Tư liệu: Thư Của Ông Võ Văn Kiệt Gởi Bộ Chính Trị Đảng Cộng Sản Việt Nam (năm 1995)

  • Bởi Admin
    31/01/2011
    6 phản hồi

    Võ Văn Kiệt

    Ngày 9/8/95, ông Võ Văn Kiệt, lúc đó là Thủ tướng và là Ủy Viên Bộ Chính Trị của Đảng cộng sản Việt Nam (ĐCSVN), đã gởi cho các ủy viên khác của Bộ Chính Trị một lá thư góp ý về nhiều vấn đề như 'phải triệt để dân chủ trong đảng', nâng các thành phần kinh tế lên ngang hàng với nhau và thu nhỏ vai trò của kinh tế quốc doanh. Nội dung bức thư phản bác lại lập luận của phe bảo thủ do Đỗ Mười và Đào Duy Tùng đứng đầu.

    Tuy được đóng dấu 'Tối mật', nhưng lá thư này đã được tán phát rộng rãi ở trong và ngoài nước. Cuối tháng 12/95, chính quyền đã vịn vào lý cớ là lá thư này thuộc loại “tài liệu tối mật”, nên đã bắt và đã xử tù các ông Hà Sĩ Phu (1 năm), Lê Hồng Hà (2 năm) và Nguyễn Kiến Giang (15 tháng tù treo).

    Hà Nội, ngày 9 tháng 8 năm 1995

    Kính gửi: Bộ Chính Trị.

    Sau đợt thảo luận tháng 6 vừa qua Bộ Chính Trị (BCT) xây dựng các văn kiện chuẩn bị Đại Hội VIII, đồng chí Tổng Bí Thư đã kết luận còn một số vấn đề và quan điểm lớn cần tổ chức nghiên cứu và thảo luận sâu hơn nữa. Tôi tán thành kết luận nầy và xin trình bày một số ý kiến về 4 vấn đề:

    1- Đánh giá tình hình, cục điện thế giới ngày nay. 2- Vấn đề chệch hướng hay không chệch hướng? 3- Nâng cao năng lực quản lý nhà nước. 4- Xây đựng Đảng.

    1- Đánh giá tình hình, cục diện thế giới ngày nay.

    Nhận thức của chúng ta về tình hình, cục diện thế giới ngày nay quyết định đánh giá của ta về thời cơ và thách thức.

    Đặc điểm cần nhấn mạnh là: Trong thế giới ngày nay, không phải mâu thuẫn đối kháng giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa đế quốc, mà trước hết là tính chất đa dạng đa cực trở thành nhân tố nổi trội nhất chi phối những mâu thuẫn và sự vận động của các mối quan hệ giữa mọi quốc gia trên thế giới. Và cũng khác với trước, ngày nay lợi ích quốc gia, lợi ích khu vực, những lợi ích toàn cầu khác (ví dụ hoà bình, vấn đề môi trường, vấn đề phát triển, tính chất toàn cầu hoá ngày càng sâu sắc của sự phát triển lực lượng sản xuất…) đóng vai trò ngày càng quan trọng hơn trong việc phát triển những mâu thuẫn cũng như trong việc tạo ra những tập hợp lực lượng mới ngày nay trên thế giới. Nhiều mâu thuẫn khác đã từng tồn tại trong thời kỳ thế giới còn chia thành 2 phe – kể cả mâu thuẫn giữa chủ nghĩa đế quốc và chủ nghĩa xã hội, có thể tiếp tục còn tồn tại, song chịu sự chi phối ngày càng lớn hơn bởi những mâu thuẫn khác và do đó không còn có thể giữ vai trò như cũ.

    Không thấy hết đặc điểm quan trọng nói trên, không thể cắt nghĩa được việc VN trở thành thành viên ASEAN, ký kết hiệp định khung với EU, tạo lập ra được quan hệ quốc tế ngày càng rộng rãi và giành lấy vị trí quốc tế ngày càng thuận lợi hơn trước giữa lúc hệ thống thế giới XHCN không còn tồn tại được nữa. Cần nhấn mạnh đấy là chiến công có ý nghĩa chiến lược và xoay chuyễn hẳn tình thế của đường lối đối ngoại Đại Hội VII – xuất phát từ những nhận thức mới và chính xác về cục diện thế giới ngày nay. Bây giờ, lợi ích của VN là phải phát huy hơn nữa đường lối ấy. Đồng thời cũng phải tỉnh táo đánh giá những thách thức và sức ép mới do ta gia nhập ASEAN, hợp tác với EU, bình thường quan hệ với Mỹ…

    Ngày nay, Mỹ và các thế lực phản động khác không thể giương ngọn cờ chống cộng để tranh thủ dư luận và tập họp lực lượng chống lại nước Cộng Hoà XHCN Việt Nam như trước được nữa. Vì ngọn cờ nầy đã hết phép mê hoặc, chúng phải chuyển sang ngọn cờ dân chủ và nhân quyền. Song ngay cả ý đồ muốn thủ tiêu nhà nước Cộng Hoà XHCN VN của các thế lực đế quốc và phản động cũng phải được đánh giá dưới ánh sáng của cục diện mới – đặc biệt là trong mối tương quan giữa các nước lớn, các “trung tâm”, các “cực” đang hình thành ngày càng rõ nét.

    Để có cơ sở phân tích mối tương quan vừa nói bên trên, chúng ta có hàng loạt những sự kiện quan trọng kể từ khi cục diện thế giới bắt đầu chuyển sang thời kỳ mới, đó là: chiến tranh Irak, sự tập họp lực lượng và thái độ các nước lớn chung quanh việc chống lại VN trong vấn đề Campuchia, giải pháp hoà bình giữa Palestine và Israel, hòa giải ở Nam Phi, nội chiến ở Nam Tư cũ (Bosnia, Herzegovina), sự tranh chấp ở Trường Sa và thái độ các loại nước khác nhau chung quanh vấn đề nầy, sự phát triển các mối quan hệ quốc tế của VN trong 10 năm qua, triển vọng bình thường hoá quan hệ Việt-Mỹ, vai trò ngày càng quan trọng của ASEAN, tiếng nói của các nước nhỏ càng nhiều trọng lượng hơn trước, xu thế tập hợp các tổ chức kinh tế khu vực, vai trò ngày càng tăng của Liên Hiệp Quốc song song với hiện tượng những siêu cường ngày càng khó thao túng Liên Hiệp Quốc như thời kỳ chiến tranh lạnh v.v…

    Trước hết đó là những mâu thuẫn và lợi ích của các quốc gia – bao gồm cả sự cạnh tranh gay gắt, xung đột lợi ích quốc gia, yêu cầu hợp tác, những thách thức tác động vào quốc gia do sự phát triển của lực lượng sản xuất và những biến động trong kinh tế thế giới, sự hình thành những liên kết kinh tế khu vực, những thách thức mới trên các lãnh vực chính trị, văn hoá, xã hội do quá trình hoà nhập và giao lưu kinh tế ngày càng sâu rộng giữa các quốc gia, những chính sách và thủ đoạn của các quốc gia và các thế lực thù nghịch nhau sử dụng những yếu tố mới nầy để chi phối đối phó hoặc loại bỏ nhau… Không xử lý được tình hình mới nầy, không một quốc gia nào có thể đứng vững được.

    Cũng cần đánh giá thực chất quan hệ giữa các nước XHCN còn lại. Sự thật hiện nay là 4 nước XHCN còn lại tuy có những mối quan hệ với nhau ở mức độ nhất định, song không thể hành động và không có giá trị trên trường quốc tế như một lực lượng kinh tế và chính trị thống nhất. Nói riêng về quan hệ Việt Nam-Trung Quốc, Việt Nam-Cộng Hoà Dân chủ Nhân dân Triều Tiên thì tính chất quốc gia lấn át (nếu chưa muốn nói là loại bỏ) tính chất XHCN trong những mối quan hệ giữa những nước nầy. Thậm chí trong quan hệ Việt Nam – Trung Quốc tồn tại không ít những điểm nóng. Thuần tuý nói về chủ nghĩa xã hội thì cả 4 nước XHCN còn lại đều nói còn đang tiếp tục nghiên cứu, tìm đường con đường riêng phù hợp của từng nước.

    Cũng không thể xem xét sự phục hồi ở mức độ nào đấy của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế – kể cả những nước Liên Xô Đông Ấu cũ, có cùng một chất lượng và cũng có một giá trị cộng sản chủ nghĩa như trước kia. CNXH dân chủ và nhiều quan điểm pha trộn khác đang tác động mạnh mẽ vào trào lưu nầy. Nghĩa là sự phục hồi này chưa mang lại cho phong trào cs và công nhân quốc tế sức nặng chính trị vốn có trước đây.

    Song có một thực tế khách quan khác rất quan trọng cần được mổ xẻ nghiên cứu. Đó là, bất chấp những biến động nghiêm trọng của hệ thống thế giới XHCN, nước Cộng Hoà XHCN Việt Nam do đảng CSVN lãnh đạo ngày càng được cũng cố và đứng trước những triển vọng to lớn. Cục diện quốc tế ngày nay có những đặc điểm gì, cho phép vận dụng đường lối nào và có thể khai thác những yếu tố gì đã giúp cho đảng ta xoay chuyển được tình hình, tìm ra được hướng đi mới và tạo khả năng giành thời cơ để đi lên như vậy?

    Điều hiển nhiên là trên thế giới tiếng nói ủng hộ hay đồng tình với yêu cầu ổn định chính trị của VN ngày càng mạnh, sự chấp nhận trên thế giới đối với chế độ chính trị một đảng của VN cũng đang tăng lên – mặc dầu lúc nầy lúc khác vấn đề dân chủ và nhân quyền được sử dụng như một phương tiện chính trị đối phó với chúng ta. Hơn thế nữa, đang có một xu thế ngày càng mạnh trên thế giới hoan nghênh, cổ vũ sự phát triển năng động và vai trò tích cực của VN trên trường quốc tế. Nếu như trong tương lai gần đây, chúng ta thực hiện được dân già u nước mạnh, xã hội công bằng và văn minh, nước VN do đảng CSVN lãnh đạo sẽ lại một lần nữa giành được trái tim của các lực lượng tiến bộ trên toàn thế giới – một sự tập họp lực lượng mới, như đảng ta và nhân dân ta đã từng thực hiện được trong sự nghiệp chống Mỹ cứu nước. Bởi vì mục tiêu dân già u nước mạnh, xã hội công bằng và văn minh là khát vọng của nhân dân ta, đồng thời cũng là mong muốn của nhiều nước đang phát triển và các lực lượng tiến bộ trên toàn thế giới. Những lý luận hoặc mô hình nầy mô hình khác về xây dựng xã hội XHCN vừa qua có thể thất bại, nhưng xây đựng một xã hội XHCN chân chính vẫn là khát vọng của nhân dân lao động toàn thế giới. Xem xét thế giới như vậy, mặt trận của VN tập họp lực lượng trên thế giới ngày nay vẫn có triển vọng ngày càng mở rộng. Điều nầy hoàn toàn phụ thuộc vào đường lối của đảng ta và phẩm chất cách mạng của chúng ta.

    Tất cả phải đưa lên bàn cân, để có thể nhận định, phán đoán tình hình một cách đúng đắn, xác định chính xác nhiệm vụ phải thực hiện, để lo thu xếp, huy động thực lực bên trong, tập họp lực lượng bên ngoài và bài binh bố trận như thế nào để thăng bằng trong keo vật mới nầy!?

    Với đánh giá tình hình theo cách nhìn mới, có thể nói, sau một nửa thế kỷ phấn đấu đầy hy sinh gian khổ kể từ cách mạng tháng 8, bây giờ chúng ta mới cùng một lúc có được điều kiện bên trong tốt nhất và bối cảnh quốc tế bên ngoài thuận lợi nhất cho phép đặt ra được và thực hiện được dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng và văn minh, đáp ứng được đòi hỏi phải vươn ra thế giới bên ngoài để tồn tại và phát triển, để lấy lại thời gian đã mất và đuổi kịp các nước chung quanh. Có thể nói, đất nước đang đứng trước cơ hội chưa từng có trong lịch sử dân tộc ta.

    Đảng ta lãnh sứ mệnh lịch sử trước dân tộc là không bỏ lỡ cơ hội nầy. Đây chính là nhiệm vụ của đại hội VIII. Cũng có thể nói rằng, rụt rè bỏ lỡ cơ hội nầy, sẽ làm thảm họa cho đất nước, đảng ta sẽ đứng trước nguy cơ bị tước quyền lãnh đạo – chỉ vì không đáp ứng được đòi hỏi phát triển của đất nước. Xin nhấn mạnh rằng sau gần 200 năm kể từ khi kinh tế thế giới đi vào thời đại công nghiệp hóa, dân tộc VN ta bây giờ mới có lại cơ hội như vậy. Chúng ta không được và không có quyền để bất kỳ vướng mắc nào ngăn cản nhân dân ta nắm lấy cơ hội nầy. Sự tồn vong của đất nước phải được xem xét trên tất cả.

    2- Vấn đề “chệch hướng” hay không “chệch hướng”?

    Đề tài nầy đang được thảo luận rất sôi này trong đảng và cả trong nước, chắc chắn còn phải mất nhiều công sức để đi tới những kết luận có sức thuyết phục hơn.

    Về lý luận sẽ bàn sau.

    Về thực tiễn, phải chăng có thể căn cứ vào những tiêu chí cơ bản nhất sau đây để làm rõ định hướng XHCN, đó là:

    1- Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng và văn minh. 2- Phát triển gắn liền với giữ gìn độc lập chủ quyền và bản sắc văn hoá của dân tộc. 3- Phát triển gắn liền với phúc lợi xã hội và bảo vệ môi trường. 4- Xây dựng nhà nước của dân, do dân và vì dân có hiệu lực. 5- Đảng CSVN lãnh đạo toàn bộ quá trình phát triển nói trên của đất nước.

    Một vấn đề rất khó ở đây là sự tách bạch đúng đắn giữa mục tiêu và phương tiện thực hiện mục tiêu. Có làm tốt được việc nầy, mới xác định rõ được chệch hướng hay không chệch hướng.

    Ví dụ, nếu chúng ta cho rằng kinh tế quốc doanh giữ vai trò chủ đạo là một tiêu chí cho định hướng XHCN, nhấn mạnh rằng đó là mục tiêu phấn đấu của chúng ta, của dân tộc ta, thì điều nầy hoàn toàn không đúng. Thực ra vai trò chủ đạo của kinh tế quốc doanh chỉ là một trong nhiều điều kiện quan trọng, đồng thời cũng là một trong nhiều phương tiện quan trọng cần phải có để thực hiện được định hướng xã hội chủ nghĩa. Nghệ thuật lãnh đạo đất nước ở đây là phải xử lý hài hoà mối quan hệ giữa việc phát huy vai trò kinh tế quốc doanh và việc thúc đẩy các thành phần kinh tế khác phát triển, với đích cuối cùng là bảo đảm thực hiện được 5 tiêu chí nói trên.

    Chúng ta nhất trí rằng con đường xây dựng xã hội đi theo định hướng XHCN ở nước ta chưa có tiền lệ, chính vì lẽ nầy phải luôn tránh công thức hoá, phải bám lấy kết quả tổng thể trong việc thực hiện những tiêu chí lớn để soi rọi lại xem có chệch hướng hay không chệch hướng.

    Ví dụ có đồng chí nói biểu hiệu của chệch hướng là quốc doanh không làm chủ được lưu thông phân phối, tư thương hầu như chi phối thương nghiệp. Một biểu hiệu khác của chệch hướng – cũng theo cách nhìn như vậy – là trong giao thông vận tải tỷ lệ xe tư nhân chiếm quá cao…

    Cũng những sự việc nói trên, đúng ra phải được đánh giá hoàn toàn ngược lại.

    Sự thật là đường lối đổi mới đã tạo ra được một cơ chế kinh tế cho phép huy động mọi tiềm năng trong xã hội, nhờ đó đã xử lý có thể nói khá thành công vấn đề lưu thông hàng hoá và giao thông vận tải. Về phương diện nầy chúng ta đã thành công rất xa so với thời kỳ còn cơ chế kinh tế bao cấp. Bây giờ hàng hoá đi và về hầu như mọi miền đất nước, nhân dân trong cả nước đi lại dễ dàng hơn trước nhiều lần. Cũng nhờ đó, đời sống được cải thiện rõ rệt, nền sản xuất hàng hoá tăng trưởng nhanh. Chúng ta thử hình dung sự phát triển nầy đã huy động được biết bao nguồn nhân lực nhân tài trong xã hội, đã tạo biết bao công ăn việc làm mới cho người dân trong cả nước mà khu vực kinh tế nhà nước không thể lo xuể. Những năm trước khi thực hiện đổi mới, chúng ta đã có kinh nghiệm nếu không có sự phát triển nầy thì kinh tế tiêu điều và ách tắc như thế nào! Nếu coi sự phát triển nầy là chệch hướng, có nghĩa là chúng ta phải đem kinh tế quốc doanh ra đối lập lại với sự phát triển nầy, đối lập với tất cả những người lao động đang bỏ của và công sức để tạo ra sự phát triển năng động như hiện nay.

    Đương nhiên tình hình lưu thông phân phối và giao thông vận tải hiện nay chưa phải thật hoàn hảo. Song không thể giải quyết những vấn đề ta gọi là “tranh mua, tranh bán”, vấn đề đầu cơ, tai nạn lưu thông… bằng cách mở rộng màng lưới quốc doanh trong những lĩnh vực nầy. Đấy không phải là giải pháp. Trong những năm của cơ chế kinh tế cũ, quốc doanh hầu như nắm toàn bộ các lĩnh vực nầy và chúng ta đã biết kết quả. Ngày nay không ít xí nghiệp, đơn vị quốc doanh làm ăn trái với pháp luật, số lượng phương tiện giao thông vận tải của quốc doanh – trong đó có xe của đơn vị quân đội – tham gia buôn lậu khá lớn… Vì vậy, giải pháp cho những vấn đề nầy phải tiếp tục hoàn thiện thị trường, tăng cường chất lượng bộ máy nhà nước trong quản lý kinh tế, kiện toàn và tiếp tục phát triển các hệ thống tà i chính, luật pháp, những chính sách ưu đãi, hỗ trợ đúng hướng…, chứ không phải giao cho quốc doanh “nắm” tất cả.

    Cũng có ý kiến nói chệch hướng trong vấn đề hợp tác xã.

    Cần phải nói thẳng thắn mô hình hợp tác xã cũ không thích ứng với sự phát triển kinh tế hộ và những đòi hỏi mới trong quá trình phát triển kinh tế hiện nay của đất nước. Kết thúc sự tồn tại của mô hình nầy trong lĩnh vực nông nghiệp và tiểu công nghệ là tất yếu. Thực ra kinh tế hộ trong nông nghiệp, thủy sản, những người sản xuất tiểu thủ công nghiệp và không ít những người buôn bán nhỏ, sản xuất nhỏ đang rất cần một loại hình hợp tác xã mới có thể hỗ trợ thiết thực cho họ. Khuyết điểm của chúng ta là chưa đáp ứng được đòi hỏi mới nầy. Trong khi đó các hộ kinh tế này đang tự phát tổ chức với nhau những hình thức hợp tác thiên hình vạn trạng và ở những mức độ rất khác nhau, nơi thành công, nơi thất bại và không ít những kinh nghiệm đáng được nghiên cứu cho việc xây dựng mô hình hợp tác xã kiểu mới thích hợp. Khư khư giữ mô hình hợp tác xã cũ sẽ thất bại. (Vừa qua tôi đến thăm nông trường Sông Hậu. Thực chất đó không còn là một nông trường theo nghĩa xưa nay chúng ta vẫn hiểu. Đó chính là một mô hình hợp tác xã kiểu mới như chúng ta vẫn thường thấy ở các nước công nghiệp. Đây chính là mô hình cần được nghiên cứu).

    Song nguy cơ chệch hướng đang ẩn náu trong nhiều hiện tượng kinh tế xã hội khác nhau chưa được chú ý xử lý thỏa đáng. Đó là trình trạng là m ăn trái pháp luật, tham nhũng, tiêu cực đang trở thành “quốc nạn”, bao gồm những thói xấu như cục bộ, cửa quyền, tính vô chính phủ, cắt cử, tiêu sài lãng phí và ăn cắp của công… Những hiện tượng nầy đang làm giảm hiệu lực pháp luật và các hệ thống kinh tế quản lý (vĩ mô hay vi mô) của nhà nước, gây nhiều thiệt hại kinh tế nghiêm trọng, kể cả trong liên doanh với nước ngoài; kích thích kinh tế ngầm và các mafia, tăng thêm những căng thẳng trên các vấn đề như khoảng cách thu nhập, sự phân hoá và tệ nạn xã hội (đặc biệt những tệ nạn nghiện hút, cờ bạc, mãi dâm), vấn đề công bằng và công lý, v.v… Sẽ sai lầm, nếu đem tất cả những phát triển không lành mạnh này đổ cho cơ chế kinh tế thị trường. Kết luận như vậy sẽ chỉ còn có cách là xoá bỏ cơ chế thị trường, một điều ai cũng thấy là vô lý, và những hiện tượng xấu sẽ không thể vì thế tự nhiên biến mất (đành rằng cơ chế thị trường và nền kinh tế nhiều thành phần tự nó cũng đặt ra nhiều vấn đề mới phải xử lý).

    Để những hiện tượng nầy tiếp tục phát triển, sẽ có nghĩa nhà nước mất dần khả năng kiểm soát, sự trong sạch và vững mạnh của chế độ chính trị giảm sút, lòng dân phân tán, định hướng XHCN sẽ chỉ còn là khẩu hiệu trống rỗng. Chệch hướng và diễn biến hoà bình sẽ có thêm mảnh đất màu mỡ để bung ra. Trên phương diện nầy, rõ ràng hậu quả của những yếu kém trong năng lực quản lý nhà nước chưa được đánh giá đúng mức. Chỗ nào chúng ta cũng có đảng viên, cán bộ, song tình trạng tiêu cực vẫn có xu hướng phát triển.

    Đảng và các tổ chức cơ sở đảng, chính quyền các cấp, các đoàn thể, các bộ, ngành phải làm gì?

    Một vấn đề không thể tránh né là chúng ta thừa nhận sự phát triển của các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh đến mức độ nào để khỏi chệch hướng? Đề nghị cần trao đổi kỹ vấn đề nầy.

    Chúng ta đang đứng trước đòi hỏi khách quan là nước ta phải giàu lên càng nhanh càng tốt, để có sức cạnh tranh và có lực thu hút mọi nguồn vào từ bên ngoài, để giữ gìn độc lập tự chủ trong mở rộng hợp tác và phát triển. Chúng ta phải ráo riết tăng mạnh cường độ tích tụ vốn để có thể rút ngắn quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đã từng kéo dài hàng trăm năm trong lịch sử các nước công nghiệp xuống còn vài ba thập kỹ như một số “con rồng” ở Châu Á đã thực hiện. Không làm được như vậy sẽ mất thời cơ và mất tất cả. Chính đấy là những đòi hỏi ràng buộc chúng ta trong khi xử lý vấn đề phát triển các thành phần kinh tế.

    Hơn thế nữa, chúng ta còn phải đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, sao cho trong vòng mươi mười lăm năm tới chỉ còn trên dưới 1/3 lao động cả nước làm nông nghiệp, tỷ trọng công nghiệp trong GDP phải giảm xuống mức thấp trong quá trình tăng trưởng kinh tế. Không đạt được yêu cầu này, sẽ tăng thêm nguy cơ bần cùng hoá (bởi vì trong lĩnh vực nông lâm ngư nghiệp tài nguyên đất đai, rừng núi và ven biển đã được khai thác hầu như ở mức độ quá tải bằng công nghệ thủ công và lạc hậu), hoàn toàn không thể nói tới chuyển dịch cơ cấu kinh tế, công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Trong mở rộng liên doanh với nước ngoài, phần góp vốn của phía ta hiện nay thường chỉ đạt 20-30% giá trị công trình, vì chưa làm tốt việc huy động các nguồn lực trong nước, phía ta rất thiệt thòi v.v…

    Như vậy phải chăng câu trả lời sẽ là: Để đáp ứng những đòi hỏi vô cùng bức xức của phát triển, chúng ta chủ trương trong khi đối xử bình đẳng với tất cả thành phần kinh tế, chúng ta chấp nhận không đặt ra cho các thành phần kinh tế bất kỳ giới hạn phát triển nào, miễn là sự phát triển ấy cân đối hài hoà, ổn định, nằm trong khuôn khổ của lập pháp, nhà nước kiểm soát được và đáp ứng tối đa những tiêu chí lớn chúng ta đã xác định cho định hướng XHCN?

    Nếu chấp nhận đạo lý vừa trình bày trên, sẽ có nhiều vấn đề hệ trọng phải xem xét lại trong việc hoạch định đường lối và các chính sách. Có thể chính đạo lý nầy sẽ thống nhất ý chí toàn dân tộc trước vận mệnh mới của đất nước, tạo ra động lực không gì khuất phục được cho một nước VN dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng và văn minh, độc lập và bất khả xâm phạm đối với bất kỳ sức ép bên ngoài nào. Song nhằm đạt được mục tiêu nầy, năng lực quản lý nhà nước, quản lý kinh tế xã hội trở thành một trong những tiền đề quyết định – và đây là điều chính là điều chúng ta thiếu nhất. Xử lý thành công yêu cầu nầy là nhiệm vụ chính trị rất quan trọng của đảng ta hiện nay.

    Nhà nước Cộng hoà XHCN VN có phải ưu tiên phát triển thành phần kinh tế quốc doanh không?

    Như đã trình bày, đảng ta lựa chọn quan điểm đối xử bình đẳng các thành phần kinh tế. Lợi ích lâu dài của đất nước đòi hỏi phải quán triệt và kiên trì quan điểm này. Trừ một số lĩnh vực liên quan đến an ninh quốc phòng và phát triển cơ sở hạ tầng (bao gồm cả về mặt xã hội), không nên và không thể đặt vấn đề “ưu tiên” kinh tế quốc doanh, hay giao cho kinh tế quốc doanh nhiệm vụ “nắm” một thứ gì đó như chúng ta đã thường làm trong cơ chế quản lý cũ.

    Nhưng kinh tế quốc doanh thực sự đang có nhiều vấn đề quan trọng khác chưa được quan tâm đúng mức.

    Điều đáng lưu ý nhất là kinh tế quốc doanh nhìn chung chưa đem lại hậu quả mong muốn lớn nhất cho nền kinh tế quốc dân xứng đáng với vai trò, vị trí và vốn liếng nó nắm trong tay. Đối với chế độ chính trị của nước ta, kinh tế quốc doanh là lực lượng kinh tế quan trọng nhất trong việc thực hiện đường lối chủ trương kinh tế và phát triển đất nước của đảng. Chúng ta còn phải làm nhiều việc để cho kinh tế quốc doanh trở thành đội quân chủ lực mở đường cho kinh tế nước ta đi lên, hỗ trợ cho các thành phần kinh tế khác phát triển, làm chỗ dựa và có khả năng hạn chế bởi rủi ro cho kinh tế cả nước, tạo ra những tập đoàn mạnh trong cạnh tranh với bên ngoài. Cũng phải từ quan điểm vừa trình bày mà xem xét, bố trí kinh tế quốc doanh vào đâu, làm việc gì, với phương thức nào có lợi nhất. Ngoài ra cần làm cho kinh tế quốc doanh trở thành yếu tố năng động trong hệ thống điều hành kinh tế vĩ mô của nhà nước.

    Sự thật là năng suất lao động và hiệu quả của từng đồng vốn trong kinh tế quốc doanh (ở đây không kể đến những đơn vị kinh tế phải làm công ích xã hội hoặc phát triển cơ sở hạ tầng) nhìn chung còn thấp so với số vốn của các thành phần kinh tế khác trong xã hội. Tình trạng thất thoát và lợi dụng vốn quốc doanh còn ở mức nghiêm trọng. Hơn nữa, việc sắp xếp và cơ cấu lại kinh tế quốc doanh, cổ phần hoá, xây dựng các liên kết liên doanh còn rất chật vật, có nhiều sức tiêu cực chống lại. Ngoài ra chúng ta hiện nay mới chỉ quan tâm đến xử lý hiệu quả của các xí nghiệp, song chưa có sự quan tâm thoả đáng đến vấn đề chuyển đổi các xí nghiệp để huy động vốn quốc doanh tập trung vào những ngành nghề có thể chi phối sự phát triển kinh tế của cả nước, việc sắp xếp lại và giải thể những xí nghiệp không có hiệu quả kinh tế đáng kể thực hiện chưa tốt nên chưa tạo ra chuyển biến mới.

    Tóm lại để góp phần giữ được định hướng XHCN, đòi hỏi bức xúc là phải nâng cao tính hiệu quả của kinh tế quốc doanh, mhằm làm cho nó chiếm một vai trò chủ đạo trong thị trường nước ta chứ không phải là dành cho nó quyền “nắm” thứ nầy thứ khác.

    3- Nâng cao năng lực quản lý nhà nước.

    Đã có nhiều cuộc trao đổi về nhà nước pháp quyền. Tôi không đi vào lý luận của vấn đề nầy, mà muốn nhấn mạnh yêu cầu bức xúc phải nâng cao năng lực quản lý nhà nước, với nhận thức cho rằng yếu kém hiện nay của chúng ta trong nhiệm vụ quản lý nhà nước đang thách thức rất nghiêm trọng khả năng vươn lên của nước ta.

    Trước hết sống và làm việc theo pháp luật trở thành đòi hỏi ngày càng bức thiết của cuộc sống và sự nghiệp phát triển đất nước ta.

    Đòi hỏi tất yếu và không thể tranh cãi được này đang làm cho chúng ta lo lắng. Bởi vì một mặt, sự phát triển luật pháp và năng lực thi hành luật pháp chưa theo kịp đà phát triển của đất nước và xã hội ta hiện nay. Mặt khác, tình trạng sống và làm ăn trái với pháp luật chưa có xu thế giảm.

    Có thể nói chúng ta đã làm rất nhiều việc để tiếp tục phát triển hệ thống luật pháp, kết hợp với tăng cường các tổ chức thi hành luật pháp, nhưng kết quả chưa như mong đợi. Ngay bây giờ, tình trạng bất cập của bộ máy nhà nước và những vấn đề nóng bỏng trong đời sống kinh tế xã hội đã ở mức độ báo động. An ninh kinh tế, an ninh chính trị và an ninh xã hội đều có nhiều vấn đề đáng lo ngại do buông lỏng quản lý nhà nước. Chưa có thể nói chúng ta đã tạo ra một môi trường kinh tế xã hội thông suốt, minh bạch, rõ ràng cho từng người dân có thể an tâm làm ăn và được bảo hộ chu toàn trong làm ăn. Chúng ta chưa có một môi trường như vậy cho sự quản lý có hiệu quả của nhà nước. Giới đầu tư và kinh doanh nước ngoài mặc dù đánh giá rất cao sự ổn định chính trị và tiềm năng kinh tế của nước ta, nhưng còn e ngại rất nhiều về môi trường làm ăn ở nước ta. Không thay đổi căn bản tình hình nầy, ngay sự kiểm soát của nhà nước ta đối với mọi quá trình diễn biến trong xã hội nước ta ngày càng có nhiều hiện tượng “tuột tay”, “chệch hướng”.

    Hãy thử mổ xẻ tình trạng tham nhũng, tình trạng buôn lậu, trốn thuế, tình trạng móc ngoặc ở trong nước hoặc với nước ngoài trong kinh tế, tình trạng chồng chéo ách tắc trong điều hành và quản lý đất nước, rừng núi tài nguyên bị tàn phá trong thời bình, môi trường tự nhiên bị xâm phạm nghiêm trọng, cơ sở hạ tầng nhiều nơi không được gìn giữ, tình trạng dân kêu oan khiếu nại… chúng ta sẽ có được những thước đo khả năng chính xác về mức độ báo động này. Một trong những nguyên nhân chính là những yếu kém trong nhiệm vụ quản lý nhà nước.

    Phải chăng cho đến nay mọi cố gắng của chúng ta trên mặt trận nầy còn rất chấp vá, thiếu đồng bộ và chưa đụng chạm vào những khâu cơ bản nhất – nghĩa là chưa trúng vào những “nút” cần bấm để thay đổi hẳn tình thế? Xin nhắc lại rằng những năm trước đại hội VI và sau đó một ít, chúng ta loay hoay mãi trong việc ổn định giá cả và chống lạm phát nhưng không kết quả, phải chờ cho đến khi thiết lập được cơ chế kinh tế trên cơ sở thừa nhận giá trị thị trường chúng ta mới xoay chuyển được tình hình và đạt kết quả. Như vậy có việc phải đi tìm những cái “nút” để xử lý?

    Nói một cách khái quát, để tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước, chúng ta phải cùng làm một lúc và trong cùng một tổng thể những chủ trương chính sách hài hoà cả 3 việc lớn: kiện toàn bộ máy nhà nước, kiện toàn hệ thống điều hành và kiểm soát kinh tế vĩ mô, hoàn thiện và phát triển thị trường. Nghĩa là việc tăng cường cơ sở quyền lực của pháp luật phải gắn liền với việc nâng cao khả năng điều hành và việc tạo môi trường kinh tế xã hội thuận lợi cho sự hoạt động hữu hiệu của bộ máy nhà nước.

    Về kiện toàn bộ máy nhà nước.

    Có thể nói rằng hệ thống pháp luật và bộ máy nhà nước của chúng ta được chú ý cũng cố và phát triển, song hiệu lực của hệ thống bộ máy nhà nước và năng lực của cán bộ viên chức còn nhiều mặt không đáp ứng đòi hỏi của nhiệm vụ. Một hiện tượng rất nghiêm trọng khác là nhiều cơ quan thuộc bộ máy quản lý nhà nước sa vào các công việc kinh doanh và những sự vụ của cơ chế “chủ quản”, sao nhãng chức năng chủ yếu là quản lý nhà nước trong lĩnh vực của mình.

    Nói về hệ thống, điều quan trọng nhất là phải làm cho bộ máy nhà nước vận hành hoàn toàn trên cơ sở hiến pháp và pháp luật với những chức năng và kỹ năng ngày càng hoàn thiện, có quyền lực thực chất và hiệu lực mạnh trong toàn bộ lãnh vực của đời sống kinh tế xã hội. Đi vào thời bình xây dựng đất nước và khuyến khích sự năng động của các thành phần kinh tế cũng như của từng thành viên trong xã hội, càng đòi hỏi phải có hệ thống nhà nước như vậy, với yêu cầu phát huy được mọi tiềm năng, nhưng nhà nước vẫn kiểm soát đầy đủ. Đã đến lúc bộ máy nhà nước các ngành và các cấp phải đoạn tuyệt với cơ chế “chủ quản” và với bất kỳ hoạt động kinh doanh nào, phải được cải cách để làm đúng chức năng quản lý nhà nước. Phải xem đó là nội dung chủ yếu của nhiệm vụ cải cách hành chính.

    Chúng ta cần sớm khắc phục những ảnh hưởng còn lại của phương thức điều hành đất nước trong thời chiến với những đặc điểm như: cơ chế chính ủy, quyền lực quyết định tại chỗ, tính địa phương, cơ cấu bộ máy sắp xếp cán bộ theo yêu cầu chính trị, bộ máy của đảng song trùng và trên thực tế là có những việc đứng trên hoặc làm thay bộ máy chính quyền, cơ chế trách nhiệm không rõ ràng và sự yếu kém về nghiệp vụ do vận dụng nguyên tắc tập thể lãnh đạo cá nhân phụ trách v.v…

    Cũng có thể nói một cách khái quát, phải đẩy mạnh xây dựng nhà nước pháp quyền với mục đích nâng cao hơn nữa năng lực quản lý nhà nước của toàn bộ hệ thống bộ máy quyền lực, đồng thời tạo mọi điều kiện cần thiết cho việc bảo đảm thực hiện hiến pháp, pháp luật và chủ trương chính sách của đảng. Yêu cầu nầy đòi hỏi phải nâng cao khả năng nghiệp vụ và phẩm chất chính trị của các cơ quan, đơn vị và đội ngũ cán bộ viên chức trong hệ thống bộ máy quyền lực nhà nước ở trong tất cả các lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp. Hơn bao giờ hết phải nâng cao hơn nữa chất lượng thể chế hoá, chính huy hóa đối với bộ máy chính quyền, cơ chế làm việc và đội ngũ cán bộ viên chức nhà nước. Đây là đòi hỏi tất yếu bảo đảm thực hiện mọi chủ trương chính sách của đảng trong quá trình phát triển ngày càng cao của đất nước. Tình trạng hiện nay là không ít những chủ trương chính sách đúng đắn của đảng và luật lệ của nhà nước không thi hành được, nguyên nhân chính là thiếu yếu tố quyết định vừa nói trên.

    Một hướng khác trong đẩy mạnh cải cách hành chính là nên sớm từng bước thực hiện chế độ đào tạo, bổ nhiệm, bãi chức đối với cán bộ viên chức trong hệ thống hành pháp bao gồm cả những chức vụ chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố, quận, huyện, phường, xã. Đồng thời cần tăng cường quyền lực và khả năng hoạt động hữu hiệu của các cơ quan dân cử – bao gồm quốc hội, hội đồng nhân dân các cấp với nội dung: chú trọng tăng cường khả năng và quyền lực lập pháp của quốc hội, tăng cường quyền lực và khả năng giám sát của hội đồng nhân dân. Không nên nhầm lẫn coi hội đồng nhân dân là những cấp “lập pháp” địa phương dưới quốc hội. Cả nước chỉ có một cơ quan duy nhất có tính năng và quyền lực lập pháp là quốc hội.

    Nếu lên một hồ sơ về tổ chức của đảng hiện nay đang xen vào hệ thống bộ máy nhà nước, chúng ta sẽ thấy nhiều tầng, nhiều cấp chồng chéo, trên thực tế là làm giảm bớt sự lãnh đạo của đảng và hiệu lực của bộ máy nhà nước.

    Cần xác định rõ các tổ chức cơ sở đảng trong bộ máy nhà nước nói trên (Quốc hội, hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân các cấp) có nhiệm vụ chính trị hàng đầu là làm cho cơ quan của đảng bộ mình làm tròn chức năng quyền hạn nhà nước được giao. Các tổ chức cơ sở đảng không làm thay, không quyết định thay. Các tổ chức cơ sở đảng vì vậy cần được đổi mới và tổ chức lại một cách khoa học, cần được kiện toàn phù hợp với nhiệm vụ chính trị mới nầy. Công tác đảng cần làm tốt hơn nữa nhiệm vụ giáo dục, đào tạo đội ngũ cán bộ viên chức để đưa vào những cương vị thích hợp thông qua quy chế đào tạo, tuyển chọn bổ nhiệm, bãi miễn và sa thải rất nghiêm ngặt của hệ thống chính quyền.

    Quan điểm cần thông suốt là hệ thống bộ máy quản lý nhà nước mạnh, chủ trương chính sách của đảng mới được thực thi đầy đủ, và như vậy đảng mới mạnh. Đây còn là phương thức khắc phục tình trạng lộng quyền, coi thường pháp luật, mất dân chủ, mất đoàn kết, bản vị cục bộ…khá phổ biến ở một số đảng bộ cơ sở hoặc một số cấp ủy.

    Về kiện toàn hệ thống điều hành và kiểm soát kinh tế vĩ mô.

    Điểm mới ở đây là coi nhiệm vụ nầy là một vế không thể thiếu được trong nâng cao chức năng quản lý nhà nước. Bởi vì quyền lực của nhà nước chúng ta sẽ không còn hiệu lực nếu như nhà nước đó không có trong tay hệ thống điều hành và kiểm soát kinh tế vĩ mô có hiệu quả. Có lẽ vì thiếu điều kiện nầy, việc quản lý nhà nước của chúng ta còn nhiều sơ hở, vừa tăng thêm tính quan liêu đồng thời vừa kém hiệu quả.

    Trong tình trạng phải vận dụng kinh tế thị trường, phát huy mọi thành phần kinh tế trong xã hội và mở rộng kinh tế đối ngoại, luật pháp và các quy chế thường không đủ linh hoạt, không phát triển kịp hoặc không bao trùm hết được mọi vấn đề, lại càng đòi hỏi phải kiện toàn hệ thống điều hành và kiểm soát kinh tế vĩ mô.

    Yêu cầu trên đòi hỏi:

    - Phải tích cực phát triển hệ thống các luật pháp trong đó gấp rút nhất là luật dân sự (đang soạn thảo) và luật thương mại.

    - Phát triển và hoàn thiện hệ thống tài chánh tiền tệ – bao gồm cải tổ lại hệ thống thuế và các sắc thuế, hệ thông kiểm toán, kế toán, mở mang thị trường tà i chánh tiền tệ (hệ thống ngân hàng thương mại, các thị trường cổ phần, tín phiếu, chứng khoán…)

    - Hoàn thiện thị trường để tăng thêm khả năng làm chủ cơ chế thị trường.

    Điều đáng lưu ý ở đây là đảng ta ít nhiều còn coi những nhiệm vụ nói trên như một loạt công tác sự nghiệp đơn thuần, nghĩa là chưa coi đó là nhiệm vụ chính trị phải quyết tâm thực hiện. Thậm chí còn có ý kiến coi đó là những vấn đề thuộc về kinh tế tư bản chủ nghĩa. Đồng thời cũng phải thẳng thắn nhận xét rằng một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên trong các ngành luật pháp, tài chính, tiền tệ và trong hàng ngũ quản lý kinh tế, quản lý xí nghiệp có những nhận thức và hành động không đúng trong cơ chế kinh tế thị trường do nhà nước ta quản lý.

    Cần nhấn mạnh rằng muốn thực hiện phát triển kinh tế có định hướng, bắt buộc phải có hệ thống điều hành và kiểm soát nầy, nền kinh tế phát triển theo định hướng XHCN càng đòi hỏi như vậy. Nếu không, tính chất tự phát, vô chính phủ và những hệ quả xấu khác của kinh tế thị trường là không thể kiểm soát được.

    Về hoàn thiện và phát triển thị trường.

    Đây cũng là một vấn đề nhấn mạnh và cần thực hiện gắn liền với quá trình tăng cường quản lý nhà nước, nhằm tạo thêm một tiền đề kinh tế có ý nghĩa hết sức quan trọng để thực thi mọi luật pháp và thể chế của nhà nước.

    Yêu cầu tối thượng của vấn đề nầy là cuối cùng mọi hoạt động kinh tế của bất kỳ ai trong xã hội nước ta đều chịu sự cọ sát, sàng lọc của một thị trường rõ ràng, lành mạnh, được nhà nước kiểm soát, dẫn dắt bằng pháp luật, bằng các chế tài và bằng các biện pháp khuyến khích. Một nền kinh tế mạnh đòi hỏi phải có một thị trường hạn chế được xuống mức thấp nhất các hiện tượng đầu cơ, cửa quyền, độc quyền, kinh tế ngầm, các ma-phi-a, sàng lọc các hoạt động kinh tế kém hiệu quả, cung cấp những tín nhiệm hữu ích cho mọi quyết định của từng thành viên kinh tế trong xã hội, có khả năng huy động mạnh mẽ nguồn lực cho quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế.

    Với ý nghĩa nói trên, càng kiên trì định hướng XHCN, càng phải hoàn thiện và phát triển thị trường, càng phải đẩy mọi hoạt động kinh tế của toàn xã hội ra thị trường, không thể có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào (trừ một số hoạt động kinh tế phục vụ sự nghiệp, hạ tầng cơ sở, an ninh quốc phòng). Cũng vì lẽ nầy cần sớm xoá bỏ sự phân biệt hoặc sự hình thành các loại hình như: kinh tế dân sự, kinh tế đoàn thể, kinh tế đảng, kinh tế các lực lượng vũ trang v.v…

    Không có một thị trường và một chính sách về thị trường như vậy, sự kiểm soát của nhà nước sẽ kém hiệu quả, nguy cơ chệch hướng sẽ tăng lên, và kinh tế sẽ sớm đi vào trì trệ, ách tắc.

    Đương nhiên yêu cầu về thị trường nêu trên đòi hỏi phải có bộ máy hành chính có năng lực, hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện và hệ thống các chính sách điều hoà điều tiết đủ sức duy trì sự phát triển cân bằng, ổn định bảo đảm phát triển phúc lợi xã hội. Mang danh là nhà nước XHCN, nhà nước ta càng phải thực hiện tốt những đòi hỏi nầy.

    Với tinh thần và nội dung vừa trình bày, chúng ta nên coi 3 khâu công tác nói trên (kiện toàn bộ máy nhà nước, kiện toàn cơ chế điều hành vĩ mô, phát triển thị trường) là một tổng thể hữu cơ của nhiệm vụ tăng cường năng lực quản lý nhà nước.

    4- Xây đựng đảng.

    Có thể nói dự thảo báo cáo đánh giá khá đầy đủ những ưu điểm lớn trong nhiệm vụ cực kỳ hệ trọng là xây đựng đảng. Cần nhấn mạnh bản lĩnh của đảng ta, trước hết thể hiện qua sự vững vàng trước những biến động sâu sắc trên thế giới trong hai thập kỷ vừa qua và những thành tựu giành được trong sự nghiệp đổi mới. Cần khẳng định điều nầy để tự tin, để nâng cao hơn nữa ý chí cách mạng và tinh thần đổi mới.

    Song chúng ta đang đứng trước thực tế là tính tiền phong chiến đấu của đảng viên và của các tổ chức cơ sở đảng có nhiều mặt giảm sút, nhiều tổ chức cơ sở đảng chỉ hoạt động hình thức, hoặc tê liệt, thoái hóa. Quan hệ giữa đảng và dân ngày càng có nhiều vấn đề. Chàà- nào cũng có đảng viên, song tình trạng bê bối, tiêu cực ở các ngành, các địa phương khá phổ biến.

    Những hiện tượng nầy đang thách thức trực tiếp vai trò lãnh đạo của đảng.

    Đại hội VIII cần đem lại một động lực mới thực sự thúc đẩy sự chỉnh đốn và khả năng tự đổi mới của đảng. Bên cạnh việc rèn luyện ý chí cách mạng, cần đặc biệt phát huy dân chủ trong đảng, để đẩy mạnh đấu tranh chống những thoái hóa, để phát huy sức sống mới và trí tuệ mới của toàn đảng, đặc biệt là để có cơ sở vững chắc cho sự thống nhất ý chí và hành động trong toàn đảng và trong mọi cấp ủy.

    Dưới đây xin nêu lên một số vấn đề đáng lưu ý nhất trong nhiệm vụ xây dựng đảng.

    a) Xây dựng đảng về đường lối

    Có thể nói đây là nhiệm vụ hàng đầu. Có đường lối đúng sẽ có tất cả. Không nên tiếp tục cách suy nghĩ chỉ đơn thuần quy mọi nhiệm vụ, mọi mục tiêu không thực hiện được hoặc thực hiện không tốt cho việc thực hiện đường lối chưa tốt.

    Hơn thế nữa, cách mạng VN đang chuyển sang một giai đoạn mới, diễn ra trong một bối cảnh quốc tế hoàn toàn thay đổi so với thời kỳ còn tồn tại hệ thống thế giới XHCN, đòi hỏi đảng ta bắt buộc phải đề ra đường lối mới thích hợp. Trước hết là dựa trên cơ sở nhận định tình hình mới, đảng ta cần xác định chính xác những nhiệm vụ phải thực hiện, tính toán việc huy động lực lượng, và tổ chức thực hiện, xác định những thách thức phải vượt qua.

    Thực ra chúng ta đã bắt đầu công việc nầy và đề ra đường lối đổi mới. Sắp tới chúng ta phải tập trung nhiều công sức cho việc tạo ra động lực phát triển từ bên trong của đất nước.

    Vì lẽ đó, đổi mới chỉ là bước đầu của quá trình xây dựng một đường lối mới phù hợp.

    Trước mắt, có thể nói khái quát: mục tiêu chiến lược của chúng ta là thực hiện công nghiệp hoá đất nước theo định hướng XHCN, thực hiện dân giàu nước mạnh xã hội công bằng và văn minh.

    Chúng ta phải thực hiện nhiệm vụ chiến lược ấy trong bối cảnh quốc tế không có sự tồn tại của hệ thống thế giới XHCN; nước ta phải cọ sát, đương đầu cạnh tranh với cả thế giới, nhưng đồng thời cũng có cơ hội mở rộng quan hệ kinh tế với cả thế giới, có điều kiện tạo ra tập họp lực lượng mới. Bên cạnh thách thức kinh tế rất gay gắt, nước ta phải đương đầu với những thách thức quân sự và chính trị có lúc rất nhậy cảm và tế nhị.

    Có thể nói, đặc điểm nổi bật là nước ta hiện nay phải một mình đương đầu với tất cả, đồng thời cũng có khả năng tạo ra tập họp lực lượng bên ngoài hoàn toàn mới.

    Để giành được thắng lợi, chúng ta phải huy động mức độ cao nhất sức mạnh của toàn thể dân tộc ta và phải tập họp được lực lượng rộng rãi nhất trên trường quốc tế. Chỉ có như vậy nước ta mới tự bảo vệ được mình, tranh thủ được thời gian và khả năng sớm vươn lên thành quốc gia già u mạnh. Chỉ có như vậy, mới giữ được độc lập tự chủ, bảo vệ được toàn vẹn lãnh thổ, thoát khỏi hiểm họa tụt hậu, bảo vệ được thành quả cách mạng và chế độ XHCN.

    Vì những lẽ trên, động lực để thực hiện nhiệm vụ chiến lược nầy là hun đúc tinh thần quật khởi dân tộc và thực hiện mạnh mẽ dân chủ. Điều nầy chẳng những không trái, mà còn là tiền đề không thể thiếu được cho thực hiện định hướng XHCN ở nước ta. Đó chính là thực tiễn cách mạng VN trong bối cảnh quốc tế mới.

    Bây giờ độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội là nói với nội dung như vậy. Bởi vì, không tạo ra được thực lực nầy, sẽ không còn độc lập tự chủ và cũng không có định hướng XHCN.

    Trên chặng đường mới nầy của đất nước, hơn bao giờ hết là đảng cầm quyền, đảng ta cần giương cao ngọn cờ dân tộc và dân chủ. Đảng ta là lực lượng chính trị có đủ tư cách nhất và uy tín cao nhất để làm trọng trách nầy, nhất thiết không để ai nắm lấy. Đảng ta chẳng những phải phấn đấu vươn lên làm đội tiên phong của giai cấp, mà còn phải trở thành bộ phận tinh hoa nhất, tiêu biểu cho trí tuệ, nghị lực và phẩm chất cao quý của toàn thể dân tộc VN ta bao gồm cả toàn thể cộng đồng người VN ở nước ngoài đang hướng về tổ quốc.

    Phải chăng đây chính là một tư tưởng lớn, là nội dung cốt lõi của nhiệm vụ xây đựng đảng mà đại hội VIII cần làm rõ, là kim chỉ nam xây dựng đường lối và mọi chủ trương chính sách mới của đảng.

    b) Xây dựng đảng về tổ chức

    Có thể nói nhiệm vụ cách mạng VN chuyển sang giai đoạn phát triển mới, với những đặc điểm mới như đã trình bày trong những phân tích nêu trên. Song tổ chức của đảng về cơ cấu vẫn giữ như thời chiến. Đã đến lúc cần xem xét những gì có thể duy trì và nâng cao thêm, những gì cần cải tiến hay loại bỏ trong công tác xây dựng đảng về tổ chức cho phù hợp với những nhiệm vụ và đòi hỏi mới.

    Ưu điểm cần phát huy là đảng ta có một hệ thống tổ chức cách mạng, chẳng những đáp ứng nhu cầu lãnh đạo thắng lợi trong chiến tranh, mà còn đủ năng lực đưa đất nước vào thời kỳ đổi mới. Trên phương diện tổ chức, chúng ta cần nghiên cứu sâu, tìm hiểu những nguyên nhân và yếu tố gì đã giúp cho đảng ta chuyển mình được, đổi mới tư duy, đổi mới phương thức hoạt động, đem lại những thành quả chẳng những tránh cho đất nước khỏi sụp đổ trong cuộc khủng hoảng ác liệt vừa qua của hệ thống thế giới xã hội chủ nghĩa, mà còn mở ra triển vọng chưa từng có của sự nghiệp phát triển nước ta. Có thể nói, chúng ta chưa nghiêm túc làm tốt việc nghiên cứu, đúc kết những kinh nghiệm của vấn đề có ý nghĩa sống còn nầy.

    - Một vấn đề bức xúc khác đang đạt ra là: trong tình hình đòi hỏi phải tăng cường nhà nước pháp quyền (của dân, do dân và vì dân), mở rộng dân chủ để phát huy tối đa sự năng động của các thành phần kinh tế trong cơ chế thị trường, đảng ta cần được đổi mới và tăng cường về mặt tổ chức như thế nào? Chúng ta chưa nghiên cứu sâu vấn đề nầy. Có lẽ không thể đơn thuần tiếp tục duy trì tổ chức và phương thức sinh hoạt các tổ chức cơ sở đảng như hiện nay, bởi vì đã xuất hiện tình trạng đảng hầu như không có mặt hoặc không thâm nhập sâu được vào nhiều hoạt động kinh tế xã hội mới phát triển; hoặc tác dụng kiểm tra nắm bắt của đảng đối với những hoạt động rất yếu nầy, chưa thỏa đáng. Hiện nay, trong nông nghiệp kinh tế hộ giữ vai trò chủ yếu, lực lượng kinh tế các thành phần ngoài quốc doanh chiếm tới 60% GDP, cơ chế thị trường còn nhiều mảng nằm ngoài pháp luật, các hoạt động xã hội, văn hoá – lành mạnh và không lành mạnh, các hoạt động giao lưu với bên ngoài đang nở rộ… Vai trò và tác dụng thực chất của đảng đối với những phát triển này như thế nào?

    - Chúng ta khẳng định vai trò lãnh đạo duy nhất của đảng CSVN. Điều nầy đòi hỏi một mặt phải tăng cường khả năng lãnh đạo của đảng, mặt khác phải tạo ra được cơ cấu chính trị và môi trường xã hội đủ sức ngăn chặn xu thế quan liêu, độc đoán, mất dân chủ, xu thế xem thường và đứng trên pháp luật. Hơn thế nữa, vai trò lãnh đạo của đảng cần được tăng cường trên cơ sở mở rộng dân chủ trong đời sống kinh tế, chính trị, văn hoá của toàn xã hội. Như vậy tổ chức và phương thức sinh hoạt đảng cần phải được cải tiến như thế nào cho phù hợp? Mối quan hệ giữa đảng và nhà nước, giữa đảng và các đoàn thể nhân dân cần được thiết kế lại như thế nào?

    Đảng ta là đảng cầm quyền với nghĩa lãnh đạo đất nước dựa trên quan điểm cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, song nhất thiết không là m thay. Một đòi hỏi rất khó phải thực hiện là: đảng viên và các tổ chức cơ sở đảng phải đi đầu trong việc giữ gìn trật tự kỷ cương, nhưng lại phải biết phát huy sự năng động và khả năng sáng tạo của nhân dân theo định hướng của đảng. Đảng cần đặc biệt quan tâm nâng cao dân trí, giáo dục, phát huy và bảo vệ quyền công dân để phát huy sức mạnh của cả nước. Đó là sức mạnh của chính đảng ta, là con đường tiếp tục duy trì và tăng thêm sự chấp thuận tự nguyện của nhận thức sâu sắc nhất của toàn dân đối với vai trò lãnh đạo của đảng ta mà tình hình nhiệm vụ mới đòi hỏi, đồng thời là một trong những yếu tố quan trọng bảo vệ đảng.

    - Chúng ta thảo luận nhiều về nguyên tắc “dân chủ tập trung”, hoặc “tập trung dân chủ”. Tôi đề nghị bỏ cách suy nghĩ rất công thức như vậy. Nên chăng khẳng định lại một cách không thể hiểu lầm như sau: Để huy động trí tuệ của toàn đảng và bảo vệ sự trong sáng trong đảng, cần phải triệt để dân chủ; đồng thời để bảo đảm sức chiến đấu của đảng mọi đảng viên phải tuyệt đối tuân theo điều lệ và phục tùng các nghị quyết của đảng. Tổ chức và phương thức sinh hoạt đảng cần được đổi mới nhằm đáp ứng tốt yêu cầu nầy. Trong thực tiễn hiện nay, đảng ta đang đứng trước yêu cầu phải đẩy mạnh đấu tranh chống các hiện tượng vô tổ chức vô chính phủ, cực bộ bản vị (đặc biệt trong lĩnh vực kinh tế), đồng thời nghiêm túc thực hiện những nguyên tắc dân chủ trong đảng.

    Có thể nói công tác nghiên cứu đường lối chính sách, nghiên cứu tình hình và con đường phát triển của đất nước, công tác bồi dưỡng đảng viên, công tác tuyển chọn, bố trí cán bộ… của chúng ta hiện nay chưa đáp ứng yêu cầu nâng cao vai trò lãnh đạo của đảng. Hiện nay nếu nhìn vào lịch sử quá trình hình thành sự nghiệp đổi mới, chưa thể nói đảng ta thực sự đi tiên phong về mặt tư duy, đang đào tạo ra đủ và bố trí được lực lượng cán bộ xuất sắc theo kịp đòi hỏi của đất nước; cũng chưa thể nói trình độ tư tưởng, lý luận của tuyệt đại đa số đảng viên phù hợp với những đòi hỏi mới của nhiệm vụ cách mạng. Tiếp tục công tác đào tạo và bố trí cán bộ như hiện nay còn tăng thêm nguy cơ cục bộ, địa phương chủ nghĩa và cắt cử, tăng thêm tính cơ hội dựa dẫm hoặc nguy cơ bè phái trong đảng, khó là m bộc lộ và đào tạo nhân tài, khó tạo ra sinh lực mới cho những đảng bộ hoặc tổ chức cơ sở đảng yếu kém… Chúng ta phải nhìn thẳng vào những mặt còn thiếu sót để tự chỉnh đốn, tự vươn lên.

    Có thể kết luận, trên con đường đi lên đầy gian khổ và thử thách của đất nước, phải chăng cái khó nhất hiện nay là tình trạng trình độ, phẩm chất cán bộ đảng viên chưa theo kịp sự phát triển của đất nước?

    Tình trạng bất cập với đòi hỏi của nhiệm vụ là nguy cơ lớn đối với đảng. Cần gấp rút sắp xếp, cải tiến các ban, viện của đảng. Đặc biệt cần nhấn mạnh giáo dục cho đảng viên chủ nghĩa yêu nước với nội dung sớm làm cho đất nước già u mạnh, cần nâng cao ý chí của đảng viên phấn đấu thực hiện các mục tiêu của đảng, trau dồi những tri thức mới mà nhiệm vụ mới của đảng đòi hỏi.

    Hơn bao giờ hết, nâng cao năng lực lãnh đạo và phẩm chất cách mạng của đảng, nâng cao năng lực quản lý nhà nước của chúng ta là hai nhân tố quyết định nhất để nắm lấy thời cơ đang đến với đất nước.

    Xin trình bày để các anh tham khảo.

    Võ Văn Kiệt

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    6 phản hồi

    Hầu như đa số mọi người từ khi có Internet vào Việt Nam (năm 1998-1999) bắt đầu mới có ý thức về những khái niệm dân chủ/nhân quyền, đa nguyên, đa đảng. Hay những ý kiến phản tỉnh/cấp tiến của những nhà lãnh đạo kiểu Võ Văn Kiệt,Trần Xuân Bách, Bùi Tín...Huặc trí thức kiểu Hà Sĩ Phu.

    Hay những người trí thức có điều kiện sống ở nước ngoài xuất khẩu về Việt Nam.

    (Cố nhiên những người này biết đến nhiều hơn vì tên tuổi và bài viết của họ được quăng lên Internet mà thôi)

    Tôi nhớ vào thập niên 80 của thế kỷ trước, khi tôi còn thiếu niên, có một người bạn của cha tôi đến mang cho cha tôi một tập tài liệu đánh máy (hồi đó chưa có máy photo), có lẽ ông bạn của cha tôi chắc cũng copy vài bản cho những người khác!?

    Hồi bé, xem loáng thoáng có đề cập đến quyền con người, vì lâu không nhớ rõ nhưng đại khái nói từ lúc người vượn cho đến người hiện đại (tôi ấn tượng vào hình vẽ mà nhớ lại)

    Chẳng biết ông bạn của cha tôi còn chuyển cho ai nữa thì không biết nhưng sau này cha tôi nói ông đó bị công an bắt đưa vài bệnh viện tâm thần. Thời gian đó khoảng xấp xỉ thời kỳ mới đổi mới năm 1986.

    Chứng tỏ cái khái niệm dân chủ, nhân quyền, quyền con người không chỉ người phương Tây phổ biến quảng đại khắp thế giới, mà ngay trong tiềm thức người dân đen, người trí thức Việt dù ít có điều kiện tiếp cận thông tin họ đã mù mờ, manh nha nghĩ đến.

    Anh Hung viết:
    Võ Văn Kiệt hay Nguyễn Văn An đều phê phán ĐCS VN sau khi đã về vườn. Thời còn ở đỉnh cao quyền lực thì các ông này chủ yếu vì đảng CS hơn là vì dân. Nói chung các ông này không muốn ĐCS VN bị mất quyền lực cai trị độc đảng ở Vn vì con cháu của các ông đang hưởng lợi quá lớn từ cái thể chế độc tôn này. Việt nam thực rất khó có các lãnh đạo chóp bu CS như Mikhail Gorbachev, Boris Yelsin nói và làm khi đang ở đỉnh cao quyền lực :" Cộng sản không thể nào sữa chữa, mà cần phải đào thải nó." Chỉ có vậy thôi.

    Ông Võ Văn Kiệt làm Thủ tướng VN từ 8/8/1991 đến 25/9/1997. Bức thư này ông gửi tới BCT ĐCSVN năm 1995 khi ông đang làm thủ tướng. Chính vì vậy nó được đóng dấu tuyệt mật.

    Võ Văn Kiệt hay Nguyễn Văn An đều phê phán ĐCS VN sau khi đã về vườn. Thời còn ở đỉnh cao quyền lực thì các ông này chủ yếu vì đảng CS hơn là vì dân. Nói chung các ông này không muốn ĐCS VN bị mất quyền lực cai trị độc đảng ở Vn vì con cháu của các ông đang hưởng lợi quá lớn từ cái thể chế độc tôn này. Việt nam thực rất khó có các lãnh đạo chóp bu CS như Mikhail Gorbachev, Boris Yelsin nói và làm khi đang ở đỉnh cao quyền lực :" Cộng sản không thể nào sữa chữa, mà cần phải đào thải nó." Chỉ có vậy thôi.

    Sự ra đi có phần đột ngột và nhiều nghi vấn của ông VVK, cũng như những kiến nghị của ông đã bị bỏ lơ (, lên án?) bởi Đảng của ông, cho thấy một điều là:

    Đảng CSVN đã không còn khả năng tự đổi mới, nó là một bộ máy khô cứng và đã chết chắc.

    Cho đến hiện nay, sau ĐH-11, câu hỏi mà ông Kiệt đặt ra trước đây, nay đã hoàn toàn được sáng tỏ:

    "phải chăng cái khó nhất hiện nay là tình trạng trình độ, phẩm chất cán bộ đảng viên chưa theo kịp sự phát triển của đất nước?"
    (Trích Võ Văn Kiệt)

    ĐH-11 của ĐCSVN đã trả lời ông Kiệt: "Thế đấy, chúng ông đếch cần theo kịp, làm gì nhau nào?"

    Đểu thật.

    Ông Võ Văn Kiệt này có phần khác Võ Văn Kiệt thời làm bí thư TP HCM, bắt giam tù cải tạo và đánh cướp tư sản ...

    Chẳng hiểu là ông ta hiểu rõ hơn tổ chức đảng, hối hận hay chỉ là nói huề vốn để có tiếng ?

    Về nguyên tắc “dân chủ tập trung” là do ông Hồ Chí Minh đưa ra đấy chứ chẳng phải ai khác đâu

    Đừng để người nghèo bị gạt ra bên lề.

    Kinh tế mấy năm qua vẫn tăng trưởng khá, nhưng sau những bão lụt - thiên tai, cuộc sống của người dân lại đang phải trải qua những đợt giá cả thiết yếu bất ổn liên tục. Người nghèo - những hộ thu nhập thấp, những người phải chạy ăn từng bữa - trên thực tế chỉ được thụ hưởng rất ít các kết quả tăng trưởng, trong khi chính họ phải gần như lãnh trọn những hậu quả do lạm phát đang diễn ra. Muốn đất nước có được sự phát triển bền vững, tôi cho rằng chúng ta không thể thiếu những chính sách cốt lõi để giải quyết căn cơ vấn đề dân nghèo.

    Cam kết lịch sử.

    Trong suốt hai thập niên đổi mới, Đảng và Nhà nước đã có nhiều nỗ lực để xóa đói giảm nghèo. Tỉ lệ người nghèo, tính theo chuẩn mực quốc tế (có mức sống dưới 1 Mỹ kim/ngày), đã giảm từ 58% năm 1993 xuống 14,7% năm 2007. Một số viên chức quốc tế đã đánh giá cao những nỗ lực của Việt Nam. Nhưng những đánh giá ấy chủ yếu dựa trên các báo cáo trong nước và chúng ta hiểu khoảng cách giữa thực tế và báo cáo là còn đáng kể.

    Tôi nhớ cách đây không lâu, báo chí phát hiện thêm rất nhiều nhà tranh vách đất ở một số địa phương mà theo báo cáo trước đó đã "100% ngói hóa". Mặt khác, dù phần lớn dân chúng đã "thoát nghèo" nhưng chỉ cần sau một mùa bão lụt, sau một đợt rét hại, những thành quả kinh tế mà những người dân này tần tảo để có lại gần như bị xóa sạch. Tôi vừa đến một số vùng như vậy và không khó lắm để thấy người nghèo đang chiếm một tỉ lệ lớn thế nào, đang phải sống vất vả ra sao.

    Chăm lo cho người nghèo hiện nay không đơn giản chỉ là thực hiện một cam kết có tính lịch sử, mà còn là bảo vệ tôn chỉ mục đích của một đảng cách mạng luôn nhận mình đứng về phía nhân dân. Thực hiện cam kết đó không chỉ căn cứ vào những chính sách trực tiếp, mà trước khi ban hành những chính sách lớn cần phải phân tích, đánh giá sâu sắc những tác động của chúng lên các tầng lớp dân nghèo.

    Chúng ta chưa có những đánh giá đầy đủ về tiến trình công nghiệp hóa xảy ra ở các vùng nông thôn và đặc biệt là nông thôn miền núi. Tiến trình này đúng là đã góp phần làm tăng trưởng kinh tế, đưa được một số nông dân vào lao động trong các công xưởng sử dụng lao động đơn giản. Nhưng mức tiền công quá thấp mà những nông dân này được trả không đủ tạo lập vị trí kinh tế cho họ, nói chi đến địa vị chính trị vinh dự mà chúng ta thường đề cập của giai cấp công nhân.

    Công nghiệp hóa, đô thị hóa là một hướng đi cần thiết nhưng phải cân nhắc lợi ích lâu dài. Khi trở lại một số địa phương, thăm một số công trình, trong đó có những công trình được bắt đầu từ khi tôi còn công tác ở Chính phủ, tôi rút ra bài học rằng: nếu đô thị hóa hay công nghiệp hóa mà không cân nhắc đầy đủ sẽ dễ dẫn đến tình trạng các ngôi nhà, làng bản, thị trấn đặc trưng của các vùng cao dần được thay thế bằng những ngôi nhà, phố xá chen chúc, hình ảnh vẫn thường thấy ở vùng xuôi. Khi đó chúng ta không chỉ gây ra những tổn thất về văn hóa mà còn đánh mất cả lợi ích kinh tế lâu dài.

    Đầu tư phát triển, một mặt không thể thiếu những giải pháp bảo tồn tài nguyên thiên nhiên, gìn giữ bản sắc văn hóa; mặt khác phải có chính sách để người nghèo, đặc biệt là nông dân, bà con các vùng nông thôn, vùng dân tộc... không bị gạt ra bên lề tiến trình phát triển, nhất là tiến trình xây dựng các khu đô thị, nhà máy trên làng bản, ruộng đất lâu đời của họ.

    Từ thiện không thể thay chính sách

    Chúng ta nghiên cứu và giảng dạy khá đầy đủ về sự dã man của tư bản trong giai đoạn "tích lũy tư bản hoang dã”. Nhưng chúng ta đã chưa cập nhật để thấy khả năng tự điều chỉnh ở các quốc gia này. Phúc lợi cho người lao động, người nghèo ở nhiều nước tư bản hiện cao đến mức mà tôi nghĩ các nhà lý luận rất cần tham khảo. Kinh nghiệm sau hơn hai thập niên đổi mới cho thấy không thể có "công bằng" đúng nghĩa trong một xã hội mà tất cả đều nghèo (như chúng ta thời bao cấp).

    Cũng không thể cào bằng bằng cách điều tiết hết lợi ích của người giàu để chia cho người nghèo. Xã hội sẽ không phát triển nếu không có chính sách kích thích một bộ phận dân chúng vươn lên làm giàu chính đáng. Nhưng, nếu không có chính sách hợp lý và không chống được tham nhũng để quá trình "tích lũy tư bản" diễn ra như thời "hoang dã” (nhờ hối mại quyền lực và có được đặc quyền khai thác tài nguyên, đặc biệt là tài nguyên đất đai), thì không bao giờ tạo ra được công bằng và sự phát triển bền vững.

    Có lẽ chưa có một quốc gia nào bày tỏ sự quan tâm đến người nghèo một cách thường xuyên như ta. Thậm chí với nhiều người, nó đã dần trở thành một thứ khẩu hiệu. Sự quan tâm đến người nghèo bằng các phương tiện truyền thông, qua các bài phát biểu, cuộc nói chuyện hay bài viết, tôi nghĩ là đã quá đủ. Nhưng chúng ta hãy nhìn vào các số liệu điều tra sau đây của UNDP để thấy chúng ta đã thật sự làm được những gì: nhóm 20% những người giàu nhất ở Việt Nam hiện đang hưởng tới 40% lợi ích từ các chính sách an sinh xã hội của Nhà nước; trong khi nhóm 20% những người nghèo nhất chỉ nhận được 7% lợi ích từ nguồn này.

    Gần như thường xuyên chúng ta chứng kiến những hoạt động quyên góp, đấu giá... được tổ chức rầm rộ trên truyền hình, phần lớn những hoạt động ấy do UBTƯMTTQVN tổ chức. Tôi không phản đối cách làm đó, nhưng tôi nghĩ công việc ấy để các nhà hoạt động từ thiện chuyên nghiệp hoặc bán chuyên nghiệp, các nhà hảo tâm làm thay thì tốt hơn rất nhiều.

    Theo kinh nghiệm của tôi, những người có nguyện vọng từ thiện đúng nghĩa thường chọn cách làm từ thiện trực tiếp hoặc thông qua các tổ chức từ thiện chuyên nghiệp, vì họ tin đồng tiền đi qua các tổ chức như thế sẽ không bị xà xẻo trên đường đến với người nghèo. Những người muốn giúp đỡ người nghèo thay vì dùng tiền bạc để mua danh và khoa trương, thường không chọn cách làm từ thiện theo kiểu "đấu giá” ồn ào trên các phương tiện thông tin đại chúng. Có tạo được những nền tảng pháp lý cho xã hội dân sự phát triển, để những tổ chức từ thiện đúng nghĩa có thể xuất hiện thì tình cảm cộng đồng mới thức dậy một cách chân thành, người nghèo từ đó mới được phần nào chia sẻ.

    Tuy nhiên, các hoạt động từ thiện chỉ có thể khơi gợi một nguồn lực khác của xã hội chứ không thể thay thế các chính sách của Nhà nước. Sứ mệnh chính trị của những tổ chức như Mặt trận, vì vậy lớn hơn là việc quyên góp, xin - cho rất nhiều. Mặt trận có thể tham gia xóa đói giảm nghèo một cách hiệu quả hơn, thông qua việc đề xuất và phân tích chính sách, sao cho: lợi ích từ các nguồn tài nguyên quốc gia được phân phối hợp lý cho các chủ nhân của nó; người nghèo được hỗ trợ để có thể tiếp cận được với những quyền lợi căn bản nhất.

    Đầu tư của Nhà nước vào các công trình phúc lợi y tế, giáo dục, văn hóa... không nên tập trung ở các đô thị, nơi mà các nguồn lực khác của xã hội có thể tham gia. Nhà nước cũng cần sớm hoàn thiện các thiết chế như: bảo hiểm y tế, quĩ trợ cấp, tín dụng giáo dục... cho người nghèo ở cả đô thị và nông thôn.

    Tạo điều kiện cho người có năng lực, có khát vọng có thể làm giàu tối đa nhưng cũng không bỏ mặc những người không có khả năng tự bươn chải. Chấp nhận một khoảng cách không thể tránh khỏi giữa tầng lớp những người giàu và nghèo, nhưng phải nâng được mặt bằng mức sống của người nghèo lên để họ có thể tiếp cận được những phúc lợi tối thiểu về nhà ở, y tế, giáo dục; để không có người dân nào không được chữa bệnh, không được đi học chỉ bởi vì họ nghèo.

    Võ Văn Kiệt - nguyên Thủ tướng CHXHCNVN

    Tuổi Trẻ