Vũ Quang Việt - Kinh tế Việt Nam và những vấn đề cần giải quyết

  • Bởi Admin
    07/01/2011
    0 phản hồi

    Vũ Quang Việt

    Năm 2010 sắp khép lại. Có lẽ cũng là lúc nên có vài suy nghĩ về nền kinh tế Việt Nam. Năm 2010 khá đặc biệt vì nó là năm bản lề, khép lại thời gian hoạt động của chính phủ cũ và mở màn cho một chính phủ mới. Đây là thời gian khởi đầu từ năm 2006, sau khi Việt Nam đã hoàn toàn hoà nhập với nền kinh tế giới, với tất cả các rào cản mà các nước dựng lên che chắn, hoặc tự mình dựng lên che chắn đã được xoá bỏ. Từ mốc 2006, Việt Nam đã trở thành thành viên bình thường của tất cả các định chế quốc tế quan trọng, từ IMF, World Bank, cho tới WTO và cũng là thành viên của các tổ chức mang nhiều tính chính trị hơn như ASEAN, APEC, kể cả việc được bầu làm thành viên không thường trực trong Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc, cũng như đảm nhiệm các vai trò quan trọng như là nước chủ nhà tổ chức hội nghị APEC và chủ tịch ASEAN.

    Sự nổi lên về mặt chính trị quốc tế như thế lại không đi kèm với sự nổi lên về mặt kinh tế. Đáng thất vọng là việc trở thành thành viên tổ chức WTO, sau hàng chục năm vật lộn với đòi hỏi cải cách của tổ chức này, khơi dậy được sự tin tưởng của cộng đồng giới làm ăn trên thế giới rằng một con rồng mới sẽ xuất hiện, kéo theo được dòng đầu tư khá ồ ạt từ nước ngoài đổ vào Việt Nam, thì ngọn lửa hy vọng bùng lên từ đó hình như đang heo hắt và lịm dần. Ngay cả sự tin tưởng của người dân trong nước vào sự vận hành trơn tru của nền kinh tế cũng đang mất dần. Điển hình là các hành động găm giữ vàng và ngoại tệ của doanh nghiệp và người dân vào cuối năm 2010 để bảo vệ tài sản do lạm phát gây ra, đang lập lại tình trạng lạm phát phi mã của năm 2008.

    Bài này sẽ nếu ra một số yếu kém mà nền kinh tế Việt Nam phải vượt qua, phản ánh những phân tích tác giả đã làm từ nhiều năm nay.

    1. Ổn định giá cả là ưu tiên số một của chính sách phát triển

    Hitler và Phát xít Đức nổi lên được vì người dân Đức không thể chấp nhận được lạm phát phi mã sau thế chiến thứ nhất. Tưởng Giới Thạch bị đẩy khỏi lục địa cũng vì người dân mất hoàn toàn tin tưởng vào chính quyền này khi không kiểm soát được lạm phát. Chính vì thế mà sau thế chiến thứ hai, Đức và Đài Loan là hai nước đã có chính sách triệt để không để lạm phát ngóc cổ dậy.

    Việt Nam chính vì phải đối phó với nạn lạm phát phi mã có lúc lên tới gần ngàn phần trăm vào những năm 80, đã phải cải cách một cách triệt để. Nhưng tiếc thay nạn lạm phát sau khi bị kéo xuống mức gần mức zero, tạo nên thời gian ổn định khá dài và sự phấn khởi của người dân, đã trở lại trong năm năm qua. Không những thế những người làm chính sách gần như vẫn chưa cảm thấy sự nguy hiểm của nó, bởi vì không thể không ngạc nhiên khi mà chính quyền vài năm nay vẫn đề nghị và lại được Quốc Hội chấp thuận với chỉ tiêu lạm phát ở mức 7%, một tỷ lệ lạm phát mà khó có một nước đặt ưu tiên ổn định lên hàng đầu lại có thể chấp nhận được [năm nay, lạm phát lên tới 12% - Diễn Đàn]. Không thể coi sự mất giá trên 70% trong 5 năm qua là bình thường. Đối với người có đồng lương cố định thì họ sẽ ngày càng nghèo đi rõ rệt.

    2. Phải xoá bỏ tư tưởng chạy theo tốc độ GDP để tạo sự ổn định về giá cả

    Tư tưởng chạy theo tốc độ tăng trưởng ở mức 9-10% rồi xuống mức 7-8% những năm gần đây cũng đều không đạt được mà lạm phát lại tăng, nợ nước ngoài và nợ của chính phủ cũng tăng mạnh, đồng thời nhập siêu lớn vẫn chưa có lời giải.

    Biểu 1: Nợ nước ngoài của chính phủ (kể cả được chính phủ bảo lãnh) (đơn vị: Tỷ đồng US)
    Screenshot_2.png
    Nguồn: Bản tin số 5 của Bộ Tài Chính.

    Nợ nước ngoài đã tăng hơn gấp đôi trong 4 năm qua, từ 16 tỷ USD lên trên 37 tỷ (chỉ kể đến năm 2009), bằng 39% GDP. Nợ của chính phủ chưa tính đầy đủ (vì chưa gồm nợ hưu trí) cũng đã tăng lên trên 52% GDP. Những tỷ lệ này hoặc đã vượt hoặc gần với nhưỡng của an toàn. Tuy nhiên do dự trữ ngoại tệ mỏng, đòi hỏi ngoại tệ cho nhập siêu để đáp ứng chỉ tiêu tốc độ phát triển lớn hơn khả năng (đặc biệt là bành trướng đầu tư từ khu vực nhà nước) sẽ tiếp tục làm giảm nhanh nguồn dự trữ này xuống tới mức khủng hoảng.

    Đặc biệt nghiêm trọng là nợ nước ngoài đang tăng nhanh, ở mức 43% năm 2009. Quan trọng hơn nữa là nợ của doanh nghiệp không được nhà nước bảo lãnh (chủ yếu là của doanh nghiệp quốc doanh) mượn với lãi suất cao trên thị trường cũng tăng nhanh, hơn gấp đôi năm 2009. Việc Vinashin không trả được nợ, đã làm lãi suất vay của doanh nghiệp Việt Nam trên thị trường thế giới tăng hơn 2.5 %, là điển hình của loại nợ nói ở trên.

    3. Tập trung vào sản xuất có chất lượng, xoá bỏ tham nhũng

    Tăng chất lượng, xoá bỏ tham nhũng là điều nói dễ, làm khó, và ngày càng trở nên khẩu hiệu tuyên truyền, nói cho có nói, không những của chính phủ mà còn của cả những người phê phán chính phủ.

    Tính khoa học đòi hỏi phải có những tiêu chí đánh giá dự án rõ ràng minh bạch, và sau đó đánh giá chất lượng những công trình đầu tư đã hoàn thành của nhà nước, để chấm dứt các tỉnh tranh nhau đầu tư không có nhu cầu, và nếu có đầu tư thì chi phí tốn kém, nợ tiếp tục chồng chất mà chất lượng kém cỏi, cần đại tu ngay sau khi hoàn thành.

    Việc bảo đảm chất lượng này có thể nói là vượt ngoài khả năng của bất cứ một nhà kinh tế và kỹ thuật nào. Nó là vấn đề chính trị và xã hội. Khi mà người dân và nhà khoa học không có tiếng nói và tham gia thật sự vào quá trình thông qua dự án và kiểm tra chất lượng, chống lại hệ thống tham nhũng quyền hành đang hoành hành thì không thể giải quyết được tình hình.

    Một bài tính nhỏ sau đây cho thấy ăn cắp của công có thể đã rất lớn, đặc biệt thông qua tiền phải “cưa” cho nhà nhập khẩu và người kêu thầu. Số tiền này thường được để ở nước ngoài và sau đó chuyển vào Việt Nam dưới dạng kiều hối.

    Bảng 2: Kiều hối hàng năm - báo cáo hàng năm của VN cho Ngân hàng Châu Á (đơn vị: triệu USD)
    Screenshot1.png

    Ta có thể thấy số kiều hối tăng nhanh, điều đó là tốt cho quốc gia, nhưng cũng nên tự hỏi là nguồn gốc kiều hối này có thể giải thích được không? Hiện nay, số lao động Việt Nam làm việc ở nước ngoài là 66 ngàn người, số kiều bào là 3.0 triệu, nếu trừ đi kiều bào ở những nơi khó có thể có đóng góp đáng kể như ở Campuchia, Lào, v.v. thì toàn bộ số người có thể gửi số tiền đáng kể về Việt Nam là 2.5 người. Như vậy tính trung bình, mỗi người gửi về một năm là 1200USD năm 2005 và năm 2010 là 2800 USD. Một con số cao khó lòng tưởng tượng được, ngày cả trên cơ sở tính theo hộ gia đình. Nếu so với Philippines năm 2010, số lao động ở nước ngoài là 4.8 triệu và số tiền kiều hối là 10.7 tỷ USD thì trung bình mỗi người gửi về một năm là 2200 USD. Nhưng nên nhớ là người lao động ở nước ngoài có khuynh hướng gửi toàn bộ số tiền để dành về còn kiều bào ở nước ngoài thì hành vi sẽ khác hẳn.

    Toà án Philadelphia ở Mỹ vừa xử tội hối lộ của một công ty bán hàng cho các công ty quốc doanh Việt Nam cho thấy số tiền hối lộ ở mức 15-20% giá trị nhập.

    Nói chung, tham nhũng làm sói mòn mọi tin tưởng vào tương lai tốt đẹp của xã hội.

    4. Vai trò của quốc doanh

    Có lẽ ít ai lại chủ trương xoá bỏ quốc doanh ngay lập tức. Nhiều nước trong giai đoạn đầu đã sử dụng quốc doanh như công cụ tập trung vốn, mở rộng sản xuất, tạo dựng sức mạnh của nền kinh tế quốc gia rồi sau đó tư hữu hoá vì cần động lực phát triển của tư sản cá nhân. Ta thấy nhiều nước đã thành công trong chiến lược ngắn hạn này như Hàn Quốc, Singapore một số nước Tây Âu như Đức, Pháp, Anh và hiện nay may ra có thể là Trung Quốc.

    Ta thấy thành công đòi hỏi hai điều kiện: luật pháp và kỷ cương được tôn trọng và người tài được sử dụng. Trong một xã hội thiếu kỷ cương và luật pháp minh bạch thì chỉ có người bất tài và lanh ma mới có thể nổi lên. Sự thất bại của quốc doanh Việt Nam cho đến hôm nay nói lên rằng những tiền đề nền móng cần có chưa xuất hiện.

    5. Những vấn đề thuộc nền móng xã hội

    Những điều nói ở trên đòi hỏi việc xoá bỏ nguyên nhân tạo ra tham nhũng, lạm quyền và xây dựng cơ sở cho việc chống lại chúng. Đây là những vấn đề thuộc nền móng xã hội, đòi hỏi sự thay đổi quan điểm cơ bản về tương lai của xã hội thì mới có thể giải quyết được. Xin chỉ nêu hai vấn đề.

    Vấn đề sở hữu đất đai là một vấn đề nền tảng. Đất đai cùng với lao động và tư bản chỉ là một trong ba yếu tố quan trọng trong kinh tế. Lao động và tư bản đã được cởi trói để từng cá nhân trong xã hội có thể xác định quyền tư hữu của mình. Thế nhưng mảnh đất thì vẫn không. Nó thuộc "toàn dân", nhưng thật sự là thuộc quan chức đang nắm chính quyền; họ có thể lấy lại quyền sử dụng khi nào họ muốn, theo giá trị họ quyết định, chuyển đổi mục đích sử dụng theo ý họ quyết định. Đây chính là cơ sở cho tham nhũng và tạo xáo trộn trong xã hội.

    Vấn đề độc lập của tư pháp là yêu cầu quan trọng nhất nhằm bảo vệ công lý, kỷ cương xã hội, chống tham nhũng, lạm dụng quyền hành của người cầm quyền. Chừng nào mà tư pháp không độc lập, bị đặt dưới nguyên tắc: “ tất cả quyền lực thuộc về nhân dân; quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp” thì khó lòng có công lý và chống được tham nhũng. Nguyên tắc “quyền lực nhà nước là thống nhất” đi ngược với nguyên tắc “quyền lực thuộc về nhân dân”, bởi vì người cầm quyền nhà nước không phải là nhân dân. Lập pháp nếu có độc lập thì cũng chỉ ngăn được sự lộng quyền của Hành pháp, nhưng không thể bảo đảm công lý, mà công lý là quan trọng nhất cho quyền làm người và sự ổn định xã hội.

    Vũ Quang Việt

    Chú thích: Bài đã đăng trên TBKTSG, nhưng không đầy đủ.

    Vũ Thành Tự Anh - Kinh tế, đối nội và đối ngoại 2010

    (TBKTSG) – Về phương diện kinh tế, năm 2010 khép lại với tốc độ tăng trưởng cao hơn một chút so với kỳ vọng, song với những cái giá phải trả rất đắt: lạm phát so với cùng kỳ năm trước lên tới 11,75%, lãi suất cho vay tăng vọt lên 15-18%, chênh lệch tỷ giá trong và ngoài ngân hàng lên tới trên 10%, nhập siêu (không kể vàng) xấp xỉ 15 tỉ đô la, dự trữ ngoại hối đã giảm xuống mức thấp, thâm hụt ngân sách vẫn nằm ngoài ngưỡng an toàn…

    Rõ ràng là ổn định vĩ mô cho đến nay vẫn chỉ dừng lại ở ước muốn chứ chưa đi vào đời sống kinh tế. Nguyên nhân chính là do việc quá ham chạy theo tăng trưởng ngắn hạn trong một nền kinh tế kém hiệu quả, đặc biệt là ở khu vực doanh nghiệp nhà nước. Không những thế, chính sách tiền tệ và tài khóa thiếu phối hợp, thậm chí mâu thuẫn nhau, khiến cho môi trường vĩ mô vốn đã bất ổn càng trở nên bất định và ẩn chứa nhiều bất trắc.

    Trong môi trường này, phản ứng phổ biến của doanh nghiệp là phòng thủ hay đánh quả, phản ứng phổ biến của người dân có tiền là tích trữ vàng, đô la, hay bất động sản – các hành vi không những không tạo ra giá trị gia tăng mà còn làm tăng thêm sự bất ổn của thị trường và của môi trường vĩ mô.

    Về phương diện đối nội, một sự kiện nổi bật trong năm 2010 là Đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long – Hà Nội. Sự kiện này qua đi với những vui buồn lẫn lộn. Nhưng có lẽ buồn nhiều hơn vui. Gọi là “đại lễ” song người ta không cảm nhận được phần “lễ”, phần tinh thần của hào khí Thăng Long ngàn năm trước, mà chỉ vui vẻ trong chốc lát nhờ sự hoành tráng của phần “hội”.

    Việc dời đô 1000 năm trước đánh dấu sự trưởng thành vượt bậc của dân tộc. Từ mảnh đất Hoa Lư nhỏ bé và hiểm trở, dễ thủ khó công tiến ra Thăng Long, một dải đồng bằng, hiên ngang đối diện với người láng giềng phương Bắc. Chỉ mấy chục năm sau, cũng từ kinh đô Thăng Long, Văn Miếu – Quốc Tử Giám ra đời, đánh dấu sự chủ động tiếp nhận Nho giáo như một học thuyết trị quốc.

    Từ đó trở đi cho đến giữa thế kỷ 19, đất nước nhìn chung vắng bóng giặc ngoại xâm chiếm đóng lâu dài, vốn là một tiền đề quan trọng để phát triển. Vượt trên mọi thăng trầm thế sự, tinh thần độc lập, tự cường, và nhân văn xuyên suốt theo dòng lịch sử, từ “Sông núi nước Nam” của Lý Thường Kiệt đến “Bình Ngô đại cáo” của Nguyễn Trãi, và “Tuyên ngôn độc lập” của Hồ Chí Minh khiến người dân đất Việt từ nay có thể khảng khái ngẩng cao đầu trong trời đất. Tinh thần ấy của một thủ đô tuy quy mô khiêm nhường nhưng tràn đầy hào khí khiến lân bang và quốc tế phải nể trọng.

    Đó chính là điều những người có đôi chút ưu tư về thời thế chờ đợi ở “đại lễ” lần này, và có lẽ đó cũng là nguyên nhân chính khiến họ thất vọng. Hà Nội ngày hôm nay rộng và đông hơn Thăng Long hàng chục, thậm chí hàng trăm lần. Song về cốt cách và tinh thần, thủ đô ngày hôm nay còn phải học lại rất nhiều từ cha ông ta ngàn năm trước.

    Về phương diện đối ngoại, năm 2010 thực sự là một thành công ngoài mong đợi. Có thể nói nền ngoại giao Việt Nam là điểm sáng nhất trong đời sống kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước trong năm 2010. Tự tin và đĩnh đạc, Việt Nam đã rất thành công trong vai trò Chủ tịch ASEAN và đã để lại dấu ấn quan trọng trên hầu hết các lĩnh vực, tại hầu hết các diễn đàn ngoại giao khu vực và quốc tế. Việt Nam đã rất khéo léo trong việc vận dụng sức mạnh của ngoại giao đa phương để bảo vệ chủ quyền và lợi ích quốc gia, từ đó đáp ứng nguyện vọng của người dân. Không những thế, với việc mở rộng đối tượng thành viên, đặc biệt là sự tham gia lần đầu của Nga và Mỹ, tại Hội nghị cấp cao Đông Á và Hội nghị Bộ trưởng quốc phòng ASEAN mở rộng, Việt Nam đã góp phần quan trọng trong việc nâng cao vị thế và tính liên kết của ASEAN, qua đó bảo vệ hòa bình, an ninh khu vực và tự do hàng hải trên biển Đông.

    Ở một “mặt trận” khác, giao thoa giữa kinh tế và ngoại giao, Bộ Công Thương và Bộ Ngoại giao cũng đã rất chủ động trong các hoạt động đàm phán Hiệp định đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP). Phạm vi của TPP rộng hơn nhiều so với Hiệp định Tự do thương mại ASEAN và thậm chí cả WTO. Chẳng hạn như TPP bao gồm cả các quy tắc liên quan đến đầu tư, mua sắm chính phủ, chống độc quyền, và di chuyển lao động.

    Đồng thời, TPP cũng chú trọng đến việc bảo đảm quyền tiếp cận hiệp ước dễ dàng hơn cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa, điều đặc biệt quan trọng với Việt Nam vì trên 95% doanh nghiệp của nước ta thuộc loại này. Với sự chủ động của các bộ ngành liên quan, hy vọng rằng lần này các cơ quan hoạch định chính sách và cộng đồng doanh nghiệp sẽ được chuẩn bị tốt hơn để khai thác cơ hội và hạn chế rủi ro đi kèm với TPP chứ không bị động như lần gia nhập WTO trước đây.

    V. T. T. A.

    Nguồn: Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn

    Chủ đề: Kinh tế

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    0 phản hồi