Ghi chép của Vương Trí Nhàn - Tình cảnh [Nhà Trần thời] hậu chiến

  • Bởi Admin
    05/01/2011
    0 phản hồi

    Vương Trí Nhàn

    Dân Luận: Nhìn lại lịch sử, Nhà Trần và Nhà Sản hiện tại có nhiều nét tương đồng: Khi đối mặt với giặc ngoại xâm thì đoàn kết, mưu lược và dũng cảm; nhưng lúc thời bình lại xa rời quần chúng, thể chế mục ruỗng đổ nát. Lịch sử lặp đi lặp lại ở Việt Nam cũng là bởi chúng ta không xây dựng được một cơ chế kiểm soát quyền lực, loại bỏ những vị lãnh đạo không phân biệt được phải trái, không biết lắng nghe tiếng nói của trung thần nghĩa sĩ thời hậu chiến...

    Có một việc tôi đang muốn dành thời gian để làm — đọc lại sử mình những năm sau chiến tranh.

    Ví dụ sau khi đánh xong quân Nguyên, nhà Trần ra sao?

    Sách vở hiện đại ghi về chuyện này hơi ít. Cụ thể là trong các sử gia hiện thời, chỉ có Đào Duy Anh làm, và tôi chỉ mới đọc có ông chứ chưa có dịp đi vào mấy bộ sử cổ, song đã thấy cả một đề tài chưa ai khai phá.

    Trong cuốn Lịch sử VN - từ nguồn gốc đến thế kỷ XIX, Đào Duy Anh dành hẳn một chương, chương XXV, nói về Bước suy đốn của nhà Trần, trong đó nói rõ việc đầu tiên Trần Nhân Tông cho làm sau khi quân Nguyên rút lui năm 1285 là duyệt lại hộ khẩu trong nước.

    Để làm gì? Theo Đào Duy Anh, để tìm cách “lấy tiền của mà tu bổ những tổn hại do chiến tranh gây nên.”

    Tiếp đó, Đào Duy Anh kể ra nhiều việc nhà Trần đã làm sau 1288 nhằm “ra tay bóc lột nhân dân thêm nữa“.

    “Ngay năm 1290, sử đã chép có nạn đói lớn, mỗi thưng gạo giá đến một quan, nông dân nhiều người phải bán ruộng đất và bán vợ con làm nô tì. Sau khi đã ra sức tham gia kháng chiến trong quân đội hay trong dân quân, người nông dân thấy đời họ không được cải thiện mà lại còn bị bóc lột hơn xưa, họ rất lấy làm bất bình mà đã rục rịch phản đối. Không thể dùng ngay thủ đoạn khủng bố, Trần Khâm (tức Nhân Tông — VTN) lại nghĩ ngay đến việc dụng binh đối với các nước nhỏ láng giềng để đánh lạc hướng bất bình của nhân dân” (Sđd, bản của Nxb Văn hóa Thông tin, 2002, tr. 258-259)

    Một khía cạnh khác, gần đây báo chí nói nhiều tới việc Nhân Tông thượng hoàng đi tu. Hôm nọ gặp nhau ở SG, anh Trần Đĩnh -- bậc thày của tôi trên phương diện miên man tự học, bằng sự lịch lãm của một người đã qua sống qua ba chục năm chiến tranh và thường xuyên tiếp xúc với nhân học hiện đại -- dự đoán, chắc là thượng hoàng thấy chiến tranh khủng khiếp quá, nên tìm cách tách mình ra mà suy nghĩ đấy thôi.

    Cũng là một cách ghi nhận tâm lý hậu chiến!

    Chỉ có điều cái tâm thế cao quý ấy là một cái gì mà người nay chỉ ngưỡng mộ chứ chả thấy ai làm theo cả.

    MỐI QUAN HỆ VIỆT NAM - TRUNG HOA CUỐI ĐỜI TRẦN

    Đánh xong quân Nguyên, nhà Trần cũng dần dần rơi vào khủng hoảng.

    Sau khi Nhân Tông Trần Khâm qua đời, người kế ngôi là thái tử Trần Thuyên, đế hiệu là Trần Anh Tông (1293-1314)

    Việt nam sử lược của Trần Trọng Kim ghi: ”Anh Tông lúc đầu hay uống rượu và đêm thường lẻn ra ngoài kinh thành đi chơi, có khi bị đồ vô lại phạm đến“.

    Tiếp đó là các vua Minh Tông (1314-1329), rồi đến Hiến Tông. Ông sau này lên ngôi lúc mới 10 tuổi, và làm vua được 13 năm, tới 1341 thì qua đời, khi mất mới 23 tuổi.

    Dụ Tông lên ngôi từ 1341. Vẫn theo Trần Trọng Kim, ông Dụ Tông này “rượu chè chơi bời, xây cung điện đào hồ đắp núi, rồi lại cho gọi những người nhà giàu vào trong điện để đánh bạc. Bắt vương hầu công chúa phải đặt chuyện hát tuồng (do quân Nguyên đưa sang, mới du nhập – VTN chú), và bắt các quan thi nhau uống rượu, ai uống được một trăm thăng thì thưởng cho hai trật.

    Chính sự như thế cho nên giặc cướp nổi lên như ong“.

    Dụ Tông chết, không có con.

    Bà Hoàng thái hậu lập một con nuôi là Dương Nhật Lễ, vốn dân con hát, lên thay, nhưng bị tôn thất nhà Trần giết, dành ngôi cho Nghệ Tông.

    Ông này là một vị vua lạ, ở ngôi chỉ hai năm (1370 -- 1372) lại nhường ngôi cho em là Trần Duệ Tông.

    Lúc này ở Trung quốc, nhà Minh đã thay thế nhà Nguyên.

    Xẩy ra một việc rất giống với ngày hôm nay.

    Lúc Nhật Lễ đương quyền, vua nhà Minh lợi dụng nước ta lộn xộn, nghe theo bầy tôi thuộc bộ Lễ, cho bọn này đem các thần sông núi ở nước ta phụ tế vào đền nhạc độc của TQ.

    Rồi sai đạo sĩ là Diêm Nguyên Phục đến tế thần ở ta. Đại Việt sử ký tiền biên ghi đó là thần núi Tản Viên và các thủy thần sông Lô.

    Đến khi Nghệ Tông lên, theo Tiền biên, ông cho hủy bỏ những điều sai trái do các nho sĩ thời trước sinh ra, đó là những gì bắt chước Trung Quốc.

    Nghệ Tông nói “Tiên triều dựng nước có chế độ phép tắc, không theo chế độ nhà Tống, bởi lẽ phương nam phương bắc đều có vua của nước mình, không phải theo nhau.”

    Nghệ Tông nói tiếp, thời Dụ Tông, kẻ học trò mặt trắng không thấu đạt được ý của sự lập pháp, đem phép cũ của tổ tông bày đặt theo tục của xứ người. Như các loại quần áo nhạc chương không thể kể hết được. Nay việc gì cũng phải theo lệ cũ thời Trần Minh Tông (1314-1329).

    Thế mới biết lúc này, ý thức về bản sắc đã hình thành, có điều nó còn mong manh và phải luôn luôn gia cố.

    Trong Đại Việt sử ký tiền biên, sử thần Ngô Thì Sĩ cho biết người Minh khen Nghệ Tông là “hiếu hữu cung kiệm, bác học minh mẫn”.

    Hai năm sau khi lên ngôi vua, Nghệ Tông lại lập em lên thay thành vua Duệ Tông.

    Tức Nghệ Tông là loại xem thường chính sự, coi lên xuống ngôi vua như chuyện cởi chiếc giầy, thay chiếc áo --- Ngô Thì Sĩ bình luận.

    Thời kỳ suy tàn

    Nhà Trần đã có một thời đại rất hưng thịnh, đã từng đại phá quân Nguyên cũng như bình phục được Chiêm Thành, nhưng kể từ khi thái thượng hoàng Trần Minh Tông qua đời (1357), vua Trần Dụ Tông ham mê tửu sắc, phó mặc mọi việc triều chính để cho nhà Trần bước vào giai đoạn suy vi và sau cùng bị mất ngôi.

    Vua Trần Dụ Tông chẳng những bỏ bê triều chính mà còn ra lệnh cho xây cung điện, tạo sưu cao, thuế nặng làm cho nhân dân vô cùng khổ sở và ca thán. Trong nước, giặc giã nổi lên khắp nơi. Trong khi đó tại triều đình, các bọn gian thần kéo bè kết đảng và trở nên lộng hành vô cùng.

    Chu Văn An, một vị quan thanh liêm, trung thần tại triều đình, đã dâng thất trảm sớ đề nghị trị tội những tên tham quan ô lại. Vua Trần Dụ Tông đã không nghe theo nên Chu Văn An đã từ quan về nhà dạy học.

    Năm 1369, Trần Dụ Tông mất, một người con là Nhật Lễ lên thay. Theo sử sách, Nhật Lễ không phải là con Dụ Tông mà mẹ Lễ vốn là cô đào, vợ của kép hát Dương Khương, đã mang thai Lễ trước khi làm vợ Dụ Tông. Vì vậy sử vẫn gọi tên người con là Dương Nhật Lễ. Nhật Lễ ở ngôi bỏ bễ chính sự, ham tửu sắc, hằng ngày chỉ rong chơi, thích các trò hát xướng, muốn đổi lại họ là Dương. Sau Lễ lại giết Hiến Từ Tuyên Thánh Thái hoàng thái hậu vì bà đã hối hận việc lập Nhật Lễ. Người tôn thất và các quan đều thất vọng. Tháng 10 năm 1370, các tôn thất nhà Trần hợp mưu lật đổ và bắt giết Nhật Lễ, đưa con thứ 3 của vua Minh Tông là Phủ lên ngôi, tức là Trần Nghệ Tông.

    Nghệ Tông làm vua được 2 năm, lên làm thái thượng hoàng và nhường ngôi cho em là Kính lên thay, tức là Duệ Tông. Năm 1377, Duệ Tông tử trận ở Chiêm Thành, thượng hoàng Nghệ Tông lập con Duệ Tông là Phế Đế lên thay. Thượng hoàng Nghệ Tông nắm quyền bính trong tay quyết định mọi việc nhưng lại quá tin dùng một mình Lê Quý Ly (tức Hồ Quý Ly). Do đó, Quý Ly xúi giục Nghệ Tông giết hại các trung thần, các hoàng tử, các thân vương và ngay cả vua Phế Đế cũng bị sự gièm pha của Quý Ly mà bị Nghệ Tông phế bỏ [6]. Con Nghệ Tông là Thuận Tông (đồng thời là con rể Quý Ly) được lập lên ngôi nhưng cũng không có thực quyền.

    Vì có mưu đồ soán đoạt ngôi vua mà lại được sự tin dùng của Nghệ Tông nên Hồ Quý Ly đã tạo được khá nhiều phe cánh và bè đảng ở triều đình và khắp mọi nơi. Rồi từ đó Quý Ly càng ngày càng lộng quyền không coi ai ra gì. Năm 1394, Nghệ Tông mất, Hồ Quý Ly nắm lấy cả quyền hành rồi sai người vào đất Thanh Hoá xây thành Tây Đô. Sau khi công việc xong xuôi, Hồ Quý Ly bắt Trần Thuận Tông dời kinh về Tây Đô rồi lập mưu ép Thuận Tông nhường ngôi cho con là Thiếu Đế khi đó mới có 3 tuổi lên ngôi. Quý Ly lên làm phụ chính sai người giết Thuận Tông và chuẩn bị cướp ngôi.

    Nhìn thấy âm mưu của Hồ Quý Ly, nhiều tướng lĩnh nhà Trần như Trần Khát Chân lập hội với mưu đồ tiễu trừ Quý Ly, nhưng cơ mưu bị bại lộ, tất cả đều bị bắt và bị giết vào khoảng hơn 370 người. Năm 1400, Quý Ly phế truất Thiếu Đế rồi tự xưng làm vua, chiếm lấy ngôi nhà Trần, đổi sang họ Hồ.

    Nhà Trần chấm dứt,kéo dài 175 năm với 13 đời vua.

    Nhận định

    Về chiến thắng Mông - Nguyên

    Theo đánh giá của các sử gia, việc nhà Trần lên thay nhà Lý vào đầu thế kỷ 13 là cần thiết và kịp thời cho sự phục hưng nước Đại Việt bị suy yếu nghiêm trọng cuối thời nhà Lý. Nếu không có sự xuất hiện của nhà Trần, nước Đại Việt sẽ khó tồn tại trong cảnh cát cứ (Nguyễn Nộn, Đoàn Thượng) bên trong và họa Mông - Nguyên bên ngoài như các nước Đại Lý, Nam Tống láng giềng. Nguyên nhân cơ bản nhất cho những thành công của nhà Trần là chính sách đoàn kết nội bộ của những người lãnh đạo. Dù trong hoàng tộc nhà Trần có những người phản bội theo nhà Nguyên nhưng nước Đại Việt không bị mất, nhờ sự ủng hộ của đông đảo dân chúng [8].

    Còn một nguyên nhân nữa phải kể tới trong thành công của nhà Trần là đội ngũ tướng lĩnh xuất sắc, nòng cốt lại chính là các tướng trong hoàng tộc nhà Trần. Dù xuất thân quyền quý nhưng các hoàng tử, thân tộc nhà Trần, ngoài lòng yêu nước - và bảo vệ quyền lợi dòng tộc - số lớn là những người có thực tài cả văn lẫn võ. Thật hiếm dòng họ cai trị nào có nhiều nhân tài nổi bật và nhiều chiến công như nhà Trần, đặc biệt là thế hệ thứ hai: Trần Quốc Tuấn, Trần Nhân Tông, Trần Quang Khải, Trần Nhật Duật đều là những tên tuổi lớn trong lịch sử Việt Nam. Đó là chưa kể tới Trần Thủ Độ, Trần Khánh Dư, Trần Quốc Toản... [9]

    Mông - Nguyên đương thời là đế quốc lớn nhất thế giới. Những nơi người Mông bại trận lúc đó như Ai Cập quá xa xôi, Nhật Bản và Indonesia đều có biển cả ngăn cách và quân Mông cũng không có sở trường đánh thủy quân nên mới bị thua trận. Thế nhưng nước Đại Việt lúc đó nằm liền kề trên đại lục Trung Hoa, chung đường biên giới cả ngàn dặm với người Mông mà người Mông vẫn không đánh chiếm được. Một đế quốc đã nằm trùm cả đại lục Á-Âu mà không lấy nổi một dải đất bé nhỏ ở phía nam. Có so sánh tương quan lực lượng với kẻ địch và vị trí địa lý với những quốc gia làm được điều tương tự mới thấy được sự vĩ đại của chiến công 3 lần đánh đuổi Mông - Nguyên của nhà Trần.

    Về hậu kỳ nhà Trần

    Nhìn chung, triều Trần có thể chia ba thời kỳ: thời thứ nhất từ Thái Tông đến Nhân Tông là thời xây dựng và chống Mông-Nguyên, thời thứ hai từ Anh Tông đến Hiến Tông (có thượng hoàng Minh Tông) là thời kế tục, thời thứ ba từ Dụ Tông (sau khi thượng hoàng Minh Tông mất) tới khi kết thúc là thời suy tàn.

    Để tránh "họa ngoại thích", nhà Trần chủ trương chính sách "hôn nhân nội tộc". Chính sự nhà Trần bắt đầu suy từ đời vua Dụ Tông xa hoa hưởng lạc, xa lánh lương thần, tin dùng gian thần. Nhưng đó đơn giản chỉ là sự hưởng thụ như Lý Cao Tông trước đây mà thôi. Tới các đời sau, đặc biệt là Trần Nghệ Tông và Trần Phế Đế (Đế Hiện), có hàng loạt biểu hiện của sự mê muội, u tối của người cầm quyền. Trần Nghệ Tông tin dùng một mình Lê Quý Ly, nghe lời Quý Ly sát hại hàng loạt con cháu, người thân tộc họ Trần. Nhiều hành động của Nghệ Tông như thể để "dọn đường" cho Quý Ly cướp ngôi nhà Trần sau này. Thời kỳ Nghệ Tông trở về sau, vấn đề chống Chiêm Thành là lớn nhất, vậy mà một Quý Ly luôn chạy dài trước những đợt tấn công của địch, không hề lập được công bao giờ, lại vẫn được tin dùng đến như vậy. Còn Đế Hiện đối với Đỗ Tử Bình, gian thần xảo trá gây ra cái chết của cha mình (Duệ Tông), không những không trừng trị đích đáng mà còn nhiều lần thăng lên làm đại thần cấp cao hơn trước, khi chết (1382) còn được truy tặng gia phong. Những hành động tối tăm, mê muội đó phải chăng là sản phẩm của sự "thoái hóa giống nòi" do "hôn nhân nội tộc" nhiều đời gây ra? Những lần tiếm quyền, thoán ngôi khác trong lịch sử Việt Nam như Dương (Tam Kha) đoạt Ngô, Tiền Lê đoạt Đinh, Trần đoạt Lý, Mạc cướp Lê, Trịnh át Lê đều là "cường thần hiếp chúa". Quan hệ giữa Quý Ly với Nghệ Tông, Tử Bình với Đế Hiện không thể như Trần Thủ Độ với Lý Huệ Tông, Mạc Đăng Dung với Lê Cung Hoàng... Việc dung túng cho cấp dưới, những kẻ trực tiếp đụng chạm tới quyền lợi của dòng tộc mình mà vẫn "không hay biết" như các vua Trần quả là hiếm có [10].

    Các vua Trần thời hậu kỳ, kể cả Minh Tông, đều không biết chiêu mộ nhân tài; lực lượng quan lại đều kém tài. Nếu thế hệ trước thắng Mông-Nguyên khổng lồ một cách oai hùng bao nhiêu thì đời con cháu phải chạy trốn một Chiêm Thành nhỏ bé, từng núp bóng mình trong chiến tranh chống Mông-Nguyên xưa kia, một cách thảm hại bấy nhiêu. Tới lúc bị Chiêm Thành xâm lấn, không hề có một gương mặt nào của dòng họ Trần đứng ra chống được giặc mà phải dựa vào một tướng ngoài hoàng tộc (Trần Khát Chân vốn mang họ Lê). Nếu trong tông thất nhà Trần thời kỳ sau có những nhân tài như giai đoạn đầu thì dù Quý Ly có manh tâm cũng không thể tính chuyện cướp ngôi. Nhà Trần trượt dốc từ Trần Dụ Tông, sau sự kiện Dương Nhật Lễ và cái chết của Duệ Tông đã không gượng dậy được nữa. Đó chính là thời cơ cho Hồ Quý Ly làm việc chuyên quyền và chiếm lấy ngôi nhà Trần [11].

    Dù sao, nhà Trần vẫn là một trong những triều đại nổi bật nhất trong lịch sử Việt Nam. Trang sử về nhà Trần trong sử sách nằm trong số những trang sáng nhất và để lại nhiều bài học cho đời sau.

    Trích từ Wikipedia tiếng Việt

    Chủ đề: Lịch sử

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    0 phản hồi