Nguyễn Gia Kiểng - Ngoại lệ Việt Nam: Chế độ cộng sản sẽ còn kéo dài tới bao giờ?

  • Bởi Admin
    02/02/2011
    12 phản hồi

    Nguyễn Gia Kiểng

    Không phải chỉ những người đối lập mà ngay các trí thức có danh phận hàng đầu của chế độ họp để góp ý cho đại hội đảng cũng khẳng định từ Đại Hội XI, Đảng và chế độ cộng sản sẽ bắt đầu giai đoạn sụp đổ. Đại Hội XI của Đảng Cộng Sản Việt Nam vừa qua đã xác nhận điều đó.

    Đại Hội XI đã không đạt tới được đồng thuận về một định hướng hay một dự án nào, mà chỉ nhắc lại một cách ngược ngạo là tiếp tục "phát triển Cương lĩnh năm 1991 để làm nền tảng chính trị, tư tưởng cho mọi hoạt động của Ðảng và Nhà nước". Nhưng cương lĩnh năm 1991 là gì? Đó là quyết định của Đại Hội 7 chặn đứng đà đổi mới chính trị khởi đầu từ Đại Hội 6 cuối năm 1986 để cầu hòa với Trung Quốc và rập khuôn theo Trung Quốc với hy vọng có thể cố thủ và tồn tại. Nhưng làm sao có thể tiếp tục một chính sách đã được quyết định cách đây 20 năm trong một thế giới thay đổi dồn dập hàng ngày? Không một chính đảng nào trên thế giới, dù là đảng cầm quyền hay đảng đối lập, có thể tuyên bố như thế mà không sợ biến thành trò cười, Đảng Cộng Sản Việt Nam đúng là một ngoại lệ. Đồng thuận duy nhất của đại hội, và được nhắc lại trong mọi phát biểu, là phẩm chất cán bộ của đảng đã sa sút nghiêm trọng. Trong một tình trạng như vậy dĩ nhiên vấn đề nhân sự lãnh đạo không thể giải quyết. Việc chỉ định Tổng Bí Thư và Bộ Chính Trị vừa qua không phải là giải đáp mà chỉ chứng tỏ sự thiếu vắng giải đáp, hay tệ hơn nữa một bế tắc không lối thoát. Liên minh Đỗ Mười – Lê Đức Anh, đã bảo đảm sự ổn định chính trị trong đảng trong hai thập niên qua, không còn nữa. Hai ông này đã chia rẽ nhau và đều đã bất lực. Ông Lê Đức Anh không đưa được ông Nguyễn Tấn Dũng vào chức Tổng Bí Thư, cũng như ông Đỗ Mười không áp đặt được ông Trương Tấn Sang, và cả hai ông đều không ngăn cản được ông Nguyễn Phú Trọng.

    NguyenPhuTrong.jpg
    Nguyễn Phú Trọng, một Tổng Bí Thư hình thức bởi vì không ai đủ hậu thuẫn và uy tín để giữ chức vụ này

    Nhưng không phải vì thế mà ông Trọng trở thành người lãnh đạo thực sự của đảng, ông là người có số phiếu thấp trong số những người được bầu vào Bộ Chính Trị và chỉ là một Tổng Bí Thư hình thức bởi vì không ai đủ hậu thuẫn và uy tín để giữ chức vụ này. Thực ra ĐCSVN không có Tổng Bí Thư. Mặc dù nó vẫn tiếp tục đàn áp thô bạo chế độ cộng sản chỉ còn là một hư cấu và sẽ không thể thích nghi với trật tự thế giới hậu khủng hoảng đang hình thành. Nó thiếu cả ý kiến và lẫn lãnh đạo. Nó không có ý kiến vì nó không thể có ý kiến, vì mọi ý kiến đúng đắn đều dẫn tới kết luận hiển nhiên là chế độ này vô lý và phải chấm dứt. Nó không thể có những người lãnh đạo đúng nghĩa vì bộ máy sàng lọc của nó đã loại bỏ hết những con người có trí tuệ và đạo đức.

    Tình trạng xuống cấp của ĐCSVN là hậu quả tự nhiên của chính sách mở cửa kinh tế. Một chế độ độc tài mở cửa về kinh tế bắt buộc phải bị đào thải. Đào thải sớm hay muộn và nhường chỗ cho cái gì là một câu hỏi khác nhưng bắt buộc phải bị đào thải. Tại sao? Bởi vì nó áp đặt lên một xã hội ngày càng có sức mạnh và được thông tin đầy đủ những chịu đựng ngày càng không thể chấp nhận. Mất tự do thực ra đồng nghĩa với mất phẩm giá và tư cách con người, đó là những điều mà người ta chỉ có thể quên đi trong một hoàn cảnh thiếu thốn cùng cực. Chế độ độc tài áp đặt sự nhục nhằn đó nhân danh mục tiêu phát triển kinh tế, trong nhiều trường hợp chỉ có nghĩa là ra khỏi tình trạng nghèo khổ mà chính nó là nguyên nhân. Vì thế nó phải bị đào thải dù thành công hay thất bại trong mục tiêu này. Nếu thất bại nó không có lý do gì để tiếp tục tồn tại, nếu thành công nó đã làm xong sứ mệnh và cũng phải chấm dứt vì xã hội đã thay đổi trong quá trình mở cửa. Kinh tế càng tăng trưởng, cuộc sống càng thoải mái hơn thì sự tước đoạt tự do càng khó chấp nhận; những nhu cầu vật chất ngày càng nhường chỗ đứng ưu tiên cho những đòi hỏi tinh thần, con người càng bớt lệ thuộc vào chính quyền và càng có khả năng đòi hỏi hơn. Họ cũng được thông tin đầy đủ hơn để nhận ra sự tầm thường của những người cầm quyền. Người ta cũng ngày càng rời nông thôn về thành thị, mội trường tự nhiên của dân chủ. Chính sách mở của kinh tế đã được thực hiện từ gần ba mươi năm rồi, trong hầu hết mọi quốc gia thời gian đó đủ để chế độ độc tài bị đào thải nhường chỗ cho một chế độ dân chủ. Tuy vậy, theo một nghiên cứu của tổ chức Freedom House, mà chúng ta chỉ có thể đồng ý, Việt Nam đã không hề có tiến bộ nào đáng kể về mặt dân chủ trong hai mươi năm qua. Chúng ta quả là một ngoại lệ, và một ngoại lệ đáng buồn. Tại sao?

    Cần gạt ngay một lập luận hoàn toàn sai theo đó Việt Nam chưa có dân chủ vì dân trí Việt Nam kém. Tất cả các nước dân chủ đều đã có dân chủ vào lúc dân trí của họ còn rất thấp so với Việt Nam hiện nay. Mỹ và các nước Châu Âu đã thiết lập chế độ dân chủ vào lúc mà đa số dân chúng là những nông dân không biết đọc biết viết, chưa có radio, tivi, điện thoại di động, internet, cũng chưa có ngay cả xe đạp, xe máy. Dân chủ là một bước tiến trí tuệ do các trí thức đề xướng và thiết lập. Các nước dân chủ đã có dân chủ nhờ có được một đội ngũ trí thức xứng đáng. Thay vì biện luận một cách xúc phạm là dân trí Việt Nam thấp, trí thức Việt Nam nên lương thiện nhìn nhận là chính mình kém. Trí thức Việt Nam quả là một ngoại lệ. Và một ngoại lệ lớn đến nỗi cần phải đặt lại câu hỏi chúng ta có những trí thức đúng nghĩa hay không.

    Người trí thức dĩ nhiên cần có một vốn liếng hiểu biết nào đó, nhưng đó không phải là điều quan trọng nhất. Điều quan trọng hơn nhiều là người trí thức phải biết tự đặt cho mình những vấn đề và tự tìm giải đáp của mình cho những vấn đề đó. Bộ nhớ của một máy vi tính có thể chứa đựng rất nhiều kiến thức và lý luận cao siêu nhưng không phải vì thế mà chiếc máy vi tính là một trí thức. Cái không bình thường của đa số trí thức Việt Nam là chỉ học để có kiến thức, trong nhiều trường hợp chỉ là để được coi là có kiến thức qua bằng cấp, và để lặp lại những lý luận có sẵn, với mục đích là để có được một địa vị trong xã hội. Suy nghĩ độc lập, bằng cái đầu của chính mình, không phải là sở trường của trí thức Việt Nam. Nhưng nói rằng trí thức Việt Nam chỉ có kiến thức chứ không biết suy nghĩ cũng không đúng hẳn. Có ít nhất một lãnh vực mà trí thức Việt Nam hầu như không biết gì mà còn có những thành kiến rất sai, đó là chính trị, tư tưởng chính trị cũng như đấu tranh chính trị. Không phải là vì chính trị khó mà là vì trí thức Việt Nam không chịu học hỏi. Sự từ chối học hỏi này có nguyên nhân từ di sản văn hóa và lịch sử. Trong suốt dòng lịch sử kẻ sĩ, rồi trí thức, coi học là cốt để làm quan hay để có được một địa vị trong xã hội, nói cách khác để làm dụng cụ cho một quyền lực sẵn có chứ không phải để thay đổi xã hội. Trong cách học này không có chỗ cho chính trị, bộ môn có mục đích phê phán và thay đổi chính quyền. Trong cách học này người ta chỉ cần nhắc lại một cách thật đúng những gì được coi là chính thống. Thêm vào đó trí thức Việt Nam lại còn là sản phẩm của một hệ thống giáo dục và đào tạo trong đó nhưng người thi đậu những khóa thi thơ phú được bổ nhiệm làm quan cai trị dù tuyệt đối không biết gì về chính trị. Hệ thống này để lại một di sản mà có lẽ chỉ có trí thức Việt Nam và Trung Quốc không thấy là kỳ cục, đó là tưởng rằng có thể làm chính trị mà không cần học học chính trị. Sự kiện ngày nay nhiều người có bằng thạc sĩ kinh doanh – hay nha sĩ hay cử nhân hóa học – tự cho là có thẩm quyền để nói về chính trị, thậm chí có thể làm bộ trưởng, là một tiếp nối tự nhiên của truyền thống bổ nhiệm những cử nhân, tiến sĩ ngày xưa làm quan chức. Do trực tiếp chịu đựng hậu quả của những "chính trị gia" như thế quần chúng Việt Nam phần nào cũng bị nhiễm độc. Trong một thời gian, đặc biệt là tại hải ngoải, không thiếu gì những người không có bất cứ một sự hiểu biết nào hay một kinh nghiệm nào về chính trị thình lình hứng chí nhảy ra thành lập tổ chức đấu tranh. Nếu có một điều cần được nghĩ lại thì đó là chính trị đòi hỏi một cố gắng học hỏi rất quan trọng. Không học thì không biết là điều đúng cho mọi trường hợp nhưng càng đúng cho chính trị.

    Di sản lịch sử còn để lại cho trí thúc Việt Nam một tật nguyền nghiêm trọng khác: nguỵ biện. Do tập quán trong hàng nghìn năm phải phục tùng tuyệt đối và không điều kiện các vua chúa, sau đó là Đảng, không những phải chấp hành mà còn phải ca tụng những mệnh lệnh bất nhân bất nghĩa, kẻ sĩ, rồi trí thức, Việt Nam có thể vì những lý do hoàn toàn cá nhân, như quyền lợi hoặc khiếp sợ, chấp nhận những chọn lựa mà trong thâm tâm mình cũng biết là sai rồi biện luận để bào chữa cho chúng như là những chọn lựa đúng. Tập quán tệ hại này ngăn cản mọi thảo luận nghiêm chỉnh.

    Một thí dụ điển hình về sự hụt hẫng của trí thức Việt Nam là có rất nhiều người cho rằng con đường đúng nhất để dân chủ hóa đất nước là phục tùng chế độ, hợp tác với nó và cải tiến nó từ bên trong. Lập trường này lôi kéo được đa số trí thức Việt Nam vì sự tiện nghi của nó, nhưng nó sai hoàn toàn. Thay đổi xã hội là một vấn đề đã được nghiên cứu rất đầy đủ và mọi nghiên cứu đều kết luận ngược lại. Muốn thay đổi một chính quyền xấu thì phải phản kháng nó, phản kháng một cách ôn hòa và xây dựng nếu có thể được nhưng phải phản kháng. Phục tùng và hợp tác với một chế độ bạo ngược và tham nhũng chỉ củng cố nó chứ không thay đổi được nó, trái lại người ta sẽ đánh mất chính mình và bị lưu manh hóa. Hàng triệu kẻ sĩ Trung Quốc và Việt Nam trong hàng ngàn năm đã quỳ mọp trước các vua chúa để tâu đạo lý thánh hiền nhưng đã không thay đổi được các chế độ quân chủ mà chỉ khiến chúng trở thành khắc nghiệt hơn với thời gian. Nếu trí thức Việt Nam chịu bỏ ra một chút thời giờ, chỉ một chút thời giờ thôi, để học hỏi và suy nghĩ thì cái lập luận "hợp tác để cải tiến từ bên trong" đã không thể có.

    Một thí dụ khác là lập luận cho rằng cứ gác lại những đòi hỏi chính trị và tập trung cố gắng vào phát triển kinh tế (và như vậy nên hợp tác với chính quyền hoặc ít nhất không phản đối) rồi tăng trưởng kinh tế tự nó sẽ đưa đến dân chủ. Lập luận này có vẻ có bài bản vì quả nhiên trong nhiều trường hợp người ta đã thấy dân chủ và phát triển đi song song với nhau và mọi nghiên cứu đều ghi nhân điều này. Nhưng chỉ cần nhìn sâu hơn một chút thôi thì ta cũng thấy đây hoặc là một nguỵ biện hoặc là một ngộ nhận. Dân chủ đưa đến phát triển kinh tế là điều chắc chắn không ai chối cãi và mọi nghiên cứu đều xác nhận, nhưng điều ngược lại không đúng; nói rằng tăng trưởng kinh tế đưa đến dân chủ là lẫn lộn nguyên nhân với hậu quả. Điều chắc chắn là mở cửa kinh tế, và tăng trưởng kinh tế sau đó, tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc đấu tranh giành dân chủ, như phần trên của bài này đã trình bày, với điều kiện là có tranh đấu. Nếu không có đấu tranh chính trị đủ mạnh thì cũng không có gì thay đổi cả. Có nhiều triển vọng là những người sử dụng lập luận này không thành thực mà chỉ ngụy biện bởi vì trong hơn hai mươi năm qua mặc dù kinh tế đã tăng trưởng nhiều nhưng chế độ độc tài vẫn không thay đổi và sự kiện này không hề làm họ phiền lòng. Sự lố bịch của lập luận "tăng trưởng kinh tế tự nó đưa đến dân chủ" thể hiện rõ ràng trong trường hợp mà các nhà nghiên cứu chính trị gọi là "tai họa dầu lửa" (the oil curse) các nước có dầu lửa tăng trưởng kinh tế rất nhanh chóng nhưng đều là những nước không dân chủ, đôi khi, như tại Nga và Venezuela, ngân khố dồi dào còn cho phép chính quyền bóp nghẹt dân chủ. Một lần nữa, nếu trí thức Việt Nam chịu bỏ chút thời giờ để đọc những nghiên cứu về dân chủ, lập luận này đã bị gạt bỏ từ lâu rồi.

    Các nghiên cứu về dân chủ và tiến trình dân chủ hóa rất nhiều. Điều này dễ hiểu vì dân chủ và dân chủ hóa là những vấn đề quan trọng nhất trên thế giới từ một nửa thế kỷ qua, đồng thời cũng là những vấn đề quyết định tương lai của mỗi quốc gia. Không thể và cũng không cần đọc hết những nghiên cứu này bởi vì tựu chung, qua những cách tiếp cận và lý luận khác nhau, chúng đều đi đến những kết luận giống nhau. Điều này có tầm quan trọng đặc biệt vì chứng tỏ những kết luận này đáng được coi là chắc chắn. Những kết luận này chúng ta đều có thể cảm nhận hoặc dự đoán, đóng góp của những nghiên cứu này là chúng được thực hiện một cách qui mô và khoa học, dựa trên những dữ kiện cụ thể trong rất nhiều quốc gia thuộc những văn hóa rất khác nhau cho nên những kết luận của chúng không phải chỉ là những suy luận mà phải được coi là những sự thực đàng sau các sự kiện và số liệu.

    Các nghiên cứu khác nhau ở mục tiêu và cách tiếp cận. Thí dụ như cuốn Dân chủ và Dân chủ hóa (Democracy and Democratization) của Georg Sorensen (1) nhằm trình bày và giải thích khái niệm dân chủ, những lý do đưa đến những thăng trầm của trào lưu dân chủ trên thế giới và ảnh hưởng của dân chủ trên kinh tế, văn hóa và quan hệ quốc tế. Kết luận là dân chủ đưa đến phát triển về mọi mặt kinh tế, văn hóa, xã hội và cũng rất cần thiết cho hòa bình trên thế giới.

    Nghiên cứu nổi tiếng của Seymour Martin Lipset (2) đã cho thấy có một quan hệ mật thiết giữa phát triển và dân chủ, theo đó tăng trưởng kinh tế tuy không phải là điều kiện cần, cũng không phải là điều kiện đủ, để có dân chủ nhưng là một yếu tố rất thuận lợi cho tiến trình dân chủ hóa.

    Nghiên cứu rất qui mô của tổ chức Values Survey về sự chuyển hóa từ độc tài sang dân chủ do Ronald Inglehart và Christian Welzel (3) hướng dẫn đã tổng hợp một khối lượng dữ kiện khổng lồ trên hơn 80 quốc gia để đi tới một kết luận chắc chắn là sự khá giả vật chất luôn luôn có tác dụng đẩy mọi xã hội, trong tất cả mọi nền văn minh, về cùng một hướng là tăng cường tự do cá nhân, kích thích sự hình thành của các tổ chức trong xã hội dân sự, giải phóng quần chúng khỏi sự chi phối của chính quyền và thúc đẩy họ kết hợp với nhau đòi dân chủ.

    Một nghiên cứu lớn khác của O'Donnell và Schmitter (4), đặt trọng tâm vào giới cầm quyền, cho thấy là tăng trưởng kinh tế không những chỉ tăng sức mạnh và ảnh hưởng của xã hội dân sự mà còn làm tan vỡ tập đoàn cầm quyền do xung đột giữa khuynh hướng cởi và khuynh hướng thủ cựu. Cả hai phe đều muốn cứu chế độ nhưng sự xung đột của họ đưa tới hậu quả là khiến chế độ bị phân hóa và sụp đổ nhanh hơn. Điều cần được nhấn mạnh ở đây là hiện tượng tự tách hay tự vỡ của đảng cầm quyền là hậu quả của những áp lực đến từ xã hội chứ không phải tự nhiên mà có. Như vậy không thể chờ đợi đảng cộng sản tự vỡ hay tự tách nếu không có chống đối từ bên ngoài.

    Cũng có rất nhiều những nghiên cứu, ít quy mô và nặng tính lý luận hơn, về phương thức đấu tranh cho dân chủ. Một thí dụ là cuốn Từ Độc Tài Đến Dân Chủ (From Dictatorship to Democracy) của Gene Sharp đã được Thông Luận dịch ra tiếng Việt. Cũng nên kể cuốn sách rất nên đọc của Larry Diamond, The Spirit of Democracy (5), tóm lược một cách khá đầy đủ những công trình nghiên cứu lớn về cuộc đấu tranh xây dựng dân chủ trên thế giới.

    Một người bạn sau khi miệt mài nghiên cứu nhiều tác phẩm về đấu tranh xây dựng dân chủ, kể cả những tác phẩm kể trên, nói với tôi: "Những cuốn sách này không dùng được cho Việt Nam, chúng đều dựa trên tiền đề là đã có sẵn một xã hội dân sự gồm những tổ chức không lệ thuộc nhà nước độc tài, đó không phải là trường hợp của Việt Nam, chúng ta chưa có những tổ chức không lệ thuộc chính quyền, chúng ta chưa có xã hội dân sự". Quá đúng! Các nhà nghiên cứu này đều cho rằng trong bất cứ một xã hội nào, dù dưới một chế độ độc tài khắc nghiệt như thế nào, cũng vẫn có những tổ chức không lệ thuộc chính quyền. Họ không thể tưởng tượng được là có thể có một quốc gia như Việt Nam.

    Chúng ta là một ngoại lệ, và một ngoại lệ quá lớn. Kết hợp thành tổ chức, trừ những liên kết nghề nghiệp nhỏ và có mục tiêu rất cụ thể, luôn luôn do các trí thức chủ xướng. Trí thức Việt Nam không bình thường.

    Đến đây chúng ta đã có câu trả lời cho câu hỏi "Chế độ cộng sản sẽ còn kéo dài tới bao giờ?". Nó sẽ còn kéo dài chừng nào Việt Nam vẫn còn là một ngoại lệ, trí thức Việt Nam vẫn không bình thường. Nó có thể phân hóa, ruỗng nát, thậm chí ngã gục trên chính quyền nhưng nó vẫn còn đó nếu không có một sức mạnh nào để kéo thi thể nó đi chỗ khác.

    Một cách tích cực ta cũng có thể nói là chế độ cộng sản sẽ nhường chỗ cho một chế độ dân chủ khi trí thức Việt Nam không còn là ngoại lệ, nghĩa là đã ý thức được rằng điều kiện bắt buộc để giành thắng lợi cho dân chủ là phải xây dựng một xã hôi dân sự đúng nghĩa, và cố gắng kết hợp với nhau thành những tổ chức chính trị và phi chính trị không lệ thuộc chính quyền. Cũng như quyền tự do ngôn luận, quyền tự do kết hợp là quyền mà mọi tập đoàn toàn trị đều muốn cấm tuyệt đối nhưng không cấm được vì không có biên giới rõ rệt giữa những kết hợp tự nhiên bắt buộc phải có trong một sinh hoạt kinh tế thị trường và những kết hợp có tiềm năng tạo áp lực thay đổi chế độ. Ta có thể từng bước mở rộng không gian chính trị ngoài chính quyền. Sở dĩ cho đến nay chúng ta chưa có những tổ chức chỉ vì trí thức Việt Nam chưa nghĩ đến chứ không phải là vì không thể có. Hãy cứ đặt kết hợp và đấu tranh giành quyền tự do kết hợp thành những ưu tiên hàng đầu rồi chúng ta sẽ nhìn thấy phải làm như thế nào để đạt kết quả. Xã hội Việt Nam đã chín muồi cho một cuộc chuyển hóa về dân chủ, trí thức Việt Nam cũng đã tích lũy một vốn kiến thức phong phú và đa dạng rất đầy đủ, chỉ thiếu văn hóa và phản xạ tổ chức, điều mà chúng ta có thể học hỏi không khó, sau đó tình hình có thể thay đổi nhanh chóng. Ngay lúc này điều mà chúng ta có thể làm ngay là yểm trợ trực tiếp hoặc gián tiếp những cố gắng đấu tranh có tổ chức, và nếu vì một lý do nào không thể hưởng ứng các cố gắng đó thì cũng đừng biện luận rằng có thể đấu tranh cho dân chủ mà không cần kết hợp hoặc chưa phải lúc kết hợp. Đấu tranh chính trị bao giờ cũng là đấu tranh có tổ chức và không bao giờ là đấu tranh cá nhân cả, và chúng ta đã quá chậm trễ.

    Một lời sau cùng: trình độ tiến hóa của một dân tộc được đánh giá theo mức độ phát triển của xã hội dân sự, nghĩa là số lượng và phẩm chất của các tổ chức ngoài chính quyền. Về điểm này thì dân tộc ta, nhất là lớp trí thức của chúng ta, dù đã đạt tới một trình độ kiến thức cao hơn cả một số dân tộc đã có dân chủ, vẫn còn quá tụt hậu. Đây là một điều rất không bình thường mà chúng ta phải khắc phục. Phải chấm dứt ngoại lệ Việt Nam để trở thành một dân tộc văn minh, xứng đáng có tự do và dân chủ.

    Nguyễn Gia Kiểng

    Ghi chú:

    Các nghiên cứu nên đọc:

    1. Georg Sorensen, Democracy and Democratization.
    2. Seymour Martin Lipset, Some Social Requisites of Democracy: Economic Development and Political Legitimacy.
    3. Inglehart and Welzel, Modernization, Cultural change and Democracy.
    4. O'Donnell and Schmitter, Transitions from Authoritarian Rule.
    5. Larry Diamond, The Spirit of Democracy, the Struggle to build Free Societies throughout the Word.

    © Thông Luận 2011

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    12 phản hồi

    Phản hồi: 

    [quote=GS Nguyễn Minh Thuyết]

    Bác Gian Nan có thêm tin tức gì xin nhanh chóng thông báo.
    Mong các đại biểu, các nhân sĩ đóng góp công sức.
    Kỳ bầu QH khóa tới, các bác phải nghiên cứu các hoạt động của các đại biểu có thể, ngay từ bây giờ. Ai không có tâm, không có tài, dứt khoát loại bỏ chúng

    [/quote]

    Đồng ý với quote trên. Cần vận động báo chí trong và ngoài nước làm hai việc: 1) vận động ủng hộ các dân biểu làm tốt công tác dân cử (thì dụ chất vần tốt) để lôi kéo họ về phía mình; 2) chỉ ra các đại biểu chưa làm tốt công tác. Trong việc phê phàn, phải hết sực công minh, tránh các phê phàn sai lầm hay do bè phái. Hơn nửa phải luôn luôn nhớ nguyên tằc trành threatening vì nó có thể đưa đến phản ứng tiêu cực của chính quyền.

    Một việc khác củng quan trọng là vận động: 1) để làm tăng số người được phép ứng cử cho mối chức vụ để gia tăng sự lựa chọn; 2) để minh bạch hóa việc kiểm phiếu.

    Phản hồi: 

    [quote=Nên lập hội công khai và hợp pháp] Nên lập hội công khai và hợp pháp.

    Bác Gian Nan và các bác cố gắng vận động các nhân sĩ. Các bác Tran Thi Ngự và PVĐ có thể tham gia vận động các đại biểu như bác Thuyết không bởi các bác có thể về VN công khai dễ dàng ? Bác PVĐ thân với chính quyền thì lại càng dễ

    Tại sao không mời các bác Hà Sĩ Phu, các giáo sư Hà Văn Thịnh, Ngô Bảo Châu, các luật sư Triển, Dương Hà, nhóm bô xít, ...[/quote]

    Vận động quốc hội cần phải vận động rộng rải với các đại biểu trên toàn quốc. Do đó các nhóm lobby cẩn phải được thành lập tại càng nhiểu nơi càng tốt. Tôi củng đồng ý phẩn nào vơi bác Viêt Nam Mới là khi vận động phải để ý đến "văn hóa Việt Nam, nghỉa là củng phải xủ dụng tình cảm (gia đỉnh hay bạn bè).

    Theo nguyên tắc đề tránh threatening, việc hiện diện công khai của các nhân vật hay nhóm bất đồng chính kiến nổi tiếng không phải luôn luôn có lợi trong lobby, vì một số nhân vật trên đả có các va chạm với chính quyển, và các đại biểu quốc hội sẻ không muốn dính dáng đến các vị này (mình củng phải hiểu cho họ). Nói như vậy không có nghỉa là gạt bỏ họ ra khỏi công cuộc vận động cho dân chủ, nhưng hảy để họ vào các vị trí thích hợp hơn là công khai hoá.

    Bản thân tôi rất ít khi về VN (chỉ vế VN một lẩn duy nhất trong 25 sống xa quê hương). Tôi củng chưa gặp được các thuận lợi trong việc hợp tác với các đồng nghiệp trong nước trong vấn đề phàt triển giáo dục. Ngoài sự nghi kỵ của chính quyền nói chung với đám người Việt hải ngoại chúng tôi, tôi củng cảm nhận có các tị hiềm nơi các đống nghiệp (nhửng người cùng làm trong một ngành nghế) trong nước, có thể xuất phát từ nguốn gốc đào tạo. Củng rất buồn, nhưng chẳng biết làm sao.

    Phản hồi: 

    [quote=Tran Thi Ngự][quote=Gian Nan]
    Vài năm trước, Ban Chấp hành Liên hiệp các hôi khoa học (đoàn thể của trí thức trong Mặt trận TQ) kết hợp với một số người trong Hội Văn Nghệ sĩ (cũng trong Mặt Trân) đã tổ chức mấy chục hội nghị từ cấp cơ sở tới trung ương với mục tiêu đưa ra một dự tháo Luật về quyền lập hội (để trình lên Quốc Hội. Nghĩa là họ muốn luật-hóa một điều trong Hiến Pháp.
    Song song, Bộ Nội Vụ cũng đưa ra một dự tháo với nội dung thực chất là hạn chế và kìm hãm quyền này. Dự thảo này đã 6 lần lấy ý kiến giới Khao hoạc và Văn nghệ sĩ, đều bị phản đối. Trong khi đó, dụ luật do giới khao hoc và văn nghệ đưa ra tuy được quần chúng hoan nghênh nhưng Bộ Nội Vụ lại phản đối.
    Quốc Hội thì thụ động ngồi chờ 2 bên trình luật để thảo luận và thông qua. Cứ tha hồ mà chờ.

    Luật Báo chí (bổ sung) cũng chịu số phận như vậy.

    Một cách làm là quý vị hãy liên kết thành những nhóm nhỏ, tự soạn ra Luật về Hội và công bố vài ba sản phẩm để mọi người góp ý. Cần soan thảo cho trung tính, không đe do sự cầm quyền và có thêm áp lực xã hội, hy vọng vấn đề sẽ được trao đổi dôi nổi. Nếu có khoảng 100 nhân sĩ và nhà khoa học, văn nghệ sĩ góp ý với tên tuổi công khai thì vấn đề sẽ tiếp tục phát triển ới thành công.

    [/quote]

    ...

    Trong việc vận động các đại biểu quốc hội (và cà các thành phần tiến bộ trong đảng và chính phủ), tuyệt đối tránh quan điểm độc tôn (gạt ra một số thành phần ra) và không có tính de dọa (threatening) quyền lực của chính quyền đương nhiệm. Trài lại kế hoạch phải là ôn hoà, phải là inclusive (mọi thảnh phẩn đều được tham dự). Hảy nhìn lại kinh nghiệm trong vụ tàu cao tốc, để phát huy thêm các thằng lợi nhỏ nhoi đả đạt được, rồi dần dần các sự thay đổi về cơ cầu chính phủ và ngay cả thể chế sẻ xảy ra.[/quote]

    Bác Gian Nan có thêm tin tức gì xin nhanh chóng thông báo.
    Mong các đại biểu, các nhân sĩ đóng góp công sức.
    Kỳ bầu QH khóa tới, các bác phải nghiên cứu các hoạt động của các đại biểu có thể, ngay từ bây giờ. Ai không có tâm, không có tài, dứt khoát loại bỏ chúng

    Xin bổ túc thêm :

    http://bee.net.vn/channel/1988/201102/GS-Nguyen-Minh-Thuyet-Chuyen-10-na...

    GS Nguyễn Minh Thuyết: Chuyện 10 năm ở “nghị trường”
    04/02/2011 10:48:12

    Nhiều người gọi ông là “gương mặt của năm 2010” sau những lần phát biểu tại các kỳ Quốc hội. Là đại biểu của các khóa XI, XII (từ năm 2002 tới nay” đang giữ vai trò Phó chủ nhiệm Ủy ban Văn hóa Giáo dục Thanh thiếu niên và nhi đồng của Quốc hội Việt Nam, GS Nguyễn Minh Thuyết chia sẻ với TT&VH những cảm nhận về “nghị trường” Việt Nam trong thập niên đầu tiên của thế kỷ 21.

    Ông nói: Mỗi giai đoạn phát triển thường được đánh dấu bằng những sự kiện mang tính bước ngoặt. Nói riêng về hoạt động giám sát mốc lớn đầu tiên trong hoạt động của Quốc hội Việt Nam diễn ra vào năm 1994, khi các phiên chất vấn của đại biểu bắt đầu được truyền hình trực tiếp. Qua lời kể của ông Vũ Mão (lúc đó là Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội) tôi biết lãnh đạo cũng phải rất vất vả mới tìm được sự đồng thuận để đi đến quyết định này.

    Từ bước ngoặt ấy, mỗi khóa Quốc hội tiếp theo đều tiếp tục có những đổi mới. Khóa XI (2002 -2007) đánh dấu sự kiện lần đầu tiên trong lịch sử Quốc hội Việt Nam, Thủ tướng Chính phủ (ông Phan Văn Khải đứng ra trả lời chất vấn của đại biểu và được phát sóng trực tiếp trên VTV). Ngoài ra, việc Bộ trưởng Bộ Công an hai lần trả lời chất vấn trước hội trường cũng là sự kiện hiếm gặp...

    Nếu chỉ “khoanh vùng” trong 10 năm gần đây thì sự thay đổi trong sinh hoạt của Quốc hội như thế nào?

    Nói ngắn gọn, tôi thấy sự thẳng thắn, dân chủ và cởi mở trong các phiên thảo luận ngày một cao hơn theo từng kỳ hợp. Tôi còn nhớ, năm 2005, lần đầu tiên tham gia chất vấn Thủ tướng, nhiều anh em đại biểu vẫn tỏ ra “khớp” và khá rụt rè. Nói thật là bản thân Thủ tướng lần đầu tham gia phiên chất vấn cũng phần nào chưa sẵn sàng và hơi căng thẳng. Đó là điều tất nhiên – nếu bạn biết rằng ở một số khóa Quốc hội trước đó, sự cởi mở trong thảo luận khá hạn chế: Đại biểu phát biểu theo văn bản chuẩn bị sẵn và chỉ đọc khi đã được thông qua.

    Còn bây giờ, đại biểu có thể phát biểu bằng văn bản hay nói “vo”, không phải thông qua cấp nào, kể cả khi đề cập đến những vấn đề “nóng”. Nội dung chất vấn tập trung hơn cũng khiến các phiên chất chất vấn trong khóa XII có điều kiện nâng cao hơn trước. Đặc biệt, việc Quốc hội ra các nghị quyết về chất vấn và trả lời chất vấn đã thể hiện quyền giám sát của đại biểu Quốc hội, không để việc xác định trách nhiệm hoàn toàn phụ thuộc vào thiện chí của người trả lời chất vấn.

    Thực ra, số lượng các đại biểu tích cực và thường xuyên có ý kiến trong các phiên chất vấn không phải là quá nhiều trên tổng số gần 500 đại biểu cho mỗi nhiệm kỳ. Nghĩa là, sự rụt rè mà ông vừa nhắc tới vẫn còn tồn tại?

    Sự thật là vẫn còn, thậm chí còn nhiều, nhưng như đã nói quá trình đổi mới của Quốc hội là kết quả vận động tất yêu của cuộc sống. Hoạt động của Quốc hội càng công khai minh bạch thì đại biểu của Quốc hội càng thấy rõ áp lực của dư luận, của những cử tri đang quan sát họ trên sóng VTV. Những đại biểu tích cực mà bạn nói chính là những người khởi đầu cho sự mạnh dạn nên có ấy. Giống như khi còn nhỏ, ra sông tắm, trong đám trẻ chúng tôi bao giờ cũng có những anh nhảy xuống nước bơi đầu tiên, để những anh khác nhìn theo và tự nhủ “không sao đâu” (cười)

    Theo ông sự mạnh dạn ấy trong những khóa tới sẽ đạt đến mức nào?

    Hơi khó ước lượng cụ thể, tôi nghĩ thế này: Trong những khóa tới, quan điểm của tổ chức trong việc giới thiệu ứng cử viên đại biểu Quốc hội cũng không có thay đổi lớn đâu. Cái thay đổi lớn nhất sẽ nằm ở sự khắt khe ngày một cao của cử tri trong việc lựa chọn người đại diện cho mình. Yêu cầu chọn lựa ngày một khắt khe hơn sẽ làm xuất hiện ngày càng nhiều hơn các đại biểu trí tuệ, bản lĩnh luôn cố gắng hoàn thành trách nhiệm trước cử tri và bảo vệ hình ảnh của mình.

    Quanh chuyện “nhất Ngoạn nhì Trân”

    Những đại biểu đồng nghiệp nào khiến ông ấn tượng nhất?

    Khóa XI thì tất nhiên phải kể đến 4 người “bị đóng đinh” vào câu “nhất Ngoạn, nhì Trân, tam Lân, tứ Quốc” rồi (cười). (đó là các đại biểu Đỗ Trọng Ngoạn, Nguyễn Ngọc Trân, Nguyễn Lân Dũng và Dương Trung Quốc được dư luận đánh giá cao về sự quyết liệt trong chất vấn - TT&VH).

    Trong số này tôi có dịp làm việc nhiều cùng anh Trân và anh Quốc. Cả hai đều trí tuệ, bản lĩnh. Nhưng ở anh Trân điều gây ấn tượng mạnh đối với tôi là cách làm việc rất chuyên nghiệp và khoa học. Dù đi giám sát trong nước hay đi công tác nước ngoài, dù phát biểu trong cuộc họp nhỏ hay trên diễn đàn lớn, anh Trân đều chuẩn bị rất cẩn thận, có số liệu chính xác. Nêu ý kiến thường có sức thuyết phục cao. Còn anh Quốc thì tác phong đậm chất nghệ sĩ, nhưng phát hiện vấn đề nhanh, khái quát vấn đề sâu sắc và có lối diễn đạt suy tư và hấp dẫn.

    Nhưng thực ra, do vần vè nên dân gian xếp thứ tự như vậy chứ không phải đánh giá một, hai, ba, bốn về năng lực phản biện của họ đâu. Cũng vì hạn chế ấy mà câu này không phản ánh hết được nhiều gương mặt nổi trội khác như đại biểu Lê Văn Cuông, Nguyễn Đình Xuân, Nguyễn Thị Việt Nhân, Nguyễn Thị Bạch Mai.

    Tôi nhớ lời chất vấn Thống đốc Ngân hàng nhà nước Lê Đức Thúy về việc hóa giá căn nhà ở phố Lý Thái Tổ (Hà Nội), chị Nguyễn Thị Việt Nhân còn đi xích lô đến tận hiện trường để kiểm tra ý kiến cử tri, sau đó mới phát biểu dễ dàng, thuyết phục trên hội trường. Ngoài ra, bên cạnh những gương mặt cũ, khóa XII cũng được bổ sung nhiều đại biểu nổi bật và trí tuệ và bản lĩnh như Vũ Hoàng Hà (Bình Định), Phạm Thị Loan (Hà Nội), Ngô Văn Minh (Quảng Nam), Vũ Quang Hải (Hưng Yên), Danh Út (Kiên Giang).

    Một chút tò mò, các đại biểu mạnh miệng như ông hay Dương Trung Quốc, Nguyễn Lân Dũng… có chơi thân và hay gặp gỡ nhau không?

    Cũng có đấy! GS Nguyễn Lân Dũng vốn cùng trường với tôi (ĐH Tổng Hợp Hà Nội). Khi tôi còn là sinh viên, anh đã làm một giảng viên nổi bật. Sau này, tôi làm công tác quản lý, anh trở thành một vị thuộc hàng “tiên tri” nên cũng thường gặp nhau. Còn anh Dương Trung Quốc thì cũng sinh hoạt ở Ủy ban Văn hóa Giáo dục Thanh thiếu niên và nhi đồng của Quốc hội nên tôi có điều kiện gặp gỡ, cùng làm việc nhiều hơn.

    Nhưng gặp nhau ngoài giờ, chẳng hạn rủ nhau cà phê cà pháo hay dùng một bữa ăn nhẹ thì gần như không vì cả mấy anh em đều bận. Nhất là anh Quốc, anh ấy bay như chim.

    Câu hỏi cuối cùng: bước ra khỏi nghị trường, sự “chuyên nghiệp” của một đại biểu Quốc hội sẽ được giữ như thế nào trong cuộc sống ngày thường, theo ông?

    Ở đây chỉ xin nói chuyện của tôi thôi. Tôi vốn là người ý tứ nhưng từ khi trở thành đại biểu Quốc hội thì càng phải ý tứ hơn, kể cả từ những việc nhỏ với hàng xóm, như giữ vệ sinh nhà cửa, đường phố, không to tiếng với vợ con (cười). Còn lại tôi vẫn có thể mua sắn luộc, ngô luộc ngoài phố hay đôi khi có dịp ngồi ăn trong quán với bạn bè. Tất nhiên, tuổi tôi thì cũng không ngồi uống bia vỉa hè rồi lớn tiếng “dô dô” trăm phần trăm được.

    Nói lại chuyện cũ, năm 2004, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Văn An quyết định không bán bia hơi cho đại biểu tại căng tin hội trường Ba Đình trong giờ giải lao. Tôi thấy như vậy cũng hợp lý. Đại biểu mải vui uống bia, vào Quốc hội muộn hoặc mặt hơi có chút sắc đỏ thì cũng không nên.

    Xin cảm ơn ông về cuộc trò chuyện này

    Phản hồi: 

    [quote=Gian Nan]Vài góp ý nhỏ

    Vài năm trước, Ban Chấp hành Liên hiệp các hôi khoa học (đoàn thể của trí thức trong Mặt trận TQ) kết hợp với một số người trong Hội Văn Nghệ sĩ (cũng trong Mặt Trân) đã tổ chức mấy chục hội nghị từ cấp cơ sở tới trung ương với mục tiêu đưa ra một dự tháo Luật về quyền lập hội (để trình lên Quốc Hội. Nghĩa là họ muốn luật-hóa một điều trong Hiến Pháp.
    Song song, Bộ Nội Vụ cũng đưa ra một dự tháo với nội dung thực chất là hạn chế và kìm hãm quyền này. Dự thảo này đã 6 lần lấy ý kiến giới Khao hoạc và Văn nghệ sĩ, đều bị phản đối. Trong khi đó, dụ luật do giới khao hoc và văn nghệ đưa ra tuy được quần chúng hoan nghênh nhưng Bộ Nội Vụ lại phản đối.
    Quốc Hội thì thụ động ngồi chờ 2 bên trình luật để thảo luận và thông qua. Cứ tha hồ mà chờ.

    Luật Báo chí (bổ sung) cũng chịu số phận như vậy.

    Một cách làm là quý vị hãy liên kết thành những nhóm nhỏ, tự soạn ra Luật về Hội và công bố vài ba sản phẩm để mọi người góp ý. Cần soan thảo cho trung tính, không đe do sự cầm quyền và có thêm áp lực xã hội, hy vọng vấn đề sẽ được trao đổi dôi nổi. Nếu có khoảng 100 nhân sĩ và nhà khoa học, văn nghệ sĩ góp ý với tên tuổi công khai thì vấn đề sẽ tiếp tục phát triển ới thành công.

    Còn cách làm lập ra các hội bí mật cũng tốt, cố nhiên cần có kinh nghiệm và chấp nhận rủi ro.[/quote]

    Nên lập hội công khai và hợp pháp.

    Bác Gian Nan và các bác cố gắng vận động các nhân sĩ. Các bác Tran Thi Ngự và PVĐ có thể tham gia vận động các đại biểu như bác Thuyết không bởi các bác có thể về VN công khai dễ dàng ? Bác PVĐ thân với chính quyền thì lại càng dễ

    Tại sao không mời các bác Hà Sĩ Phu, các giáo sư Hà Văn Thịnh, Ngô Bảo Châu, các luật sư Triển, Dương Hà, nhóm bô xít, ...

    Phản hồi: 

    [quote=Gian Nan]
    Vài năm trước, Ban Chấp hành Liên hiệp các hôi khoa học (đoàn thể của trí thức trong Mặt trận TQ) kết hợp với một số người trong Hội Văn Nghệ sĩ (cũng trong Mặt Trân) đã tổ chức mấy chục hội nghị từ cấp cơ sở tới trung ương với mục tiêu đưa ra một dự tháo Luật về quyền lập hội (để trình lên Quốc Hội. Nghĩa là họ muốn luật-hóa một điều trong Hiến Pháp.
    Song song, Bộ Nội Vụ cũng đưa ra một dự tháo với nội dung thực chất là hạn chế và kìm hãm quyền này. Dự thảo này đã 6 lần lấy ý kiến giới Khao hoạc và Văn nghệ sĩ, đều bị phản đối. Trong khi đó, dụ luật do giới khao hoc và văn nghệ đưa ra tuy được quần chúng hoan nghênh nhưng Bộ Nội Vụ lại phản đối.
    Quốc Hội thì thụ động ngồi chờ 2 bên trình luật để thảo luận và thông qua. Cứ tha hồ mà chờ.

    Luật Báo chí (bổ sung) cũng chịu số phận như vậy.

    Một cách làm là quý vị hãy liên kết thành những nhóm nhỏ, tự soạn ra Luật về Hội và công bố vài ba sản phẩm để mọi người góp ý. Cần soan thảo cho trung tính, không đe do sự cầm quyền và có thêm áp lực xã hội, hy vọng vấn đề sẽ được trao đổi dôi nổi. Nếu có khoảng 100 nhân sĩ và nhà khoa học, văn nghệ sĩ góp ý với tên tuổi công khai thì vấn đề sẽ tiếp tục phát triển ới thành công.

    [/quote]

    Xin chia sẻ quan điểm của bác Gian Nan. Quyến lập hội là một quyến hiến định ở VN và cần được thực hiên qua các văn bàn luật pháp. Quyến tự do hội họp (trong khuôn khổ luật pháp) sẻ là một phương tiện cho phong trào đấu tranh cho dân chủ trong tinh thần thượng tôn luật pháp. Khi có luật này thì các tồ chức xả hội dân sự (civic organization) sẻ được thành hình và sẻ đóng góp với chính phủ (hay đấu tranh nếu cần) theo từng lảnh vực chuyên môn, để việc quản lý đất nước đi theo đúng với nguyên tắc dân chủ.

    Thật ra, luật vế tố chức chính quyền và quản lý của chính phủ trên giấy tờ, kể cả về vần đề hình sự, củng không đến nối tệ. VN đả gia nhập vào công đống quốc tế, và chính quyền củng phải tạo ra một bộ mặt dân chủ trên giấy tớ. Môt trong các vấn đế lớn là luật pháp không được thi hành đúng đắn. Một phần nửa là đâu đó còn có các qui định chưa đúng với nguyên tắc dân chủ. Khi được thành lập, các hội dân sự sẻ nói lên tiếng nói của ngừoi dân (trong từng lảnh vực) qua việc xem xét việc thi hành luật pháp (củng theo từng lảnh vực chuyên môn), và có các đóng góp để sửa đối luật phàp cho ngày càng hoàn chỉnh theo tinh thần dân chủ. Tùy theo sức mạnh của các hội dân sự mà họ sẻ có tác động đến tâm lý quần chúng và quyến lực của chính quyến.

    Bác Gian Nan đả nêu ra các khó khăn trong việc thành lâp văn bản vế luật lập hội. Vần đề chống đối của chính quyền thì củng dể hiểu, và củng xảy ra ở các nước phương tây. Thực tề là luôn luôn có sự tranh dành quyển lực, và muốn có tự do thì phải đấu tranh vì FREEDOM IS NOT FOR FREE. Nhìn tình hình làm việc của quôc hội VN trong vụ tàu cao tốc thì thấy củng có hy vọng. Tôi nghỉ, khi quôc hội đả có thể "VOTE NO" cho tàu cao tốc thì họ củng có thể VOTE YES cho luật lập hội. Nhiều đại biểu quôc củng có các suy nghỉ, bức xúc với tình hình đầt nươc, củng muốn có đồi thay, và nhiều người củng đà mạnh dạn pháp biẻu các suy nghỉ của họ. Như vậy cơ hội có thể đả mờ ra, và các nhóm đi tiên phong phải LOBBY các đại biểu quốc hội, một việc ngưới ta thường làm ở các nước phương tây, và đừng để cho cái khí thề của quốc hội trong vụ tàu cao tốc chìm dẩn trong bóng tối.

    Trong việc vận động các đại biểu quốc hội (và cà các thành phần tiến bộ trong đảng và chính phủ), tuyệt đối tránh quan điểm độc tôn (gạt ra một số thành phần ra) và không có tính de dọa (threatening) quyền lực của chính quyền đương nhiệm. Trài lại kế hoạch phải là ôn hoà, phải là inclusive (mọi thảnh phẩn đều được tham dự). Hảy nhìn lại kinh nghiệm trong vụ tàu cao tốc, để phát huy thêm các thằng lợi nhỏ nhoi đả đạt được, rồi dần dần các sự thay đổi về cơ cầu chính phủ và ngay cả thể chế sẻ xảy ra.

    Phản hồi: 

    Chừng nào nhửng người trí thức hay tập thể trí thức trung lưu đông đảo lớn mạnh đồng đứng dậy không vì nhửng đặc quyền đặc lợi cá nhân và ý thức sự tồn vong và phú cường của đất nước và con đường tự do dân chủ là con đường đưa đất nước đến tự do giàu mạnh thì chừng đó chế độ cộng sản mới mông chuyển biến phân hóa hay sụp đổ. Ngược lại nếu nhửng người trí thức chỉ chấp nhận môt đường lối, môt mô hình hoạt động một mô hình suy tư nhửng con người "robot " thì chế độ cộng sản còn lâu mới tan hàng

    Phản hồi: 

    Vài góp ý nhỏ

    Vài năm trước, Ban Chấp hành Liên hiệp các hôi khoa học (đoàn thể của trí thức trong Mặt trận TQ) kết hợp với một số người trong Hội Văn Nghệ sĩ (cũng trong Mặt Trân) đã tổ chức mấy chục hội nghị từ cấp cơ sở tới trung ương với mục tiêu đưa ra một dự tháo Luật về quyền lập hội (để trình lên Quốc Hội. Nghĩa là họ muốn luật-hóa một điều trong Hiến Pháp.
    Song song, Bộ Nội Vụ cũng đưa ra một dự tháo với nội dung thực chất là hạn chế và kìm hãm quyền này. Dự thảo này đã 6 lần lấy ý kiến giới Khao hoạc và Văn nghệ sĩ, đều bị phản đối. Trong khi đó, dụ luật do giới khao hoc và văn nghệ đưa ra tuy được quần chúng hoan nghênh nhưng Bộ Nội Vụ lại phản đối.
    Quốc Hội thì thụ động ngồi chờ 2 bên trình luật để thảo luận và thông qua. Cứ tha hồ mà chờ.

    Luật Báo chí (bổ sung) cũng chịu số phận như vậy.

    Một cách làm là quý vị hãy liên kết thành những nhóm nhỏ, tự soạn ra Luật về Hội và công bố vài ba sản phẩm để mọi người góp ý. Cần soan thảo cho trung tính, không đe do sự cầm quyền và có thêm áp lực xã hội, hy vọng vấn đề sẽ được trao đổi dôi nổi. Nếu có khoảng 100 nhân sĩ và nhà khoa học, văn nghệ sĩ góp ý với tên tuổi công khai thì vấn đề sẽ tiếp tục phát triển ới thành công.

    Còn cách làm lập ra các hội bí mật cũng tốt, cố nhiên cần có kinh nghiệm và chấp nhận rủi ro.

    Phản hồi: 

    Vì rất có thiện cảm với Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên nên em thường xuyên tìm hiểu về họ. Theo em được biết thì:

    _THDCDN đã có thành viên trong nước. Nhưng lực lượng này hoạt động không công khai:
    http://v1.x-cafevn.org/node/1380
    Trích: "...Bạn đặt câu hỏi về việc Tập Hợp thâu nạp nhũng chí hữu ở trong nước. Chúng tôi không mong gì hơn và cũng đã có kinh nghiệm về những khó khăn của anh em trong nước. Chúng tôi hiện đã có những chí hữu trong nước. Bạn An Việt, sắp tham gia thảo luận trên diễn đàn này đã từng là một chí hữu trong nước trong nhiều năm, chỉ mới ra nước ngoài trong thời gian gần đây thôi. Tất cả vấn đề chỉ là có anh em nào trong nước muốn gia nhập Tập Hợp không, nếu có thì sẽ có giải pháp. Trong điều kiện hiện nay một chí hữu trong nước không thể hoạt động như một một chí hữu ở hải ngoại được bởi vì tuy chúng tôi chủ trương đấu tranh cho dân chủ một cách ôn hoà, trong tinh thần hoà giải và hòa hợp dân tộc, nhưng nhà cầm quyền vẫn nhìn mọi tổ chức dân chủ là thù địch..."

    _Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên có lẽ là tổ chức hải ngoại bắt liên lạc và phối hợp với lực lượng dân chủ trong nước nhiều và sớm nhất. Trong số thân hữu của Tập Hợp, có nhiều người dân chủ bền bỉ như Nguyễn Thanh Giang, Hà Sĩ Phu, Mai Thái Lĩnh, Nguyễn Vũ Bình, Phạm Hồng Sơn...
    Ví dụ, một thư liên lạc của ông Hà Sĩ Phu với Tập Hợp hồi đầu năm 2000: http://www.thongluan.org/vn/modules.php?name=News&file=article&sid=36
    Báo Tổ Quốc do ông Nguyễn Thanh Giang làm tổng biên tập cũng do THDCDN cung cấp tài chính.

    _THDCDN ko chỉ hoạt động "trên lĩnh vực lý luận+ nâng cao dân trí". Nó là một chính đảng có cơ sở tư tưởng, cán bộ, chương trình quản trị đất nước và cơ quan ngôn luận. Bác có thể tìm hiểu chương trình mà Tập Hợp đề nghị ở đây:
    http://danluan.org/node/4915
    Ngoài ra, THDCDN còn yểm trợ tài chính cho các nhà dân chủ trong nước qua tổ chức con là Nghĩa Hội Việt Nam.

    Thực ra, theo em thấy thì những tổ chức đầu tiên của xã hội dân sự Việt Nam đã xuất hiện từ độ 5 năm nay rồi. Chúng là những hội đoàn của sinh viên. Trái với suy nghĩ của nhiều người, chúng không còn bị chi phối hoàn toàn bởi Đoàn TNCS HCM nữa. Có lẽ đây là điểm khởi đầu.

    Phản hồi: 

    Kính gửi bác Gia Kiểng và Việt Hoàng

    Chính Tập Hợp đa nguyên của các bác Kiểng đang là một tổ chức đấy thôi. Chỉ có điều nó mới hoạt động ở hải ngoại và chỉ trên lĩnh vực lý luận+ nâng cao dân trí. Rõ rằng là chưa đủ.
    Chính các bác cần cử người về nước bắt liên lạc với các nhà dân chủ trong nước để hình thành một tổ chức. Nên nhớ rằng Cộng Sản rất nhạy cảm điều này. Họ rất biết đây là vấn đề sinh tử, do vậy bằng mọi giá, họ tìm cách bóp chết các tổ chức từ phôi thai.
    Hai bên không lạ gì nhau nữa.

    Như vậy, các tổ chức cách mạng. dù là hết sức ôn hoà, mềm dẻo... chỉ có thể ra đời khi VN bắt đầu có xã hội dân sự, với những tổ chức vô hại với đảng CS.
    Do vậy, việc đấu tranh để có xã hội dân sự phải được xúc tiến trước. Và trước nữa là sự liên kết về thông tin (truyền thông) để tập trung vào chủ đề này.

    VN khác Đông Âu về trình độ dân trí. VN là xã hội tiểu nông truyền thống, nên dân chủ không thể đến sớm được. Suốt 36 năm qua, chỉ là giai đoạn chúng ta tuyên truyền để người dân nhận ra bộ mặt thật của chế độ toàn trị và gợi nên các ý tưởng về dân chủ, tự do cho người dân. Nay, vẫn phải tiếp tục tuyên truyền nhưng cần liên kết mọi truyền thông, hướng tới giác ngộ ý thức liên kết của người dân.

    Tôi hình dung rằng các tổ chức dân sự đầu tiên có lẽ sẽ do các đảng viên ký cựu tạo ra với mục tiêu phản biện và góp ý (xây dựng) vào chính sách, đường lối. Rồi tùy dịp, tùy tình hình, sẽ có các nhóm góp ý vào nội dung hiến pháp (sắp tới díp sửa), ví dụ góp ý (soạn tháo) các nội dung "luật hoá" điều 4 về sự cầm quyền... chả lẽ đảng dám từ chối?

    Phản hồi: 

    * Trí thức
    * Ðối với tầng lớp trí thức, những biện pháp ‘vừa trấn áp vừa vuốt ve’ từ xưa đến nay đã đem lại kết quả khả quan. Chúng ta đã duy trì được một tầng lớp trí thức hèn nhát, háo danh, và nếu không quá ngu dốt thiển cận thì cũng chỉ được trang bị bởi những kiến thức chắp vá, hổ lốn, lỗi thời.
    * Nói chung, đa số trí thức của chúng ta đều hèn, đều biết phục tùng theo đúng tinh thần ‘phò chính thống’ của sĩ phu xưa nay. Phần lớn những kẻ được coi là trí thức cũng mang nặng cái mặc cảm của việc học không đến nơi đến chốn, ít có khả năng sáng tạo, và so với trí thức phương Tây về cả tri thức lẫn dũng khí đều cách xa một trời một vực.
    * Trí thức của chúng ta vẫn mãi mãi giữ thân phận học trò, kiểu sĩ hoạn mơ ước được phò minh chủ, hanh thông trên đường hoạn lộ, chứ không bao giờ vươn lên thành những nhà tư tưởng lỗi lạc.
    * Tầm mức ảnh hưởng của trí thức đến xã hội không đáng kể, không dành được sự kính trọng từ các tầng lớp nhân dân, thậm chí còn bị người đời khinh bỉ bởi sự vô liêm sỉ và thói quen ném rác vào mặt nhau.
    * Chỉ có một số ít trí thức vượt qua được cái vỏ ốc hèn nhát, nhưng thường là quá đà trở nên kiêu ngạo tự mãn, coi mình như núi cao sông sâu, là lương tâm thời đại. Những người này quả thật có dũng khí, nhưng cũng không đáng sợ lắm bởi đa phần đều có tâm mà không có tài, có đởm lược mà ít kiến thức.
    * Ða phần trong số này cũng chỉ đến khi về hưu mới thu gom được dũng khí mà ra mặt đối đầu với chúng ta, do đó sức cũng đã tàn, lực cũng đã kiệt. Một số ít trẻ trung hơn, nhiệt huyết còn phương cương, thì lại chưa có kinh nghiệm trường đời, chưa được trang bị lý luận chu đáo, chưa có kiến thức về dân chủ sâu rộng. Với những kẻ này chúng ta đàn áp không nương tay, bỏ tù từ 3 đến 7 năm. Ðó là phương cách giết gà từ trong trứng.

    Phản hồi: 

    Đọc đi đọc lại bài viết của bác mấy lần và xin mạn phép góp ý kiến với bác Kiểng thế này:
    1/ Tại sao ngày nay ở Việt Nam chưa có dân chủ trong khi dân trí không phải là tồi? Bởi vì trong hàng chục năm ở TK20, người ta đã chứng kiến các thể chế nhân danh tốt đẹp, lý tưởng cao siêu, mục tiêu hoành tráng nhưng sự thật khác xa lý thuyết. Từ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, Việt Nam Cộng Hòa đến CHXHCN Việt Nam, và kể cả một số tổ chức chống cộng hải ngoại ... đều có sự cách biệt như trời biển giữa lý thuyết, hy vọng và những gì đạt được trong thực tế. Lại thêm chính sách tuyên truyền đến bội thực của chính quyền cộng sản khiến cho người dân đã chán ngán chính trị đến tận đỉnh đầu. Thế là người ta chỉ lo ăn lo làm lo chơi lo cho mình gia đình mình, không thèm quan tâm đến những gì khác nữa.
    2/ Dân Chủ và Kinh Tế phải đồng song phát triển, trong đó Kinh Tế phải đi trước một bước. Bởi vì, về bản chất phải có con người rồi mới có tinh thần, con người ta phải ăn, phải sống cái đã rồi mới có thể nghĩ đến các hoạt động kinh tế, văn hóa, tôn giáo, chính trị, khoa học kỹ thuật và các hoạt động xã hội khác.
    Có thể ví, thể chế độc tài hay dân chủ như là các phần mềm hệ điều hành kế tiếp nhau, cái sau hay hơn cái trước. Có một hệ điều hành mới và hay, nhưng lại chỉ có các máy đời cũ, thì hoặc là không thể cài đặt nổi, hoặc cố cài cho xong thì nó cũng trục trặc và lại phải quay về dùng cái cũ.
    Trong hiện thực xã hội, cứ phải để kinh tế đi trước (như là có cái máy tính thế hệ mới). Song song với đó, trong tư duy âm thầm, việc viết hệ điều hành mới có thể là trước khi cái máy mới ra đời, nhưng đừng có vội đem ra cài đặt, phải đợi cái máy mới lấp ló ra đời hãy quảng bá phần mềm thì người ta dễ hiểu hơn, và khi có cái máy mới là cài phát dễ ăn ngay, người ta không chán nản.
    Ở Việt Nam bây giờ, tuyên truyền dân chủ cứ nhẹ nhàng thôi, và phải thực dụng hợp đời sống đa số người dân, để người ta dễ tiếp thu (như cho trẻ uống thuộc phải kẹp vào quả chuối) và cái Ý THỨC CHÍNH TRỊ của người ta được nâng lên cái đã. Với sự phát triển kinh tế, nhu cầu dân chủ người ta tăng lên, đa số mới ngộ ra rằng "mấy thằng phản động nói thế mà đúng". Rồi đợi có biến động kinh tế chính trị thế giới làm suy yếu chính quyền bây giờ, lúc ấy đồng khởi vùng lên mới có cơ giành thắng lợi được. Đã là ngoại lệ thì cách đấu tranh cũng phải khác người.
    Những cái xã hội đã có dân chủ mà bác nêu ví dụ, hầu hết nền tảng tư duy kinh tế khoa học kỹ thuật người ta đều hơn xa Việt Nam. Người Hàn, người Nhật họ làm được thép tốt từ cách đây 2000 năm. Người Việt đến nay cũng chỉ mới làm dược thép xây dựng. Cho nên, người ta mới tự thân vận động được (giống như tự làm máy tính, tự viết phần mềm). Người Việt, từ tư duy triết học đến khoa học kỹ thuật và kinh tế đều phải đi học người khác, như là trong hoàn cảnh ít tiền, ít kiến thức mà phần mềm phải đi mua và máy thì cũng phải do người khác giúp chế tạo, lắp đặt mới có. Thế thì, cái phương cách xây dựng phần cứng, cài đặt phần mềm cũng phải khác những người kia (văn minh giỏi giang hơn ta nhiều).
    3/ Bác Kiểng viết "Sở dĩ cho đến nay chúng ta chưa có những tổ chức chỉ vì trí thức Việt Nam chưa nghĩ đến chứ không phải là vì không thể có" (???). Thưa bác, thế những gì mà Lê Thị Công Nhân, Nguyễn Tiến Trung, Lê Công Định, Trần Huỳnh Duy Thức ... đã làm có phải là tổ chức không ạ? Anh em x-cafevn tổ chức offline ở Sài Gòn (và bị tôm) có phải là muốn có tổ chức không ạ? Rồi mấy thanh niên trí thức tổ chức công đoàn vừa bị xử tội "phản động" có phải là xây dựng tổ chức không ạ?
    Không phải là trí thức Việt Nam không nghĩ đến tổ chức nên không có tổ chức mạnh, mà là, đã nghĩ đến đã xây dựng nhưng chưa đúng cách hợp thời nên bị bóp nát từ lúc mới phôi thai trứng nước. Đến như viện IDS còn bị bức tử thì việc xây dựng tổ chức chính trị đối lập ở Việt Nam là một việc không đơn giản.

    Cuối cùng, xin bác, bác cũng là một tín hữu Kito, rất mong bác và các anh em chí hữu khác nâng tầm tổ chức của các bác lên, sao cho có thể góp phần góp sức tích cực và thực tế lãnh đạo trước hết là bà con Kito giữ lấy đất đai nhà thờ, quyền tự do tôn giáo, sau nữa là kết hợp đoàn kết bà con lương giáo cùng hợp sức giữ ruộng đất của từng người khỏi bị các quan tham "dự án hóa" cướp cạn giữa ban ngày. Lý thuyết dù hay mấy mà không áp dụng được vào thực tế thì cũng vứt đi.
    Chúc bác và anh em Thông Luận khỏe và tiến bộ trong năm mới của một thời kỳ mới!

    Phản hồi: 

    Các nước Mỹ, Úc quả là hạnh phúc khi họ có những nhà lãnh đạo có tâm, có tầm. Biết lo cho dân. Việt Nam vì hèn nên vô phúc chấp nhận các nhà lãnh đạo chỉ biết lo cho cái túi. Trí thức VN giống như Mao đã nói: Trí thức là một cục cứt.