho sự phúc lợi của người dân, mặc dầu họ đã không được tuyển chọn trong một cuộc bầu cử. Nhưng trong những năm cuối cùng của Liên Bang Sô Viết, Tổng Thống Mikhail Gorbachev đã xác nhận là từ ngữ dân chủ đã không được dùng một cách đúng đắn. Ông nói: "chúng ta biết ngày nay, là chúng ta có thể tránh khỏi rất nhiều... khó khăn nếu tiến trình dân chủ đã được phát triển một cách bình thường ở quốc gia chúng ta." Điều này có nghĩa như ông ta đã nói, "dân chủ theo lối đại biểu và nghị viện."

    Xác định dân chủ là gì?

    Bởi vì từ ngữ đã được dùng một cách sai lạc, cho nên rất là quan trọng để nhận ra một số đặc điểm căn bản dùng phán đoán một quốc gia có dân chủ hay là không. Các đặc điểm này được tóm tại trong ba điều. Thứ nhất, các viên chức chính quyền chính yếu phải được tuyển chọn trong những cuộc bầu cử công bằng và tự do. Điều này có nghĩa là bất cứ ai cũng có quyền ra tranh cử và tất cả mọi người đều có quyền bầu cử. Đương nhiên, cũng có một vài sai biệt nhỏ không quan trọng lắm [nhưng cũng khiến cho dân chủ không được hoàn thành], như Nam Phi dưới chính sách tách biệt chủng tộc (apartheid) đã đưa ra những cuộc tranh cử, mà người da đen lại không được bầu. Đó không phải là dân chủ. Hay Iran đã có bầu tổng thống và ngành lập pháp, nhưng nhiều ứng cử viên đã bị chặn ngăn không cho ứng cử bởi quyền lực của giáo hội, và những viên chức dân cử lại phải phục tùng các hội đồng tôn giáo không do dân bầu ra. Đó không phải là dân chủ.

    Thứ hai, tự do diễn đạt phải được cho phép, đó là, tự do ngôn luận, báo chí, hội họp và các tự do giống như vậy. Dĩ nhiên, cũng có một vài khuyết điểm nhỏ nhưng có thể có chút quan trọng, như trường hợp tại Tây Bá Lợi Á [Serbia], các phương tiện truyền thông đại chúng hầu hết nằm trong sự độc quyền của chế độ, và một số nhỏ các cơ sở truyền hình và báo chí độc lập thì lại bị quấy nhiễu về cả thể chất và pháp lý, thì đó không phải là dân chủ mặc dầu nhà nước đã đưa những cuộc tranh cử có tính cách thi đua hẳn hoi

    Thứ ba, pháp trị phải chiếm được ưu thế. Khi một người đã bị kết tội với một tội trạng, người đó phải có được lý do để tin tưởng là trường hợp của mình sẽ được xét xử theo tội trạng, chứ không theo mệnh lệnh của các thẩm quyền chính trị đưa xuống cho các vị thẩm phán. Cũng giống như vậy, khi một người công dân phải chịu đựng sự ngược đãi sai phạm dưới bàn tay của một viên chức, thì phải có một số cách thức pháp định qua đó người công dân có thể đòi được bồi thường. Như vậy, thì Mã Lai không có thể chấp nhận là có dân chủ, mặc dù quốc gia này mới tổ chức bầu cử, bởi vì người lãnh đạo bên phe đối lập đã bị giam giữ trong nhà tù với những sự kết tội do tổng thống chủ mưu.

    Chúng ta hãy cùng nhau trở lại với thách thức thứ hai đối với thuyết dân chủ phổ quát, đó là điều tranh luận của các nhà tư tưởng như Kristol, Wilson và Dahl cho rằng dân chủ, mặc dầu rất thích hợp, nhưng vượt quá khả năng của những người không phải là Tây phương và nghèo kém.

    Lý luận này chẳng phải là điều mới mẻ gì. Một vài thập niên vừa qua, cũng đã có một số hoài nghi tương tự về khả năng dân chủ của các xã hội mà nay đã được coi là có nền dân chủ vững chắc, như Nhật Bản chẳng hạn. Khi Đệ Nhị Thế Chiến sắp kết thúc, Tổng Thống Harry Truman ra lệnh cho các chuyên viên hàng đầu về Nhật Bản làm việc ở Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ thực hiện một báo cáo về chính sách của Mỹ đối với Nhật Bản khi quốc gia ấy đã bị đánh bại. Chuyên viên Joseph Grew đã thưa với ông rằng: "từ cái nhìn chiến lược dài hạn, điều tốt nhất mà chúng ta có thể hy vọng là thiết lập một chế độ quân chủ lập hiến, vì kinh nghiệm đã cho thấy nền dân chủ ở Nhật Bản sẽ không bao giờ thực hiện được." Tương tự như vậy, vào năm 1952 khi sự chiếm đóng Tây phương ở Đông Đức kết thúc, khoa học gia về chính trị nổi tiếng Hans Eulau đi kinh lý nước Đức và viết một cách rất thất vọng rằng "Nền Cộng Hòa Bonn xem ra giống như là màn trình diễn thứ hai của Weimar[*]... với điềm báo trước hồ như là sẽ có số phận giống như cũ." Vấn đề, Eulau giải thích, là "nền chính trị Đức Quốc đã đặt căn bản không phải trên kinh nghiệm dân chủ mà đã trên sự kêu gọi tình cảm."

    Khi Ý Đại Lợi chuyển qua chủ nghĩa phát xít vào những năm 1920, sử gia Arnold Toynbee viết rằng: "Sự kiện nước Ý bác bỏ dân chủ đã đặt ra một câu hỏi chưa có câu trả lời dứt khoát là phải chăng cây chính trị không thể đâm rễ vững chắc ở bất cứ nơi đâu ngoại trừ ngay trên phần đất quê hương của nó," nghĩa là Anh Quốc và Hoa Kỳ. Nhưng dù có ở Hoa Kỳ, nghi ngờ thường được nêu lên về khả năng chính trị của một số công dân. Như thượng nghị sĩ Strom Thurmond giải thích ở Viện Đại Học Luật Harvard vào năm 1957: "Nhiều người da đen, đơn giản mà nói, là không đủ hiểu biết về chính trị để... tham gia vào các sứ vụ công dân và chính trị... một số lớn khác có lẽ cũng thiếu một số phẩm chất khác cần có trước để có thể bầu một lá phiếu thật sự khôn ngoan."

    Điều tranh luận nói rằng dân chủ đòi hỏi truyền thống dân chủ là một lập luận vòng tròn. Làm thế nào mà có được một truyền thống dân chủ ngoài việc thực tập dân chủ? Câu trả lời, những kẻ hoài nghi hay nói, là dân chủ bên Tây phương nảy sinh ra từ một số ý kiến từ truyền thống Tây phương mà có thể truy tìm ngược lại từ thời cổ điển xa xưa. Nhưng Amartya Sen có lời đáp lại rất đáng để ý. Ông vạch ra rằng truyền thống Tây phương gồm có những yếu tố thay đổi khác nhau. Nguồn gốc của dân chủ có thể truy tìm từ thời cổ Hy Lạp, nhưng những nhà triết gia Hy Lạp lại tán thành sự nô lệ. Dân chủ hiện đại được phác họa dựa trên một số yếu tố lấy từ truyền thống Tây phương trong khi đó cũng loại bỏ những điều khác. Vả lại, ông Sen dẫn chứng những yếu tố tự do có thể tìm thấy trong Phật giáo, Khổng giáo, Bà La Môn giáo, Hồi giáo, và các tư tưởng cổ xưa của Ấn Độ, và ông ta hỏi tại sao những điều này lại không có thể rút ra như một căn bản văn hóa để áp dụng cho dân chủ ở thế giới không phải là Tây phương.

    Mặc dầu chúng ta ý thức rằng văn hóa là một điều quan trọng định đoạt chính trị, sự liên hệ giữa hai điều ấy rất là khó để ghi ra cho rõ. Học giả về chính trị Samuel Hungtington đã nhắc nhở chúng ta là một vài thập niên trước đây tất cả mọi xã hội với phần đông dân chúng theo Khổng giáo là xã hội nghèo đói, và các nhà học giả về Xã Hội tranh luận rằng có một số điều gì đó trong thái độ hành động được thúc đẩy thêm từ những niềm tin của Khổng giáo đã giữ (những xã hội ấy) ở trong cảnh nghèo đói. Thế nhưng, kể từ đó, các xã hội Khổng giáo đã kinh nghiệm sự tăng trưởng kinh tế nhanh hơn là các xã hội Hồi giáo hay Kitô giáo có thể làm được từ trước đến nay. Bây giờ, các nhà học giả về Xã Hội đang cố gắng để hiểu điều gì ở niềm tin Khổng Giáo đã thúc đẩy giàu mạnh.

    Dân Chủ Phổ Quát có phải là điều thích hợp không?

    Lời phản bác thích đáng nhất đối với những người nghi ngờ khả năng tiếp thu dân chủ của những người nghèo và không phải là người gốc Tây phương là kinh nghiệm của những thập niên gần đây. Chiếu theo bản tường thuật có căn cứ và đích xác nhất, là bản "khảo sát tự do" hàng năm do tổ chức tư nhân, "Nhà Tự Do" (Freedom House) thực hiện, là năm ngoái, 120 quốc gia trong số 190 quốc gia trên thế giới đã có chính quyền được bầu qua thể thức dân chủ. Tổng số này tính ra có 62.5 phần trăm các quốc gia và bao gồm 58.2 phần trăm dân số thế giới. Tới nay đã có 20 chế độ dân chủ bầu cử ở Phi Châu, 14 ở Á Châu, không đếm các quốc gia hải đảo vùng Thái Bình Dương Á Châu, trong số các quốc gia này có 11 quốc gia có chế độ dân chủ. Không cần phải nói thêm, các nền dân chủ không phải Tây phương này gồm có một số đông các quốc gia nghèo. Đương nhiên, rất là đúng sự nghèo đói, nạn mù chữ thất học, và các va chạm trong xã hội làm cho việc thực thi dân chủ khó hơn. Chắc có thể xảy ra là những chế độ dân chủ còn non nớt mà Nhà Tự Do đã đếm năm nay sẽ trở lại chế độ độc tài, như là hầu hết các quốc gia Tây Âu đã đạt được dân chủ qua những giai đoạn của tiến triển và thoái lui chứ không phải là tất cả (tiến đến dân chủ) cùng một lúc. Nhưng kinh nghiệm lịch sử chứng minh rằng những trở ngại văn hóa và xã hội không phải là không thể vượt qua được. Hãy cùng xét chế độ dân chủ đầu tiên được thành lập năm 1776, chế độ ấy rất là bất toàn, và bây giờ, 224 năm sau, đã có 120 chế độ dân chủ, điều nổi bật là dân chủ đã bành trướng rộng lớn đến thế nào chứ không phải là dân chủ đã bị giới hạn như thế nào.

    Nếu tất cả những điều này đã chứng tỏ là dân chủ phổ quát là điều quả thực có thể thực hiện được, liệu nó có phải là điều người dân mong muốn không? Tôi tin tưởng là có. Đầu tiên, nó sẽ tạo ra một thế giới hòa bình hơn. Các chế độ dân chủ không đánh lẫn nhau. Có rất nhiều nghiên cứu đã được chú tâm vào điểm quan sát này từ lúc nó được nêu ra trong 10 hay 15 năm qua, và cho tới ngày nay nó vẫn đứng vững, như lời nói của một học giả, "như là một định luật thực nghiệm trong quan hệ quốc tế." Có cuộc bàn cãi về điều các chế độ dân chủ thì hòa bình hơn, có phải chăng đó là tự chính bản tính, hay chỉ là hòa bình hơn đối với các nền dân chủ khác. Nhưng một trong hai đường hướng, thì chiến tranh sẽ xảy ra ít thường xuyên hơn, nếu càng đông (quốc gia) trên thế giới trở thành dân chủ.

    Cộng thêm điều "hòa bình dân chủ" này, ông Sen đã đẩy mạnh một đề nghị khác về các chế độ dân chủ mà chưa có ai đã đưa ra một trường hợp bác bỏ. Ông ta nói là chưa có một chế độ dân chủ nào đã kinh nghiệm nạn chết đói hay một tai họa tương tự. Ông nói lý do là nạn chết đói có thể ngăn ngừa được. Trong các hệ thống chính trị có xếp đặt cơ cấu "thông báo phản hồi" (feedback), cơ cấu thường có trong chế độ dân chủ, các chính phủ đã được báo động khi các trạng huống tạo nên nạn chết đói đang thành hình và họ đã hành động để làm giảm bớt đi trước khi những điều đó đạt đến mức tỷ lệ thảm khốc.

    Những điều này là những lý lẽ then chốt ủng hộ cho dân chủ. Nhưng, đối với tôi, có lẽ bởi vì tôi là một người Mỹ, lý do mạnh mẽ nhất thì không khách quan lắm. Tôi tin tưởng là mỗi một người trưởng thành phải được có tiếng nói trong chính phủ của mình, nếu người ấy muốn vậy. Đây là một phần trong việc hình thành nhận thức của tôi về nhân phẩm, dù cho các chính quyền dân chủ có đưa ra những quyết định khôn ngoan hay là không. Nhiều cá nhân không luôn luôn quyết định một cách khôn ngoan trong cuộc sống cá nhân của họ, thí dụ như trong việc chọn người phối ngẫu hay nghề nghiệp. Nhưng tôi tin tưởng cái đó tốt cho người ta để họ được tự do lựa chọn và phạm sai lầm cho chính họ, còn hơn là để cho người khác cai quản cuộc đời của họ. Giống như vậy, theo cái nhìn của tôi, có thể áp dụng vào phạm vi công cộng. Tôi không chứng minh được là tôi đúng. Đây không phải là một đề nghị có thể chứng minh được, nhưng nó là vấn đề của những giá trị cốt lõi. Dầu vậy, xét về sự lan rộng của dân chủ chung quanh thế giới, những gía trị này đã được chia sẻ bởi rất nhiều người có những kinh nghiệm rất là khác với những gì của cá nhân tôi.

    © Học Viện Công Dân 2006

    Nguồn: Democracy: A Right of All Nations

    [*] Weimar là nền Cộng hòa của nước Đức giai đoạn 1919-1933. Khi đế quốc Đức bị hủy bỏ vì thất bại trong Đệ nhất Thế chiến, quốc hội Đức nhóm họp để thiết lập nền dân chủ cộng hòa tại thành phố Weimar. Cộng hòa Weimar kéo dài đến 1933 thì chấm dứt khi Hitler lên nắm quyền, qua bầu cử tự do và công khai, và thiết lập chế độ độc tài Quốc-Xã. (Ghi chú của HVCD).

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    5 phản hồi

    Phản hồi: 

    [quote=chu nhat]Sai bét! Dân chủ là quyền của NGƯỜI DÂN, không phải của Nhà nước.
    Nếu nhà nước thì VN hiện nay đã có rồi đó sao?[/quote]

    Dân chủ là quyền của NGƯỜI DÂN : đúng

    Nhà nước, hiểu theo nghĩa pháp luật, là một tổ chức xã hội.
    ( http://vi.wikipedia.org/wiki/Nh%C3%A0_n%C6%B0%E1%BB%9Bc )

    Ở đây bác Nguyễn Trang Nhung bàn về quốc gia và dân chủ .

    Một chủ thể được xem là quốc gia khi có có đầy đủ các yếu tố sau: lãnh thổ, dân cư và có chính quyền
    ( http://vi.wikipedia.org/wiki/Qu%E1%BB%91c_gia )
    Quốc gia cũng có khi được dùng để chỉ một nước hay đất nước.
    Như vậy một quốc gia có thể có nhiều nhà nước khác nhau.

    Ví dụ như TQ vẫn coi Đài Loan là một phần của TQ. Như vây TQ có hai nhà nước khác nhau, CS (TQ lục địa) và tư bản dân chủ (Đài Loan).
    Phản đối chính sách của một nhà nước thì không có nghĩa là chống lại dân tộc, chống lại đất nước đó

    Ví dụ tôi phản đối TQ đánh chiếm HS và TS của VN có nghĩa là tôi phản đối nhà cầm quyền TQ chứ không đụng chạm đến dân tộc TQ và đất nước TQ

    Phản hồi: 

    Định nghĩa về Dân Chủ là việc của các học giả và Chính trị gia. Theo chúng tôi, những người dân bình thường lương thiện, dân chủ chỉ là một danh từ bao gồm những điều giản dị của chúng tôi trong cuộc sống: Người đại diện cho chúng tôi phaỉ do chính chúng tôi bầu ra. Nều khi người đại diện này trúng cử, nhưng làm khác nguyên vọng chúng tôi, thì chúng tôi, chính chúng tôi chứ không phải qua Đại Hội cuả đảng Cộng Sản, có quyền thay người khác. Chính ông Hồ Chí Minh, cha đẻ của đảng CSVN chẳng đã từng tuyên bố bao hàm ý nghĩa như vậy hay sao, dù chỉ là để tô son điểm phấn cho đảng CSVN lừa ngừoi yêu nước trên bước đường cướp chính quyền của đảng, vì suốt trào của ông, tiếp đó là hậu duệ lớp đảng viên của ông, có quyền, có lực cũng biết như thế, nói như thế, học tập lời ông Hồ như thế, nhưng toàn bộ hơn nửa thế kỷ qua, Nhân dân VN dưới sự "lãnh đạo bằng đỉnh cao trí tuệ" của họ, họ có mang ra ứng dụng đâu, ngay cả trong thời hòa bình xây dựng, nghĩa là thời của họ, sau khi họ đã chiếm đoạt toàn bộ quyền điều hành đất nước, và không còn phải đổ máu với kẻ tranh giành nữa. Thành ra. Nhân dân chỉ cầu mong đảng CSVN làm theo lời thầy của họ là ông Hồ thành "hiện thực" là mừng rồi.

    Phản hồi: 

    Ơ hay! bác Chu Nhat không phân biệt được quốc gia với nhà nước ư? Trường tồn và ngắn hạn (tạm thời).
    Nêu nói Dân Chủ là quyền của "người dân" thì không sai, nhưng nó sẽ thành chung chung (bất cứ họ sống ở quốc gia nào). Trong khi tác giả bài này đang muốn vạch ra: có những quốc gia chưa (không) dân chủ.

    Mong bác thương tác giả, thông cảm với mục tiêu bài viết để khỏi nói ông ta "sai bét".

    Phản hồi: 

    Khi suy nghĩ về một “thể chế chính trị cho Việt Nam”, tôi nhận thấy cần có vài nhận định về hai khuynh hướng tổng quát ảnh hưởng trên mọi thể chế chính trị từ xưa tới nay: đó là các khuynh hướng “Nhân” và “Pháp” thường được đề cập đến trong tư tưởng chính trị của người Việt.

    Sở dĩ tôi đã chọn truyền thống triết học Đông Phương làm khởi điểm vì tôi quan niệm bất cứ một lý thuyết chính trị nào cũng phải phù hợp với hai điều kiện:

    - Một là các điều kiện lịch sử, để có thể hoà mình một cách thoải mái trong tiến trình tự nhiên của dòng lịch sử dân tộc.
    - Hai là các điều kiện thuộc về “dân tình dân chí” để có thể có được sự thông cảm và hợp tác rộng rãi của người dân.

    Trong cả hai đòi hỏi này, chúng ta đều nhận thấy tầm quan trọng của yếu tố truyền thống. Vì thế, lấy truyền thống Việt Nam làm khởi điểm cho những suy nghĩ về một lý thuyết chính trị áp dụng cho người Việt là một thái độ tự nhiên! Tuy vậy, cũng cần nhận thức rõ là điều này hoàn toàn không có nghĩa phản tiến bộ, mà ngược lại chính là đảm bảo cho một sự triển nở hợp lý, trong đó việc thu nhập những cái mới, tân tiến được đặt trên một nền tảng vững chắc, được nối liền với những cội rễ bền bỉ, lâu dài. Có thể một ngày kia, yếu tố dân tộc sẽ lỗi thời và truyền thống dân tộc sẽ phải tan biến trong một nền văn hóa đại đồng nào đó. Tuy nhiên, ngày ấy nhất định không phải là ngày hôm nay, nhất định không thuộc về lịch sử mà chúng ta đang sống. Vì thế, yếu tố truyền thống dân tộc vẫn còn phải được coi trọng, kể cả khi chúng ta đi vào tư tưởng tiên tiến, canh tân. Đây là một sự cần thiết, vì chính là chất keo hàn gắn những yếu tố đổ vỡ giữa người Việt và người Việt. Thiếu một nền tảng tư tưởng có thể kết hợp người Việt với nhau một cách chặt chẽ thì mọi lý thuyết sẽ chỉ là lý thuyết của một đảng phái, một bè nhóm, một vùng miền, một tôn giáo và sự đấu tranh, xấu xé giữa người dân Việt sẽ còn mãi mãi kéo dài.

    Với ý thức đó, chúng ta đi vào đề tài “Nhân trị và Pháp Trị”:
    - Trước hết, với sự trình bày văn tắt thế nào là Nhân trị và thế nào là Pháp trị theo cách hiểu của người xưa.

    - Sau đó, bước sang sự phân định các yếu tố có tính cách tương đối “Nhân” và tương đối “Pháp” trong các trào lưu tư tưởng hiện đại.

    - Rồi, để cho vấn đề được thêm rõ nét, chúng ta sẽ phân tích hai mô hình tổ chức xã hội tiêu biểu là tư bản và xã hội chủ nghĩa dưới cách nhìn “Nhân” và “Pháp”.

    - Sau nữa, chúng ta mới rút tỉa vài ưu và khuyết điểm chính yếu của Nhân trị cũng như Pháp trị.

    Khuynh hướng Nhân trị
    Phát nguồn từ Đạo Nhân, tức từ một tổng hợp bổn phận để con người có thể sống đúng với địa vị của mình đối với mọi người trong xã hội và đối với vạn vật vũ trụ (“nhân dã giả, nhân dã" - Mạnh Tử). Tập hợp bổn phận này được xây dựng trên quan niệm mọi người đều cùng một bản thể với nhau và cùng bản thể với vũ trụ vạn vật, ví như anh em một nhà, nên có bổn phận phải nâng đỡ nhau để cùng triển nở tốt đẹp (Tử Hạ: “Tứ Hải Chi nội giai huynh đệ”- Trình Minh Đạo: “Vạn vật dữ ngã nhất thể dã”). Bản thể ấy cũng là bản thể của Trời, khiến con người cũng như thiên nhiên đều có phần linh thiêng tôn quý.

    Áp dụng vào việc điều hành xã hội, Đạo Nhân cho ra những quan niệm căn bản của lý thuyết Nhân trị.

    Quan niệm con người
    Con người được quan niệm một cách toàn diện, với phần vật chất, phần tinh thần và nhất là phần linh thiêng như vừa nói. Chính vì có phần linh thiêng còn gọi là Thiên tính này mà mọi người đều phải được kính trọng.

    Quan niệm giáo dục
    Trong thuyết Nhân trị là tìm lại và dưỡng nuôi cái tính trời tiềm tàng, nơi mỗi con người làm cho tính ấy không bị tư dục che lấp, để thể hiện mạnh mẽ trong cuộc sống. Giáo dục ở đây chủ trương hướng nội và tin tưởng vào cái Tính thiện nơi mỗi con người.

    Quan niệm lịch sử
    Thuyết Nhân trị cho chân lý hay “đạo” hiển lộ ở quá khứ, rồi dần dần lu mờ đi với thời gian. Vì thế, cần lấy người xưa làm gương mẫu và đi tìm chân lý trong truyên thống. Đó là quan niêm lịch sử tiến hóa theo chu kỳ.

    Quan niệm xã hội
    Ở đây coi xã hội như một gia đình lớn như ý nghĩa câu “dân ngô đồng bào” của Trưng Tái. Xã hội cũng có thể được ví như một cơ thể lớn.

    Quan niệm chính quyền
    Trong thuyết Nhân trị coi nhà cầm quyền như Cha, Mẹ, Chú, Bác người dân, có bổn phận phải “thương dân như con”. Quan niệm chính quyền này trọng bổn phận hơn là quyền hành.

    Quan niệm pháp luật
    Pháp luật ở đây bị coi như chỉ là sự bổ túc cho một tập hợp quy ước gọi là Lễ. Lễ là một thứ “luật” tự nhiên mà mọi người đều chấp nhận trong thâm tâm mình. Lễ được hình thành từ những yếu tố bẩm sinh, tức phần nào từ cái Tính thiện nơi mỗi người và từ một quá trình giáo dục, đào luyện lâu dài. khi Lễ không còn đủ để điều hành việc nhân sinh, người ta cực chẳng đã mới phải dùng đến pháp luật.

    Khuynh hướng Pháp trị
    Phát nguồn từ học phái Lão Trang và học thuyết của Tuân Tử. Học phái Lão Trang trú trọng ở sự tuân theo định luật tự nhiên của vũ trụ, không làm gì cưỡng lại định luật ấy mà dẹp bỏ mọi tư dục để cho định luật ấy tự nhiên “làm” mọi việc qua mình. Đó là lý thuyết “ Vô vi nhi vô bất vi” (không làm nhưng không gì không làm).

    Tuân Tử chủ trương không thể chờ đợi giác ngộ định luật của Trời Đất, mà phải đặt ngay ra những quy luật làm tiêu chuẩn giải quyết việc nhân sinh xã hội. Ông cho Đạo không phải là Đạo Trời, mà là Đạo người. Ông cũng đề ra quan niệm con người mang tính ác, cần có những tiêu chuẩn từ bên ngoài để theo đó sửa đổi, điều tiết.

    Từ khái niệm “định luật của vũ trụ” nơi Lão Trang đến sự phân biệt Đạo trời, Đạo người, của Tuân Tử, người ta đi tới quan niệm “Pháp” tức một hệ thống quy luật điều khiển toàn bộ nhân sinh hành vi có tính cách tuyệt đối, không được bàn cãi (Pháp bất nghị). Trên nền tảng ấy, lý thuyết Pháp trị được hình thành với những quan niệm cơ bản sau:

    Quan niệm chính quyền
    Pháp gia chủ trương nhà cầm quyền không nên làm gì cả, mà chỉ dựa vào “Pháp” để thưởng phạt người dưới. Vì ai cũng ham được thưởng, sợ bị phạt nên sẽ đều tự động làm đúng “Pháp”. Đó là thái độ “Vô vi nhi vô bất nhi” của Pháp gia, ảnh hưởng Lão học. Quan niệm này trọng quyền hành hơn trọng bổn phận. Việc cai trị hoàn toàn dựa trên “Pháp” nên có căn bản là Vô tư, Vô tình, khác với kuynh hướng Nhân trị coi việc công như việc tư, coi người dưng như thuộc gia đình mình, trị nước như cha anh lo cho con em trong nhà vậy. Pháp gia có thể từ bỏ chính gia đình mình, trong khi người Nhân coi mọi người như người nhà, để cho dù thưởng hay phạt cũng không quyên cái tình ấy.

    Quan niệm xã hội
    Xã hội ở đây là một cái máy lớn, hành động của mỗi người đều phải phù hợp một cách chính xác với danh phận của mình như đã được quy định bởi “Pháp”. Làm sai, làm thiếu hay làm quá lố, làm dư ra đều bị trừng phạt. Công nhỏ quá hay công lớn quá đều mang tội (Hàn Phi Tử). Thật vậy, một cơ phận trong bộ máy chắc chắn là không thể chạy nhanh hay chậm hơn tốc độ đã được quy định.

    Quan niệm lịch sử
    Của Pháp gia là quan niệm tân tiến, tức tin vào sự tiến bộ, vào sự giải quyết các vấn đề nhân sinh trong tương lai, nhờ vào việc đặt ra và thi hành “Pháp”. Khác với khuynh hướng Nhân trị, lịch sử ở đây tiến theo đường thẳng. Pháp Gia Hàn Phi cũng khẳng định điều kiện kinh tế quy định hướng tiến của lịch sử, trong khi Pháp Gia Thương Ưởng đề ra một tiến trình của lịch sử dựa trên một loại biện chứng pháp sơ khai với từng giai đoạn mang mầm mống của sự tự hủy diệt mình để hình thành giai đoạn sau (nhưng thiếu “thống nhất biên chứng”).

    Quan niệm giáo dục ở đây thiên về hướng ngoại, dựa trên việc không theo một tiêu chuẩn bên ngoài. Pháp Gia nghĩ con người mang Tính ác, cần phải biến hóa cái tính ấy đi cho phù hợp với “Pháp”. Từ đó, họ coi con người như gỗ đá, có thể dư thì cắt bớt, thiếu thì chắp thêm (Hàn Phi-Hiển Học) họ cũng quan niệm “Chính giáo hợp nhất” (Lý Tư) đặt giáo dục dưới sự kiểm soát của nhà chính trị (Dĩ lại vi sư), và triệt để bài bác văn học, coi đó như nguồn gốc của sự chống lại “Pháp”.

    Quan niệm con người
    Pháp gia coi con người như gỗ đá có thể đẽo gọt, hay như cơ phận của một bộ máy, phải chạy đúng như đã được quy định, với quan niệm ấy, họ có thể tiêu diệt một phần xã hội theo chủ trương “lấy số nhiều bỏ số ít” (dụng chúng nhi sả quả - Hàn Phi), khác với người Nhân, tôn trọng mỗi người như một biểu hiệu của Thượng Đế.

    “Nhân” và “Pháp” trong trào lưu tư tưởng hiện đại:
    Ngày nay người ta có thể coi như thiên về “Nhân” những tư tưởng quan niệm con người một cách toàn diện và từ đó tôn trọng con người với ý nghĩa “con người nói chung”, đề cao sự ôn hòa rộng rãi, chấp nhận những khác biệt, hướng về lý tưởng tự do, đặt nặng quyền lợi cá nhân.

    Trên trường chính trị, đó là những thể chế dân chủ, đặc biệt là dân chủ đa nguyên, là cách cầm quyền khách quan thực tế, là chủ trương bảo vệ thiên nhiên.

    Ngược lại các tư tưởng thiên về “Pháp” thu hẹp định nghĩa con người, như coi con người chỉ là con người kinh tế, con người giai cấp (Marx), con người sinh lý (Freud), ý tưởng loại bỏ Thượng đế trong đời sống con người (Nietsche), hay những tư tưởng gián cách con người với Thượng đế, phủ nhận tính linh thiêng tự nhiên của con người và vạn vật của một vài tôn giáo mặc khải. Các tư tưởng thiên về “Pháp” thường quá khích, giáo điều chủ nghĩa, đề cao “Đồng” hơn là “Hòa”, trọng bình đẳng hơn tự do, bảo vệ quyền lợi cộng đồng (cộng đồng đân tộc, quốc gia, giai cấp, tôn giáo...) hơn là quyền lợi cá nhân. Trên trường chính trị, đó là những thể chế độc tài, là cách cầm quyền chủ quan duy ý chí, là kinh tế chỉ huy, là những mô hình phát triển tàn phá thiên nhiên, phung phí tài nguyên thiên nhiên.

    Nói rộng hơn, sự hệ thống hóa việc nhân sinh hành vi, tức mọi chủ thuyết, ý thức hệ...đều dễ thiên về “Pháp”. Thật vậy nếu chấp nhận rằng con người có những phần vượt ngoài mọi sự lý luận thì người ta buộc phải suy ra cái tác dụng căn bản của các hệ thống lý luận là thu hẹp định nghĩa con người.

    Hai mô hình tổ chức xã hội tiêu biểu dưới cái nhìn “ Nhân” và “Pháp”

    Tư bản Chủ nghĩa
    Có thể định nghĩa như một mô hình của tổ chức xã hội trong đó phương tiện sản xuất và phương tiện thay đổi nằm trong tay tư nhân. Tư nhân đương nhiên là có khuynh hướng đặt tư lợi lên trên hết. Vì thế, một trong những động cơ chính yếu của xã hội tư bản là hiếu lợi.

    Để được lợi nhà tư bản luôn cố gắng đẩy mạnh Sản xuất và Tiêu thụ. Vì cần có người tiêu thụ nên xã hội tư bản thường ôn hòa rộng rãi, tôn trọng cá nhân và khuyến khích con người phát triển toàn diện. Thật vậy, nếu hẹp hòi, quá khích, thì sẽ phải loại bỏ một phần xã hội, giảm bớt số người tiêu thụ. Sự tôn trọng quyền lợi cá nhân cũng là hậu quả của tính hiếu lợi, vì mỗi cá nhân là một người tiêu thụ, cần làm cho cá nhân ấy có một mức sống nào đó đủ để anh ta hăng hái tiêu thụ mỗi ngày một thêm lên. Mặt khác, tính hiếu lợi cũng khiến nhà tư bản không ngần ngại cổ động sự phát triển con người một cách toàn diện, vì điều này giúp gia tăng nhu cầu tiêu thụ. Mỗi bước phát triển của các khía cạnh vật chất, tâm trí, tâm linh, tín ngưỡng...của con người đều tạo thêm những nhu cầu mới, mở ra những thị trường mới để nhà tư bản có thể bán những sản phẩm liên hệ, từ cái lò micro- ondes tới các thần thánh, guru…đủ loại.

    Về chính trị, xã hội tư bản thường thiên về thể chế dân chủ đa nguyên, tuy điều này còn tùy thuộc một số điều kiện khác. Lý do vì phương tiện sản xuất và trao đổi là thực chất của quyền hành trong xã hội. Quyền hành ấy vì nằm trong tay tư nhân nên dễ bị phân tán, đưa đến nhiều “đầu mối nắm quyền” và nhiều “đầu mối phản quyền” (contre-pouvoir) tưng ứng, tất cả đều ảnh hưởng một cách tương đối trực tiếp vào đời sống chính trị. Tình trạng này dễ đưa đến thể chế đa nguyên. Xin đặc biệt lưu ý: đa nguyên dùng ở đây được hiểu là nhiều đầu mối can thiệp một cách trực tiếp vào việc chính trị, chứ không phải mỗi người dân là một “Nguyên” như đã từng được phát biểu ở nhiều nơi.

    Vì ôn hòa rộng rãi, trọng quyền lợi cá nhân, đề cao sự phát triển con người toàn diện và khuynh hướng dân chủ đa nguyên, nên xã hội tư bản có nhưng nét thiên về nhân trị.

    Thật ra, người ta đã nghĩ nhu cầu đẩy mạnh sản xuất có thể đưa dến những phương pháp quản trị nhân công khắt khe, với sự bóc lột ngày càng gia tăng. Tuy nhiên, trong thực tế, điều này đã không xảy ra. Nhiều xã hội tư bản đã đạt được phần nào đến sự quân bình giữa quyền lợi của người làm công, cũng phải được coi như người tiêu thụ, và quyền lợi của chủ nhân, tùy thuộc vào sự tiêu thụ này.

    Điều cần nhận rõ là sự quân bình ấy chỉ có được ở các nước tư bản tiên tiến. Tại các nước kém phát triển, người dân vì quá nghèo nên gần như chỉ đơn thuần là “con người sản xuất” chứ chưa được coi như “con người tiêu thụ” một cách đúng mức. Thế quân bình như vừa nói trở nên lệch lạc, sự bóc lột có phần trội hơn việc đem lại cho người dân một mức sống vừa đủ để họ có thể tham dự vào xã hội tư bản với tính cách “người tiêu thụ”.

    Nhiều yếu tố khác trong xã hội tư bản cũng có khuynh hướng phản lại lý tưởng Nhân trị. Thí dụ: nhu cầu thúc đẩy tiêu thụ thường đưa đến đánh giá con người theo mức độ tiêu thụ của mình: anh “Hơn” tôi, vì anh có xe tốt hơn, nhà lớn hơn....Điều này đương nhiên, là thu hẹp định nghĩa con người, giam hãm con người trong khuôn khổ những quy luật và hệ thống giá trị của sự tiêu thụ.

    Thêm vào đó, nhu cầu sản xuất hàng loạt để giảm giá thành của hàng hóa cũng khiến nhà tư bản tận dụng mọi phương tiện truyền thông, quảng cáo...để làm cho con người phải lọt vào những khuôn mẫu thụ, quanh một số mặt hàng được coi như “biểu tượng của đời sống văn minh”. Ngoài ra xã hội tư bản dễ khuyến khích sự phát triển lệch lạc, ích kỷ, với cách nhìn hiếu lợi ngắn hạn khó giải quyết được những vấn đề căn bản trường kỳ của nhân loại. Điều này đưa đến sự chênh lệch giàu nghèo khủng khiếp và sự tàn phá thiên nhiên, phung phí tài nguyên thiên nhiên một cách vô cùng tệ hại. Đó là những sắc thái Phi Nhân của xã hội tư bản.

    Xã hội Chủ nghĩa
    Được bàn đến ở đây là mô hình tổ chức xã hội thoát thai từ Chủ thuyết Marx. Chúng ta có thể định nghĩa Chủ thuyết Marx như một quan niệm lịch sử dựa trên thuyết duy vật và biện chứng pháp.

    Biện chứng duy vật cho rằng con người trong căn bản tùy thuộc vào các điều vật chất. Vì thế, đa số các học giả thuộc học phái Marx đã gặp nhiều trở ngại trong việc thừa nhận ý niệm “con người nói chung”. Thật vậy, điều kiện vật chất luôn thay đổi, nên con người bị quy định bởi vật chất cũng buộc phải thay đổi theo, và như thế làm sao có được một thực tế gọi là “con người nói chung”, trường tồn, biệt lập với các đổi thay ấy? Các học giả này coi ý niệm “con người nói chung” là một thần thoại không có thật.

    Mặt khác, sử quan duy vật cho lịch sử là “lịch sử đấu tranh giai cấp” (Tuyên ngôn Đảng Cộng sản) nên khi được đặt trong giòng lịch sử, những điều kiện chính yếu quy định bản chất con người buộc phải là những điều kiện đấu tranh và những điều kiện giai cấp (Bản chất con người là sự tổng hợp của những tương quan xã hội Marx - Luận cương 6 về Feuerbach). Như vậy, theo các học giả này, con người là con người giai cấp (và con người đấu tranh).

    Cần nhắc lại là sử quan cũng như biện chứng duy vật đều là những đặc điểm của Pháp gia thời Chu Tần, dù rằng lúc ấy mới ở trạng thái sơ khai.

    Hậu quả của ý tưởng không có “con người nói chung” mà chỉ có “con người giai cấp” là: giữa con người ở giai cấp này với con người ở giai cấp khác không có gì chung cả, không cùng nhau chia sẻ giá trị căn bản nào cả. Và người ta có thể coi người của giai cấp khác như thuộc về một loài vật khác, để nếu cần thỉ thản nhiên giết bỏ, như trừ sâu, trừ kiến, đập ruồi đập muỗi. Đó chính là căn bản của “thuyết Phi Nhân” đã ngự trị trên học phái Marx và cái gọi là “Thế giới Cộng sản” suốt nhiều thập niên, cho đến gần đây mới bắt đầu bị một số tư tưởng gia thuộc chính học phái này lên án hầu tìm cách xây dựng một “xã hội chủ nghĩa nhân bản”.

    Ngoài khả năng giết người như sâu kiến ấy, các mô hình XHCN được áp dụng trong “Thế giới Cộng sản” còn mang nhiều đặc tính Pháp trị khác như: trọng bình đẳng hơn tự do, tập thể hơn cá nhân, đấu tranh hơn hòa giải, kinh tế chỉ huy hơn kinh tế thị trường, thêm vào với lề lối cầm quyền độc tài, duy ý chí, giáo điều chủ nghĩa. Tuy nhiên, lý tưởng của học thuyết Marx là đi đến một “Thiên đường” gọi là “Xã hội Cộng sản Văn minh” trong đó không còn giai cấp, không còn đấu tranh, không có chính phủ và cũng không cần đến quyền tư hữu.

    Xã hội lý tưởng này có một mức sản xuất cực cao, dư dùng cho mọi người dân, và người dân cũng đạt đến một trình độ tự giác cực cao, khiến không còn vấn đề chiếm hữu, không còn phải dùng đường lối đấu tranh để giải quyết các mâu thuẫn. Sự hiện diện của chính phủ cũng không còn cần thiết. Xã hội lý tưởng này phù hợp với khuynh hướng Nhân trị.

    Phê bình Nhân trị và Pháp trị:
    Nhân trị là một lý tưởng cao đẹp, phù hợp với ước vọng của con người, dễ được con người chấp nhận và trong sự áp dụng, dễ ứng phó với thực tại, dễ sửa sai hơn khuynh hướng Pháp Trị. Tuy nhiên, Nhân trị không phải lúc nào cũng áp dụng được, mà tùy thuộc vào ba điều kiện chính yếu, đó là:

    - Mức sống vật chất của người dân
    - Trình độ ý thức của họ
    - Và tình trạng an ninh của quốc gia, bên ngoài cũng như bên trong.

    Vì thế, Nho Gia đã đặt ra ba mục tiêu cốt yếu cho việc chính trị, là: bảo vệ dân, lo cho dân no đủ và giáo dục dân. Có lẽ cổ nhân đã muốn truyền lại một bài học thực tế, rằng: Nhân trị không phải chỉ là “làm” Đạo Nhân, mà cũng là tạo điều kiện để Đạo Nhân có thể “làm” được . Nếu không thì sẽ lại rơi trở vào lề lối chủ quan duy ý chí như trong khuynh hướng Pháp trị.

    Pháp trị vì duy ý chí nên ít lệ thuộc hoàn cảnh, dễ thống nhất mục tiêu và phương tiện, thuận lợi cho việc đấu tranh ngắn hạn. Ở thời xưa, nó làm cho quốc gia hùng cường nhanh chóng (trường hợp nước Tần). Thời nay, người ta thường dùng nó một cách hiệu quả trong việc cướp chính quyền và giữ chính quyền một cách chắc chắn. Ngoài ra việc sử dụng Pháp trị để xây dựng những đế quốc chuyên chế dường như đang trên đà giảm bớt, tuy người ta vẫn không từ bỏ một hình thức đế quốc mới, có khi được gọi là “đế quốc kinh tế”.

    Cầm quyền theo khuynh hướng Pháp trị có thể mang đến nhiều nguy hại vì ba lý do:

    1) Pháp trị rất dễ sai lầm, vì quan niệm con người và sự vật một cách chủ quan, giáo điều, đưa đến tổ chức xã hội xa rời thực tại, khó đáp ứng được với những đòi hỏi thực tế của người dân nên dần dần cách biệt với dân, đi đến chỗ bị dân oán ghét.

    2) Khi đã xa rời dân, đi ngược lại với nguyện vọng của họ, thì muốn cho họ tiếp tục phục tùng mình, nhà cầm quyền cần phải hà khắc, đàn áp, trừng phạt gắt gao, thậm trí giết bỏ thẳng tay. Điều này đưa đến không khí căm hờn nặng nề trong xã hội, ít thuận lợi cho sự hợp tác, “hòa hợp hòa giải” và thường kết thúc trong những cuộc nổi dậy đẫm máu. Pháp trị dễ thống nhất mục tiêu và phương tiện của quốc gia trong ngắn hạn, nhưng với thời gian nó lại hay đưa đến bất hợp tác, đối kháng, thậm chí đụng độ đẫm máu, tiêu hao lực lượng.

    3) Khi đã sai lầm, một xã hội Pháp trị rất khó sửa sai, do ở nguyên tắc “Pháp bất nghị” đã nói ở trên. Vì thế, khi cần thay đổi một chính sách, người ta thường buộc phải lật đổ cả một chế độ, vừa tốn thì giờ, vừa tốn hao tài nguyên xương máu.

    Tuy lý tưởng Nhân trị phản ảnh những ước vọng thâm sâu nhất của con người trong đời sống xã hội, người ta vẫn buộc phải công nhận rằng không phải lúc nào điều kiện thực tế cũng cho phép xây dựng xã hội lý tưởng này. Vì thế, khi suy nghĩ về Nhân và Pháp, người ta cần đặt ra ba vấn đề:

    Thứ nhất, trong một thời điểm nhất định, điều kiện thực tế cho phép thi hành một chính trị với bao nhiêu phần “Nhân” bao nhiêu phần “Pháp”?
    Thứ hai, trong tiến trình quản lý quốc gia, làm sao để một mặt sáng suốt nhận thức những giai đoạn cần phải thi hành Pháp trị, mặt khác ngăn ngừa những sự lạm dụng việc này?

    Sau hết, người ta có thể tự hỏi: thế nào là dung hòa Nhân và Pháp? Có lẽ câu trả lời là: nhìn về một giá trị căn bản của con người mà lập Pháp, với một tinh thần rộng rãi, không cố chấp giáo điều, chủ thuyết, chấp nhận sửa sai, thích nghi với thực tại (Pháp hữu nghị). Nói cách khác, là lấy tinh thần Đạo Nhân mà lập Pháp.

    Tuy lý tưởng Nhân trị phản ánh những ước vọng thâm sâu nhất của con người trong đời sống xã hội, người ta vẫn buộc phải công nhận rằng không phải lúc nào điều kiện thực tế cũng cho phép xây dựng xã hội lý tưởng này.

    Có thể được chăng? Các bậc hiền giả sẽ luận bàn vậy.

    Phản hồi: 

    Sai bét! Dân chủ là quyền của NGƯỜI DÂN, không phải của Nhà nước.
    Nếu nhà nước thì VN hiện nay đã có rồi đó sao?