Hà Sĩ Phu - Vong bản từ đâu?

  • Bởi Admin
    12/02/2011
    4 phản hồi

    Hà Sĩ Phu

    thehevang.jpg

    Hình minh họa của Dân Luận

    (Mạn đàm cùng nhà Sử học Dương Trung Quốc)

    Đọc được bài Thế hệ chúng ta mất gốc hoàn toàn của ông Dương Trung Quốc tôi biết ý kiến của mình lâu nay (về chủ đề này) đã không còn lẻ loi. Vâng, mất gốc hoàn toàn cũng nghĩa là vong bản tuyệt đối. Đúng vậy, nhưng xin đừng quá buồn.

    Lâu nay, trò chuyện với bạn bè ở Đà Lạt tôi thường đề cập đến sự thăng trầm của “Phẩm chất con người Việt Nam”, vì không hiểu điều này sẽ không cắt nghĩa nổi những dao động lịch sử, lúc như sóng cồn, lúc trơ lỳ, của xã hội Việt Nam hơn một thế kỷ nay.

    Theo tôi, phẩm chất con người Việt Nam đạt đỉnh cao nhất ở nửa sau của thời kỳ Pháp thuộc. Còn đoạn lõm thấp nhất, bị tha hoá tệ hại nhất là ở nửa sau của cuộc “Cách mạng Vô sản”, tức chính là những năm tháng hiện nay. Nói khác đi, những thế hệ sống trọn thế kỷ 20, vắt sang đầu thế kỷ 21 đã có may mắn được chứng kiến cả điểm cực đại và cực tiểu của sự dao động suốt 4000 năm lịch sử, một giai đoạn độc đáo khó có lần lặp lại.

    Điểm cực đại mà ông Dương Trung Quốc đặt tên là “thế hệ vàng”, là thế hệ cùng sinh trưởng với những nhân vật mà ông nêu danh trong bài như Vũ Đình Hoè, Tạ Quang Bửu, Trần Đại Nghĩa, Hoàng Minh Giám, Nguyễn Văn Huyên, Tôn Thất Tùng, Hồ Đắc Di, Phan Anh… (tất nhiên không thể thiếu những Nguyễn Thái Học, Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh, Võ Nguyên Giáp, Trần Độ, Trần Đức Thảo, Nguyễn Hữu Đang, Nhất Linh, Vũ Trọng Phụng, Ngô Tất Tố, Nguyễn Tuân,Văn Cao, Hoàng Cầm, Hữu Loan… vân vân và vân vân…, và cả một lớp người trẻ hơn chút ít, nghĩa là hàng trăm danh nhân mà không thể kể ra đây một cách vội vàng sơ lược). Có thời kỳ nào mà tên tuổi danh nhân đáng ngưỡng mộ lại tập trung với mật độ như thế?

    Vì sao có “thế hệ vàng” ấy? Ông Dương Trung Quốc đã giải thích bằng cả đoạn như sau:

    Thế hệ vàng được hưởng một nền Quốc học rất căn bản, cho dù đến đầu thế kỷ thứ 20, nền Quốc học bắt đầu đứng trước nhiều thử thách và bị khủng hoảng do chế độ thuộc địa, nhưng về căn bản nó vẫn được duy trì cả trên lĩnh vực kiến thức và đạo lý. Quan niệm về dạy học là dạy làm người. Nền Quốc học lại được trải qua một thời kỳ của phong trào Duy Tân, là những trí thức yêu nước muốn hướng tới học hỏi cái mới.

    Trong bối cảnh ấy, thế hệ này lại được tiếp nhận nền văn minh phương Tây một cách khá căn bản, tinh thần là khoa học và dân chủ. Họ đã học được và vượt lên trên cái ràng buộc và hạn chế của nền giáo dục thuộc địa.

    Nền giáo dục và văn hóa Pháp, bên cạnh mục tiêu thực dân, là cả một nền văn minh. Chính nền văn minh ấy kích thích tinh thần dân tộc của họ vì họ nhận ra chân giá trị của nền văn hóa Pháp lại phục vụ cho chính sự nghiệp giải phóng dân tộc. Tư tưởng tự do, bình đẳng, bác ái rất thu hút. Chính thực dân Pháp cũng nói: con đường đi sang nước Pháp là con đường chống lại nước Pháp. Vì thế, bản chất nền văn minh lại trái ngược với mục tiêu thực dân”.

    Nói cách vắn tắt thì giai đoạn lịch sử ấy là điểm giao thoa, là sự cộng hưởng của những giá trị Việt Nam cổ truyền kết tinh từ phương Đông và sự du nhập quý như vàng của yếu tố mới là văn minh Tây phương.

    Sau đỉnh cực đại đó là một đoạn chuyển mà ông Dương Trung Quốc diễn tả: “Hai tố chất ấy lại được tồn tại trong một môi trường thúc giục của tinh thần yêu nước, tinh thần giải phóng dân tộc. Nó rơi vào thời điểm lịch sử là cuộc vận động giải phóng dân tộc VN, và đương nhiên ta phải nói tới ngọn cờ của Chủ tịch Hồ Chí Minh”. Nói khác đi, sau điểm cực đại của “thế hệ vàng” là điểm bắt đầu của một thời kỳ mới, là “kỷ nguyên” của Cách mạng Vô sản, của chủ nghĩa Cộng sản mà khởi đầu chỉ bằng phong trào giành Độc lập dân tộc (điều oái oăm chính là ở sự biến thái, lồng ghép, đánh tráo lịch sử này).

    Chính phẩm chất đỉnh cao mà Dương Trung Quốc gọi là “thế hệ vàng” ấy đã cung cấp sức mạnh, đã giải thích vì sao Đảng Cộng sản từ tay trắng mà giành được thắng lợi trước những đối thủ mạnh hơn mình nhiều lần. Về nguyên nhân của những thắng lợi ấy, tất nhiên còn phải kể đến trào lưu Cộng sản quốc tế và mục tiêu ban đầu là chỉ Độc lập dân tộc (còn cái đuôi xã hội chủ nghĩa mãi sau này mới hiện ra), nhưng yếu tố quyết định thắng lợi chủ yếu là do Đảng Cộng sản đã sử dụng được sức mạnh vô địch của “thế hệ vàng” của phẩm chất con người Việt Nam.

    Đến đây, một câu hỏi mới được đặt ra. Theo luận điểm chính thống thì đỉnh cao phẩm chất Việt Nam ấy được (bị) đồng hoá vào một hệ văn hoá, một hệ văn minh mới lạ là “Văn hoá Vô sản” (rồi kết tinh thành “Văn hoá Đảng”) được mô tả là tiên tiến, là tiên phong, là đưa những “con người mới xã hội chủ nghĩa” đến một thiên đường hạnh phúc, nên làm cho phẩm chất Việt Nam truyền thống kia được vun xới, được chắp cánh, được nhân lên nhiều lần, hơn hẳn tổ tiên. Nếu luận điểm này đúng thì “thế hệ vàng” mà ông Dương Trung Quốc nói kia không thể là đỉnh, là vàng gì hết vì sau đó nó còn tiếp tục cao hơn và quý giá hơn vàng nhiều lần kia mà? Đáng lẽ như vậy thì hiện nay đang là đỉnh mới đúng! Thế nhưng đùng một cái, hôm nay người ta buộc phải công nhận điều ngược lại: thế hệ chúng ta (bây giờ) đã mất gốc, mà mất hoàn toàn! Vậy cái gốc “vàng “ khi xưa đã được vun xới hay đã bị “đào tận gốc”?

    Thực tế “mất gốc” như ông Dương Trung Quốc công nhận (và chắc đa số trí thức tán thành) khiến cho toàn bộ luận điểm Mác-xít nói trên hoàn toàn bị phá sản! Nói cách khác, nền Văn hoá Vô sản mà chủ nghĩa Mác đem lại không hề cộng hưởng và nâng cấp cho Văn hoá dân tộc Việt như được tuyên truyền và ngộ nhận, mà trái lại nó làm triệt tiêu những tinh túy của phẩm chất Việt Nam.

    Hãy nhìn vào thực tiễn xã hội: Có bao giờ người Việt Nam lại thờ ơ trước nguy cơ vong quốc, nguy cơ bị đồng hoá như bây giờ? Có bao giờ sự thờ ơ trước đau khổ của đồng loại, sự đâm chém, băm chặt nhau dễ dàng như cơm bữa, sự nhố nhăng mất gốc, sự phô bày thú tính, sự vênh vác rởm đời, sự hành hạ người yêu nước một cách ngang nhiên, sự nịnh bợ kẻ nội xâm và ngoại xâm… lại được tôn vinh trước thanh thiên bạch nhật như bây giờ? Có bao giờ sự thành thật lại thua sự giả dối, người lương thiện lại sợ kẻ gian manh, người yêu nước lại bị lép vế, bậc thức giả lại bị cười khinh, công lý lại bị nhạo báng một cách thảm hại như bây giờ? Tất cả được bọc trong một bong bóng xà phòng khổng lồ ảo thuật, trông thấy hết nhưng để mà cười thôi!

    Ông Dương Trung Quốc nói “mất gốc hoàn toàn” tức là vong bản tuyệt đối! “Bản” ở đây là Dân bản, Quốc bản và Nhân bản. Mất hết những gốc ấy chẳng những không còn là người Việt mà cũng chẳng xứng làm người nói chung. Chỉ còn một thứ “bản” ngự trị là “tư bản” hoang dại, mà ông tổ Mác-xít đã đem nó chôn đi nhưng nó không chết, trái lại nó hiện về với một thân hình tật nguyền, nó quay lại báo oán, trả thù cái hệ thống đã vác cuốc xẻng đem chôn nó.

    Như vậy ta hiểu vì sao một cái gốc quý như vàng thế lại để bị “mất gốc hoàn toàn”. Cũng ý này, nhưng nhà sử học Dương Trung Quốc diễn tả kín đáo hơn: “Chúng ta đang khủng hoảng vì tiếp nhận quá nhiều giá trị ảo” (vâng, tiếp nhận một chủ nghĩa ảo tưởng thì toàn là giá trị ảo chứ gì nữa).

    Những ai càng tin vào “những giá trị ảo” thì khi vỡ mộng chính họ chứ không ai khác lại “thực dụng quá” (vẫn chữ của ông Dương Trung Quốc)! Từ chủ nghĩa ảo tưởng chạy sang chủ nghĩa thực dụng là điều dễ hiểu, cũng như một nền “Đức trị” mà bị phá sản thì sẽ vô “đạo đức” hơn ai hết. Đọc bài của ông Dương Trung Quốc, nếu hỏi ai là những người có “tư tưởng ấu trĩ, nhận thức thì hạn hẹp, lại bị chi phối bởi lợi ích” mà cứ làm “lãnh đạo” thì câu trả lời đã rõ như ban ngày.

    Dân tộc Việt Nam đã có một cái gốc quý như vàng, nhưng nay “mất gốc hoàn toàn” chính bởi sự ngộ nhận, coi cái gốc quý giá đó là di tích của thực dân phong kiến, bèn vừa muốn sử dụng sức mạnh quý giá có thật của nó để khởi nghiệp cho mình, lại vừa muốn diệt nó đi để nhập một cái gốc khác vào, đến khi biết cái gốc “ảo” này chỉ ăn hết chất màu của đất lại sinh ra toàn quả đắng, thì cái gốc cũ đã trốc hết rễ rồi, khó mà tái sinh.

    Thử hỏi chủ nghĩa nào đã chủ trương “đoạn tuyệt một cách triệt để nhất với những giá trị truyền thống”, chủ nghĩa nào đã hăm hở “đào mồ chôn”, chủ nghĩa nào đã gây cho Tố Hữu cảm hứng “thuở Anh chưa ra đời, trái đất còn nức nở, nhân loại chưa thành người”? Kẻ dám phủ nhận cả Nhân loại trước khi mình ra đời ắt là kẻ mất gốc tuyệt đối, ắt không thể thành người, tự nhiên thành quỷ, muốn hồi sinh kiếp người thật không đơn giản.

    Về lối ra, ông Dương Trung Quốc nói “Tôi không tán thành phải quay về cái cũ…”. Đúng như vậy, dù có quý cái “thế hệ vàng” trước đây đến đâu cũng chẳng có cách nào phi thực tế để kéo lịch sử giật lui. Trong lý luận tôi thường nói phải “đằng sau quay” là nói về nhận thức, phải truy nguyên về cái gốc xuất phát của sai lầm, ở chỗ rẽ đã qua, để thiết kế lại từ chỗ sai lầm ấy, trong hoàn cảnh mới hôm nay. Chúng ta biết trọng và tiếc cái vốn quý mà ta đã tự đánh mất là để có bài học khôn ngoan cho hôm nay, chứ nhất định chúng ta không biến mình thành những anh chàng bó tay hoài cổ, nhấm nháp quá khứ.

    Nhân loại chắc chắn trường tồn nên NHÂN BẢN không thể bị chôn vùi, DÂN BẢN - VIỆT BẢN là bất khả diệt nên còn một tế bào Việt cũng sẽ hồi sinh. Từ lời cảnh báo “mất gốc hoàn toàn” vô cùng bổ ích mà ta đã dũng cảm nói ra hôm nay nhất định sẽ đánh thức những tế bào đang bị ức chế, vùi sâu. Xin đừng tránh né. Sự dũng cảm là liều thuốc hồi sinh bắt buộc, để nước non này lại nẩy sinh muôn ngàn những chồi xanh lá biếc, sau một quãng dài ngủ đông.

    Hà Sĩ Phu
    10-2-2011

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    4 phản hồi

    Năm mới, thấy sĩ phu Bắc Hà còn viết khỏe thế là cũng mừng cho bác. Tuy nhiên, có vài ý gửi tới bác như sau:
    1/ Để đánh giá vì sao thăng hoa thành vàng, vì sao mất gốc, có lẽ phải nhìn lại cả một quá trình lịch sử của nước Việt. Có thể thấy thế này:
    - Tại sao có thời Lý - Trần oanh liệt thế? Vì không dùng Nho giáo làm tư tưởng chính thống mà là dùng tư tưởng Phật giáo làm chính thống.
    - Tại sao đầu thế kỷ 20 lại có thế hệ vàng? Vì tiếp thu tư tưởng văn minh và khoa học kỹ thuật hiện đại cùng tác phong lề lối làm việc của châu Âu, cụ thể là của Pháp.
    - Tại sao có nhiều trí thức thế hệ vàng tham gia, các chỉ huy lãnh đạo được đào tạo bài bản mà Việt Nam Cộng Hòa lại thua? Một trong những nguyên nhân cốt tử là xã hội Việt Nam Cộng Hòa đã không thoát hẳn được lề thói Nho giáo phong kiến cổ hủ. Có thể lấy ví dụ: Khăn xếp áo dài, xưng con bẩm cụ, ghế chạm rồng phượng, làm nhà xây dinh thự chọn hướng chọn ngày chọn thế theo địa lý phong thủy Trung Hoa, tướng tá quan chức và người dân mê tín dị đoan ... Xã hội Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ngày ấy thì không thế, tác phong nền nếp và văn hóa cộng sản mạnh mẽ hơn, là một trong những lý do làm nên chiến thắng. Tuy nhiên, xã hội Việt Nam bây giờ lại đi vào vết xe đổ ấy, bị lề thói Nho giáo, nền nếp Trung Hoa chi phối. Xưa VNCH mất về tay VNDCCH. Nay có nguy cơ Việt Nam mất về Trung Quốc.
    Rõ ràng, cái sự mất gốc vong bản có nguyên nhân sâu xa tư sự lộng hành lấn lướt của văn hóa Trung Hoa và nền nếp tư duy Khổng giáo.
    2/ Không nên đổ hết sự suy đồi hỏng nát là do chủ thuyết cộng sản của ông Các Mác.
    Chủ thuyết của ông Mác không hoàn toàn sai, ít nhất là ở phần về tiến trình tiến hóa của lịch sử phát triển xã hội loài người. Vấn đề nằm ở chỗ, người ta muốn mau chóng đi theo tiến trình ấy bằng những phương cách phi tự nhiên, duy ý chí. Sốt sột muốn nhanh có cơm ăn, đốt lửa đùng đùng hết cỡ tưởng rằng thế là mau sôi mau chín, kết quả tất lẽ dĩ ngẫu là nồi cơm trên sống sượng, giữa nát bét, dưới khê nồng khê nặc. (Ai đã từng nấu cơm bằng củi bằng rơm chắc thấy rõ điều này).
    Thêm nữa, những nước áp dụng triệt để học thuyết của Mác nhìn chung là những nước nông nghiệp lạc hậu, phong kiến hoặc nửa phong kiến. Đương nhiên, sẽ dã man và chậm tiến hơn các nước tư bản giàu có văn minh.
    Cho nên, để khắc phục được sự thua kém lạc hậu đến mất gốc hoàn toàn, thay vì cứ đổ tại ông nọ ông kia, phải đổi ngay nếp nghĩ cách làm đi, theo Tây, theo Nhật, theo Mỹ là những nước tiến bộ văn minh. Nếp sống tác phong phải theo hướng công nghiệp hiện đại, cách nghĩ phải theo hướng khoa học văn minh, việc làm hoạt động theo lề lối kinh tế thị trường. Vứt mịa nó hết đi những đạo đức sáo rỗng hình thức, lý tưởng xa vời (*), vứt mịa nó những cúng kiến tuần rằm mồng một, lễ phủ nọ, lạy đền kia. Bỏ phứt mia nó cái tết AL, hay ít nhất cũng coi nhẹ nó. Nếu không ăn tết Tây hoàn toàn như người Nhật thì ít nhất cũng chuyển qua ăn tết to vào một dịp khác, chẳng hạn Tết Độc Lập 2/9.
    3/ Sự vỡ mộng không hẳn vì lý tưởng sai mà là vì lý tưởng nó quá xa so với khả năng của mình. Ví dụ, có ít tiền, lương tháng không nhiều, tài năng hạn chế mà lại cứ mơ xây được lâu đài to như phủ chủ tịch, đất rộng vài ngàn mét vuông, tọa lạc giữa trung tâm Hà Nội. Về mặt lý thuyết thì không hẳn sai (biết đâu đào được kho vàng?), ước mơ không phải là không chính đáng. Nhưng thực tế rõ là vô cùng khó có thể thực hiện được. Hay như việc đóng bè tre vượt biển từ Việt Nam qua Mỹ, về lý thuyết thì có thể được, nhưng thực tế thì sự thành công là rất rất mong manh. Thực tế, phải vượt biên qua Philipin, qua Indonesia, qua Malaysia cái đã, rồi mới tìm cơ qua Mỹ.
    Bảo rằng "nhất quyết chỉ có đóng bè tre bơi thẳng sang Mỹ mới được" là sai, nhưng cho rằng không thể vượt biên qua Mỹ cũng không đúng. Phải theo từng giai đoạn hợp thực tế và khả năng của mình. Xây dựng chủ nghĩa xã hội cũng thế.

    --------------------------
    Theo quan điểm cá nhân tôi: Lý tưởng cộng sản tuy không hẳn là sai nhưng xa vời quá. Vậy thì, hãy cứ thuận theo qui luật tự nhiên mà làm, hãy dồn sức xây dựng chế độ dân chủ nhân quyền cho nó tốt đã, giàu mạnh văn minh đã. Sau đấy, hãy nghĩ đến tiến lên cộng sản đâu có muộn. Đi tắt đón đầu đốt cháy giai đoạn khác gì "cơm sôi to lửa muôn đời bị khê".

    Trời, kiếm đâu xa việc vong bản, mất gốc ?

    Cứ nhìn vào hiến pháp 1992 do Nông Đức Mạnh ký thì thấy ngay thôi :
    "Dưới ánh sáng của chủ nghĩa Mác - Lê nin"

    Có chữ nào mang âm hưởng của tính Việt đâu ?

    Hiến pháp này do đảng CSVN áp đặt chứ có người dân nào bỏ phiếu tán thành chủ nghĩa Mác - Lê nin trong HP đâu ? (phúc quyết HP của dân)

    @ It is me :
    Tôi cho rằng Ý kiến của bạn “It is me” không làm thay đổi gì về nội dung mà 2 ông DTQ và HSP đề cập, vì :
    - khi nói “thế hệ vàng” cuối thời Pháp thuộc là nói chung cả nước Việt nam, các danh nhân, học giả là ở cả 3 miền.
    - đến ngày nay, nhận xét của 2 ông là “hoàn toàn” bị mất gốc cũng là nhận xét chung trong cả nước, không phải chỉ nhận xét ở miền Bắc.
    - sự có mặt của chính quyền miền Nam là nằm trong “đoạn giữa” tức đoạn chiến tranh, dù có 3-4 lực lượng gì tham gia thì cục diện tổng quát vẫn là phe Cộng sản thắng, và đó là nguyên nhân làm tha hoá cả nước, cả nước bị nạn “vong bản” vì ảnh hưởng của một Chủ thuyết sai lầm.
    Nếu có sự khác nhau giữa 2 miền thì ta có thể nói: miền Nam bị “Cộng sản hoá” chậm hơn, ít hơn nên phần nào ít chịu tác hại của Cộng sản hơn. Có một chút khác nhau là ở chỗ đó thôi (tất nhiên nếu chính thể ở miền Nam thắng thì vấn đã khác). Nhưng điều đó không làm thay đổi cái kết luận tổng quát là : Trước đây con người Việt Nam đã có những đặc điểm tốt, đã có “thế hệ vàng”, nhưng do một chủ nghĩa ngoại lai vốn “mất gốc” ngự trị, nên làm xã hội và con người sa đoạ. Đề cập thêm vai trò của chính quyền miền Nam vào chỗ này cũng không làm thay đổi gì nội dung thảo luận.

    Hai bác Hà Sĩ Phu & Dương Trung Quốc dã chỉ nhìn thấy có 2 thể chế: thời Pháp thuộc, và triều đại Hồ chí Minh & hậu Hồ (đảng Cộng sản) hiện nay. Hai bác đã (vô tình hay cố ý ?) quên hẳn rằng từ 1954 đến 1975 có một thể chế chính trị nữa ở Việt nam; đó là Việt nam Cộng hoà ở miền Nam Việt nam và ảnh hưởng của nó. Nhưng tui thông cảm: đây là vấn đề nhạy cảm trong tình thế hiện nay ở nơi hai bác ở, với hệ thống công an, A25, vân vân . Ông Cù Huy Hà Vũ thì thành thực, sòng phẳng hơn khi ổng so sánh tham nhũng thời Việt nam Cộng hoà với triều đại Hồ chí Minh và hậu Hồ hiện nay. Nhưng tui cũng tin tưởng vào thế hệ mới như Nguyễn Văn Đại, Cù Huy Hà Vũ, Nguyễn Tiến Trung, ... Thế hệ này đang hình thành, thể hiện và sẽ thay thế đám mất gốc đào tạo bởi triều đại Hồ và hậu Hồ hiện nay.