Lê Nguyên - Giáo dục không nên chỉ dạy các “thần dân” biết nghe lời

  • Bởi Admin
    07/01/2011
    6 phản hồi

    Lê Nguyên

    Cái mà nền giáo dục Việt Nam thiếu trầm trọng là một môi trường học thuật lành mạnh. Ở đó cho phép phát huy tối đa sức sáng tạo của con người. Ở đó có tự do tranh luận, ở đó có sự đua tranh tư tưởng, ở đó có các chế tài và ưu đãi khuyến khích người học đi đến tận cùng các suy tư khoa học của mình.

    Cái thừa và cái thiếu

    Năm 2010 đã khép lại. Bên cạnh những âu lo phiền muộn về bức tranh kinh tế, giá cả đột biến, về lụt lội kinh hoàng gây nên cảnh tang thương cho miền Trung ruột thịt… thì năm 2010 cũng là năm bừng lên niềm hân hoan làm nức lòng hàng triệu người Việt Nam và dịu bớt đi những căng thẳng. Việt Nam lần đầu tiên có một người giành được huy chương Fields, phần thưởng có uy tín như là một giải Nobel trong lĩnh vực toán học.

    nhanloi400.jpg
    Giáo dục không nên chỉ dạy các “thần dân” biết nghe lời. Ảnh minh họa

    Giáo sư Ngô Bảo Châu ngay sau sự kiện đó, đã trở thành một cơn sốt: Cơn sốt trên báo chí, cơn sốt cho các bậc cha mẹ bắt chước tên của anh để đặt tên cho con cái của mình. Và phần nào đó là cả cơn sốt của các nhà quản lí xã hội, trong việc dùng hình ảnh Ngô Bảo Châu để phục vụ cho các mục tiêu chính trị!

    Chẳng có gì là không đáng tự hào khi trí tuệ Việt Nam chinh phục được đỉnh cao trí tuệ nhân loại. Phần thưởng một căn hộ lộng lẫy trị giá 12 tỉ Việt Nam đồng, dù sao đi nữa, cũng là một món quà quý giá, về phía Nhà nước, là sự cụ thể hoá thành vật chất để ghi công GS Ngô Bảo Châu, và cũng là kỳ vọng sự đóng góp cho đất nước của người GS tài năng.

    Rồi thì ngay sau khi tin tức về huy chương Fields được lan truyền và bùng nổ trên các phương tiện thông tin đại chúng, trong niềm hân hoan có phần bồng bột của dân chúng và của tầng lớp lớp lãnh đạo, những nhà hữu trách đã lập tức có ngay kế hoạch phát triển nền khoa học nước nhà bằng cách đề ra ý tưởng xây dựng một Viện nghiên cứu và đào tạo cấp cao về Toán.

    Nhưng rồi cơn hứng khởi nào cũng sẽ qua đi, và chúng ta cần phải tỉnh táo nhìn lại chính mình. Không chỉ là nhìn lại cái thực trạng khoa học, thực trạng xã hội chung của nước nhà, mà còn là tỉnh táo nhìn lại để cho ra những quyết sách khôn ngoan, đúng đắn. Người Việt Nam ta vốn có thừa cái “nhiệt tình nóng” trong chiến tranh giữ nước, nhưng dường như lại thiếu cái khối nhiệt tình vô cùng cần thiết trong thời bình.

    Cái tinh thần không chịu nhục vì nghèo hèn, cái tinh thần sống chết theo đuổi lí tưởng, đam mê của bản thân. Việt Nam vốn thừa những Phạm Ngũ Lão bị đâm vào đùi vẫn không hay bởi đang nung nấu nỗi căm hờn giặc Nguyên và nghĩ mưu cứu nước. Nhưng Việt Nam lại cũng thiếu những nhà bác học như Archimedes của Hi Lạp cổ đại, vẫn mải mê với những suy tư trừu tượng về các bài toán xung quanh các hình kỉ hà bất kể quân giặc đã kéo đến sát sau lưng mình.

    Ban thưởng một ngôi biệt thự để ghi công, hình thành ngay kế hoạch xây dựng một viện nghiên cứu cấp cao về toán học hay về một lĩnh vực nào đó… không có gì là sai cả, nhưng liệu đã đủ chưa, liệu đã là đúng hướng, là giải pháp căn cơ cho cơn khủng hoảng giáo dục nước nhà hiện nay? Cần bao nhiêu biệt thự lỗng lẫy để ghi công hay bao nhiêu viện khoa học nghiên cứu cấp cao được mọc lên, để đưa giáo dục Việt Nam thoát khỏi vũng lầy? Đâu là giải pháp then chốt?

    Có tố chất nhưng tại sao không có đỉnh cao?

    Muốn trả lời được câu hỏi đó, trước hết phải trở lại đi tìm căn nguyên của vấn đề. Chưa cần căn nguyên nào xa xôi, hãy xét căn nguyên ngay từ chính giải thưởng cụ thể là huy chương Fields cao quý đó.

    Rõ ràng, không chỉ với Ngô Bảo Châu mà còn với nhiều nhân tài khác nữa hiện đang thành danh trong môi trường khoa học ở các nước phát triển, chúng ta có thể khẳng định rằng tố chất của người Việt Nam không hề thua kém các nước trên thế giới. Nhưng tại sao các nhân tài đó không thể cất cánh khi ở trong nước, mà chỉ có thể đạt đến đỉnh cao và thành danh khi ra nước ngoài học tập?

    Không nghi ngờ gì nữa, cái mà nền giáo dục Việt Nam thiếu trầm trọng là một môi trường học thuật lành mạnh. Ở đó cho phép phát huy tối đa sức sáng tạo của con người. Ở đó có tự do tranh luận, ở đó có sự đua tranh tư tưởng, ở đó có các chế tài và ưu đãi khuyến khích người học đi đến tận cùng các suy tư khoa học của mình.

    Toán học với các GS tên tuổi như Ngô Bảo Châu, Vũ Hà Văn, hay là vật lí thiên văn với các GS như Trịnh Xuân Thuận… là thuộc về lĩnh vực khoa học tự nhiên. Nhưng cái môi trường học thuật ở đó có tự do tranh luận và cá nhân được phép đi đến tận cùng các ý tưởng của mình thì lại thuộc về trách nhiệm của các ngành khoa học nhân văn và khoa học xã hội, cái nền tảng quan trọng cho sự phát triển bền vững của bất cứ quốc gia nào. Cái mảng mà lâu nay ta lơ là, hờ hững nếu không muốn nói là lãnh đạm, ghét bỏ nó.

    Thực tế đáng ngại đó về mặt khách quan cũng bắt nguồn từ điều kiện nước nhà. Bao nhiêu năm chiến tranh đói nghèo, người ta phải xao lãng cái nhiệm vụ chăm lo “phần hồn” của dân tộc để lo lắng cho cái chết cận kề và miếng cơm manh áo. Khi tiến hành đổi mới mở cửa, cả xã hội bung ra làm kinh tế, toàn dân hối hả kiếm tiền bất chấp mọi thứ, nhiệm vụ “chăm sóc phần hồn” kia một lần nữa lại bị lơ là, lãng quên.

    Nhà quản lí xã hội đã thiếu một tầm nhìn dài hạn, không lường trước được các vấn nạn đó khi tiến hành mở cửa kinh tế, cho nên đã chậm trễ trong việc tập trung phát triển khoa học xã hội nhân văn, và đề ra các giải pháp then chốt cho các bài toán xã hội. Đó chính là nguyên nhân sâu xa của các vấn nạn nhức nhối trong xã hội hiện nay: Sự thờ ơ của lớp trẻ với vận mệnh dân tộc, sự dửng dưng vô cảm với nỗi đau đồng loại, sự thiếu ý thức tuân thủ pháp luật, ý thức bảo vệ môi trường,…

    Cho nên, sau những cơn hân hoan hào hứng lâng lâng trong chiến thắng, chúng ta cần tỉnh táo nhìn lại chính mình. Và đặc biệt hơn lúc nào hết, các nhà quản lí xã hội phải có các quyết sách khôn ngoan và sáng suốt, các giải pháp căn cơ cho bài toán giáo dục nước nhà. Theo đó, những biệt thự sang trọng đắt tiền, những viện nọ viện kia chỉ mới là các hành động tức thời, không hề là cái chìa khoá then chốt.

    Tăng lương, nâng cao chế độ đãi ngộ cũng chưa phải là giải pháp tối ưu cho người làm khoa học. Cái mà người làm khoa học cần là một môi trường khoa học đích thực, ở đó không bị vẩn đục bởi những sự phiền nhiễu vô văn hoá. Ở đó có tự do học thuật, có tự do tư tưởng, được khuyến khích và được đảm bảo cho việc đi đến tận cùng tư tưởng của mình.

    Xã hội đương đại mà chúng ta đang sống cần phá bỏ “độc quyền” chân lí, kiên quyết loại bỏ tư tưởng chụp mũ và dán nhãn phản động hay lệch lạc về tư tưởng cho những ai dám nói lên quan điểm khác biệt… là những việc cần làm ngay để cứu vãn nền khoa học và giáo dục nước nhà.

    Xã hội lành mạnh là xã hội “bách gia tranh minh”

    Muốn xoá bỏ điều đó, trước hết phải xuất phát từ ý thức của những người quản lý. Những nhà quản lí xã hội cần thấy rằng một xã hội dân chủ và tiến bộ chưa bao giờ là một xã hội đồng phục về tư tưởng. Một xã hội lành mạnh và phát triển năng động phải là một xã hội của “bách gia tranh minh”, ở đó có sự cọ xát của các tư tưởng, ở đó tôn trọng các ý kiến khác biệt trên tinh thần thượng tôn pháp luật.

    Theo đó, một giải pháp căn cơ cho nền giáo dục nước nhà phải được thể hiện ở việc đề ra các chính sách đề phát triển không chỉ ngành toán học hay bất kì ngành cụ thể nào. Mà quan trọng hơn là tạo ra một môi trường, một chế tài cho phép tự do học thuật được nảy nở. Đó là nhiệm vụ của khoa học xã hội nhân văn. Đó là các giải pháp cần thiết để tạo điều kiện cho khoa học xã hội nhân văn phát triển.

    Khoa học xã hội và nhân văn chỉ có thể phát triển trong một môi trường không có sự áp đặt tư tưởng và sự độc quyền chân lí. Giáo dục phải đào tạo ra các công dân tự tin sống trong một xã hội thượng tôn pháp luật, chứ không phải là các thần dân chỉ biết câm lặng tuân phục.

    Chỉ khi nào chúng ta cảm thấy sẵn sàng chấp nhận những lời chỉ trích, cho dù trong thâm tâm cảm thấy phần nào khó chịu, chấp nhận những sự khác biệt, để biết lắng nghe, tận dụng trí tuệ của các giai tầng, điều chỉnh, sửa đổi những chủ trương, chính sách chưa phù hợp với thực tiễn, với sự phát triển của xã hội trên hành trình hội nhập. Chỉ khi đó, cá nhân tôi tin rằng sự khủng hoảng giáo dục mới có cơ hội được giải quyết triệt để, các vấn nạn nhức nhối hiện nay của xã hội có cơ hội được dẹp trừ.

    Theo đó, một giải pháp căn cơ cho nền giáo dục nước nhà phải được thể hiện ở việc đề ra các chính sách đề phát triển không chỉ ngành toán học hay bất kì ngành cụ thể nào. Mà quan trọng hơn là tạo ra một môi trường, một chế tài cho phép tự do học thuật được nảy nở. Đó là nhiệm vụ của khoa học xã hội nhân văn. Đó là các giải pháp cần thiết để tạo điều kiện cho khoa học xã hội nhân văn phát triển.

    Khoa học xã hội và nhân văn chỉ có thể phát triển trong một môi trường không có sự áp đặt tư tưởng và sự độc quyền chân lí. Giáo dục phải đào tạo ra các công dân tự tin sống trong một xã hội thượng tôn pháp luật, chứ không phải là các thần dân chỉ biết câm lặng tuân phục.

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    6 phản hồi

    Phản hồi: 

    Bài này viết có nhiều ý hay, nhưng còn vài chỗ dùng từ chưa chính xác, có thể tác giả chưa hiểu từ Hán Việt, dẫn chứng ngay:
    -"...không lường trước được các VẤN NẠN đó..."
    -"...Đó chính là nguyên nhân sâu xa của các VẤN NẠN..."
    -"...các VẤN NẠN nhức nhói..." (ở dòng cuối cùng)
    VẤN NẠN là cái gì? Chẳng hiểu tác giả có hiểu ý nghĩa từ này hay không mà hay VẤN NẠN thế?
    Tác giả viết "Khoa học xã hội và nhân văn chỉ có thể phát triển trong một môi trường không có sự áp đặt tư tưởng và sự độc quyền chân lý." Điều này thì đúng quá nhưng lại không phù hợp với nền giáo dục CS. Nếu để tự do như thế thì người ta đả phá CNCS và CNCS sụp đổ thì còn đâu lợi ích nhóm.
    Người ta bàn về triết lý giáo dục nhiều quá, nhưng không bàn về phương pháp giáo dục thì làm sao có độc lập tư duy. Nền giáo dục của ta là giáo điều, áp đặt. Mặt khác lương của một giảng viên đại học không bằng thu nhập của một người đánh giầy thì làm sao có chất lượng giáo dục đươc. Đi vào thực tế thì có chuyện vưa buồn cười vừa như muốn khác trước nền giáo dục của ta, có chuyện thầy mượn bài của trò lớp này sang giảng cho lớp kia. Hơi sức đâu mà độc lập tư duy. Xem nhiều câu hỏi trên trang mạng này không có ai trả lời thì đủ rõ.
    Có hai điều cần được giáo dục: đó là giáo dục cho người học biết phân biết phải trái, đúng sai, hai là phải giáo dục về nhân cách và danh dự. Nay phần lớn quan chức của ta thiếu điều hai điều này.

    Phản hồi: 

    Nếu xóa bỏ hết những cái cần xóa bỏ mà ông Lê Nguyên nêu ra trong bài: Giao dục không nên chỉ dạy các "thần dân" biết nghe lời, thì Cộng Sản không còn là Cộng Sản nữa. Càng chỉnh càng thêm đốn. Càng sửa càng thêm sai. Mỗi lần chỉnh sửa là mỗi bước tiến gần tới sụp đổ. Đảng CSVN đã đi quá đường rồi. Mười năm trồng cây, trăm năm trồng người, chỉ tiếc rằng "bác" mất sớm quá. Hết thuốc chữa rồi.

    Phản hồi: 

    (1) Chủ trương của nhà nước sau sự kiện GS Ngô Bảo Châu nhận giải Fields giống như một phong trào tự phát mà không có kế hoạch dài hạn và sự chuẩn bị chu đáo. Sau giải Fields của GS Châu là sự thành lập ngay một viện Toán cao cấp... vậy để VN có những viện cao cấp khác như Hóa, Sinh, Lý, hay Xã hội học thì phải chờ vài chục năm nữa khi VN ta có người đoạt giải Nobel à??? Rất bồng bột và tự phát!

    (2) Liệu đầu tư vào toán đã đủ? Chúng ta cần đầu tư nhiều hơn nữa vào các ngành ứng dụng khác, không nên chỉ chú ý tập trung vào việc phát triển toán. Ví dụ, làm sao mà chúng ta có thể mong đợi nền toán học của chúng ta ngang bằng với các nước phát triển? Chẳng lẽ ta phát triển, họ không phát triển à? Việt Nam ta có bao nhiêu người đoạt giải Fields? Một! Bao nhiêu người được để cử giải Nobel? Một hoặc hai, không có người nào được nhận giải Nobel. Vậy thì ta mong chờ gì ở cái viện Toán học cao cấp ấy? Giả sử nếu Viện Toán cao cấp ấy sau một thời gian nghiên cứu công phu... đề ra rằng nếu muốn đưa đất nước đi lên thì Đảng CS phải lùi bước để Nhân Dân nắm quyền thực sự thì liệu Đảng & Nhà nước có nghe? hay là sẽ bức tử Viện giống như họ đã làm đối với IDS?

    (3) Đầu tư vào các ngành khoa học ứng dụng sẽ mang lại lợi nhuận cao trong một thời gian ngắn. Nên bỏ tiền đầu tư nhiều hơn vào khoa học ứng dụng!

    (4) Cần phải đầu tư vào khoa học xã hội để phản biện xã hội. Đảng và Nhà nước chưa dám làm điều này! Thật xấu hổ.

    Vậy kết luận lại nền GD của ta không thể ngóc đầu lên được nếu Đảng vẫn còn lãnh đạo theo cái kiểu độc quyền cai trị vô lí như hiện nay!

    Phản hồi: 

    Tác giả Lê Nguyên suy luận duy ý chí. Điều tác giả mong muốn rất hay rất đúng mà hình như nhiều người cũng nghĩ được như vậy, nhưng những vấn đề đó là duy lý trong xã hội độc đảng ở Việt Nam. Vấn nạn giáo dục hay gì cũng xuất phát từ đó. Tôi tin rằng như hiện nay Lê Nguyên có lên bộ Trưởng Bộ giáo dục đầy đủ hiểu biết như ông nói ở đây và đầy đủ nhiệt huyết lòng yêu Tổ quốc, lòng tự tôn dân tộc thì nền giáo dục Việt ta vẫn đi theo vết xe đổ mà thôi không chừng còn thậm tệ hơn. Việc ông nói giống như Bác Tôn ở bên Tàu thần thông biến hóa chứ thầy Đường Tăng tôi người trần mắt thịt thì xin thua. Việc ông nói giống như trong Toán học phát minh ra một định lý mà chả dựa vào tiên đề nào cả. Để định lý tồn tại thì nhất thiết phải xây dựng hệ tiên đề. Vậy nên ở Việt Nam định lý của ông phát biểu khả thi thì phải xây dựng tiên đề về hệ thống chính trị cái đã chứ dựa trên tiên đề hệ chính trị độc đảng thì những điều ông nói là sai

    Phản hồi: 

    [quote]Ở đó có tự do học thuật, có tự do tư tưởng, được khuyến khích và được đảm bảo cho việc đi đến tận cùng tư tưởng của mình.
    [/quote]

    Đúng theo lý thuyết nhưng sai trên thực tế ở VN.
    Tự do tư tưởng ở VN thường đi đôi với luật hình sự 88.

    Trước hết phải thật sự cải tổ tư pháp sao cho minh bạch và độc lập nếu không muốn khốn khổ với bọn "đầu gấu" !

    Phản hồi: 

    [quote] ... cho dù bạn nêu ra bất cứ thách thức gì về kinh tế, hạ tầng, hệ thống phát triển chính trị thì đều cần những người có năng lực trí tuệ, cần có các công cụ để phân tích, nêu ra giải pháp. “Thực sự là chúng ta đang đi vào kỷ nguyên của kinh tế tri thức và vì vậy chúng ta cần một nền giáo dục tốt”.[/quote]

    Những yêu cầu, giải pháp, cách tổ chức một nền giáo dục tốt thì tương đối dễ thiết lập và thực hành bởi có thể học hỏi kinh nghiệm thế giới

    Cái khó là ở VN có những thế lực đen tối trong đảng CSVN ngăn chặn bởi tất cả phải đi theo định hướng XHCN. Do đó việc đầu tiên là phải dẹp bỏ những tư tưởng đen tối này đi để có một xã hội mở trong tư duy và ngôn luận

    http://sgtt.vn/Khoa-giao/135655/Thach-thuc-lon-nhat-cua-Viet-Nam-la-giao...

    Đại sứ Mỹ Michael Michalak

    Thách thức lớn nhất của Việt Nam là giáo dục

    SGTT.VN - Trong buổi gặp gỡ chia tay với báo giới chiều 6.1 tại Hà Nội, nhân kết thúc nhiệm kỳ tại Việt Nam, đại sứ Mỹ Michael Michalak nhấn mạnh, nếu phải chọn một thách thức được coi là ưu tiên nhất cần phải khắc phục của Việt Nam thì ông cho rằng đó chính là giáo dục.

    Ông Michael Michalak. Ảnh: TL

    Đại sứ Mỹ tin rằng, để có một hệ thống giáo dục đạt đẳng cấp thế giới là thách thức lớn nhất của Việt Nam. Ông nói, cho dù bạn nêu ra bất cứ thách thức gì về kinh tế, hạ tầng, hệ thống phát triển chính trị thì đều cần những người có năng lực trí tuệ, cần có các công cụ để phân tích, nêu ra giải pháp. “Thực sự là chúng ta đang đi vào kỷ nguyên của kinh tế tri thức và vì vậy chúng ta cần một nền giáo dục tốt”.

    Một trong những điều ông tiếc nhất mà chưa làm được trong nhiệm kỳ tại Việt Nam cũng liên quan đến giáo dục, đó là chưa hỗ trợ để thành lập được trường đại học kiểu Mỹ tại Việt Nam.

    Dự định sẽ rời Việt Nam vào cuối tháng một này, đại sứ Michalak miêu tả 3 năm rưỡi ở Việt Nam của ông đã thành công mỹ mãn, với việc làm sâu sắc thêm lòng tin, tình hữu nghị và mở rộng quan hệ hai nước. Đặc biệt, ông đánh giá trong 2010, khi hai nước kỷ niệm 15 năm thiết lập quan hệ ngoại giao thì “quan hệ Việt – Mỹ đã biến chuyển thành quan hệ đối tác sống động, dựa trên sự tôn trọng lẫn nhau và hợp tác, mang lại lợi ích to lớn cho nhân dân hai nước”.

    Đáng chú ý, đại sứ Michalak khẳng định, quan hệ giữa Việt Nam và Mỹ còn rộng lớn hơn, không chỉ có thương mại và đầu tư. Hàng năm ngày càng có nhiều công dân và quan chức của chính phủ Mỹ và của Việt Nam qua lại Thái Bình Dương để thảo luận các biện pháp đối với các vấn đề cùng quan tâm từ giáo dục, y tế đến an ninh, quốc phòng, trợ giúp nhân đạo và cứu trợ thảm họa. Các chuyên gia của Mỹ và Việt Nam luôn trao đổi kiến thức và kinh nghiệm chuyên ngành về các vấn đề thương mại, chống ma túy, hàng hải, không phổ biến vũ khí hạt nhân để thế giới an toàn và an ninh hơn.

    Trả lời của phóng viên Sài Gòn Tiếp Thị về khả năng Tổng thống Mỹ Barack Obama sẽ đến thăm Việt Nam trong năm nay, đại sứ Michalak nói ông không thể xác nhận chính xác thông tin này, mặc dù ông đã làm việc hết sức tích cực để đảm bảo Tổng thống sẽ đến thăm Việt Nam trong năm 2011 này.

    Bên cạnh sự hài lòng về hợp tác giáo dục Việt – Mỹ (số lượng sinh viên Việt Nam du học tại Mỹ tăng từ 800 sinh viên năm 1995 lên 13.000 sinh viên năm 2009), đại sứ cũng rất vui mừng vì quyết định tham gia chính thức vào đàm phán hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) vừa qua. “TPP sẽ giúp chúng ta tiến tới mối quan hệ kinh tế to lớn hơn nữa”.

    Đại sứ đánh giá, Việt Nam và Mỹ cũng có nhiều tiến bộ trong quan hệ giữa hai quân đội, điều này cho thấy lòng tin và sự tôn trọng giữa hai nước đã được tăng cường, trở nên sâu sắc hơn. Hợp tác quân đội có nhiều mảng để hợp tác như quân y, trợ giúp nhân đạo, cứu trợ thảm họa. “Chúng tôi cũng trao đổi về gìn giữ hòa bình và Việt Nam có cơ hội lớn để tham gia vào công tác gìn giữ hòa bình của thế giới”.

    Chỉ còn ít thời gian ở Việt Nam, ông Michalak bày tỏ mong muốn sẽ được ghi nhớ là một đại sứ đã giúp cải thiện sự gắn bó, lòng tin cũng như là sự hiểu biết lẫn nhau giữa hai nước. Sắp tới trở về Mỹ, ông cho biết sẽ làm việc để đảm bảo khu vực tư nhân được tham gia đầy đủ vào các quá trình của APEC trong năm 2011 khi Mỹ là nước chủ nhà tổ chức sự kiện này.

    Nhìn về tương lai, đại sứ mong quan hệ Việt – Mỹ sẽ sâu sắc thêm, củng cố và trở thành đối tác tốt của nhau. “Khu vực Thái Bình Dương sẽ là thế giới của tương lai và trong khu vực Đông Nam Á thì Việt Nam là một trong những nước quan trọng nhất. Tôi tin rằng Mỹ sẽ là một đối tác tốt của Việt Nam, tôi mong Việt Nam cũng là đối tác tốt của Mỹ và cùng giúp đỡ nhau để phát triển”.