GS Nguyễn Tiến Dũng - Các cách hủy hoại nền đại học (2)

  • Bởi Admin
    28/12/2010
    0 phản hồi

    GS Nguyễn Tiến Dũng

    Đồi bại hóa

    Các trí thức theo đúng nghĩa phải là những con người có tư cách đàng hoàng. Hay như theo cách nói của nho giáo, đại học là phải tuân theo “tam cương lĩnh” minh đức – tân dân – chí thiện. Tiếc rằng, rất nhiều người ở đại học không có được tư cách như vậy, mà đã bị tham nhũng hóa, đồi bại hóa, hay lưu manh hóa, để trở thành những lực lượng phá hoại đại học. Không chỉ có các nhà khoa học rởm, mà kể cả nhiều nhà khoa học có trình độ khoa học cao cũng có thể bị tham nhũng hóa, đê tiện hóa. Họ sẽ gây bè kéo cánh, lập “băng đảng mafia” trong đại học, trù dập những nhà khoa học khác không chịu luồn cúi đối với mình, bán rẻ công lý lấy quyền lực và danh hão, v.v.

    Có rất nhiều cách làm tham nhũng hóa, đồi bại hóa con người nói chung, và giảng viên đại học nói riêng. Chẳng hạn như:

    - Kiểu bỏ đói đã trình bày phía trước.

    - Kiểu “hồng hơn chuyên” (có thể coi là một cách nô lệ hóa): đề bạt lên chức không dựa trên trình độ chuyên môn, mà dựa trên cái gọi là “hồng”, có nghĩa là các quan hệ quyền lực và sự biết luồn cúi và nịnh hót những người “phía trên”.

    - Kiểu “lương ít bổng nhiều”. Lương chính thức thì ít, nhưng bổng lộc (dành cho những ai ăn cánh, một cách tùy tiện và thiếu minh bạch) thì nhiều, là một cách hiệu quả làm thoái hóa trí thức: khi phải lựa chọn giữa việc “chịu làm nô lệ để được nhận bổng” và “không chịu nô lệ chấp nhận chết đói”, ít ai sẽ đủ dũng cảm nhận giải pháp thứ hai. Khi đã “nhận bổng” thì là như “há miệng mắc quai”, không còn dám lên tiếng phản đối những điều mà mình nhận thấy là sai trái, trở nên đồng lõa với những sự lộng quyền hay tham nhũng phía trên. Chế độ “lương ít bổng nhiều” này là một hình thức cai trị “ràng buộc mềm” thịnh hành từ thời phong kiến, nhưng ở thế kỷ 21 này vẫn còn tồn tại và được áp dụng ở một vài nơi trên thế giới.

    - Kiểu “chạy theo thành tích”. Tất nhiên xã hội phát triển được là nhờ có thành tích của các thành viên của nó. Đối với hệ thống đại học cũng vậy. Nhưng xu hướng “tô son vẽ phấn” để có được nhiều thành tích (rởm) thì lại nguy hiểm cho xã hội. Khi các thành tích được định nghĩa bằng các chỉ tiêu lệch lạc, thì người ta sẽ chạy theo các chỉ tiêu lệch lạc đó để đạt thành tích, cho dù làm việc đó có gây thiệt hại cho xã hội. Ví dụ, khi tỷ lệ tốt nghiệp cao được lấy làm thước đo thành tích chính (mà coi nhẹ các yếu tố khác), thì dẫn đến ngay xu hướng dạy dễ đi, thi dễ đi, khuyến khích gian lận thi cử, để đạt được tỷ lệ đỗ cao. Hậu quả là chất lượng đào tạo xuống cấp, và cả giáo viên và học sinh trở thành những kẻ gian lận.

    - Một kiểu chạy theo thành tích ảo đáng chú ý là kiểu “đếm bài ăn tiền” (hay có thể gọi là kiểu thô thiển hóa các thước đo thành tích khoa học). Ở bên Anh, từ thời Thatcher, các nhà chính trị không hiểu gì về khoa học muốn “đo lường thành tích khoa học” bằng các thước đo thô thiển mà họ hiểu được. Và thế là họ đưa vào các tiêu chuẩn “định lượng” thô thiển: công trình khoa học được đo bằng bài báo, bài báo được đo bằng tạp chí đăng nó, tạp chí được đo bằng “impact factor”, và thế là mọi thứ qui về mấy con số ngô nghê như “số bài báo” hay “chỉ số ảnh hưởng”, mà không tính đến chất lượng thật sự ra sao. Xu hướng này được nhân rộng ra trên thế giới, nhiều nước sử dụng, trở thành một trào lưu đáng ngại. Nó làm cho rất nhiều nhà khoa học trên thế giới, kể cả những người đã có tiếng tăm, thay vì làm những kết quả có ý nghĩa lớn đăng trong 1-2 bài báo chất lượng cao, thì sẽ viết thật nhiều, một kết quả cũng phải chia 5 xẻ 7 thành nhiều bài vụn vặt, và viết cả nhiều bài hoàn toàn nhảm nhí, cho được nhiều bài, rồi tạo các “băng nhóm” trích lẫn nhau, cho được nhiều lần trích dẫn, v.v., để có “bảng thành tích” đẹp, bỏ rơi cái gọi là “integrity” (sự trung thực) trong khoa học.

    - Kiểu “không phải việc của tôi”. Như người ta nói, xã hội muốn tồi tệ đồi bại đi, thì chỉ cần người tử tế im lặng (do “sợ” hoặc “ngại”) để kẻ xấu hoành hành, hoặc bỏ rơi người bị nạn. Bởi vậy mà ở nhiều nước tiên tiến, theo luật pháp, thấy người bị nạn mà không cứu thì cũng là phạm pháp. Tương tự như vậy, nếu thấy kẻ gian mà không lên tiếng thì cũng phải bị coi là đồng lõa. Tiếc rằng, có những đại học mà có những kẻ gian (như “tiến sĩ khoa học” mua bằng) ngồi đó mà từ Ban giám hiệu trở xuống không làm gì để đuổi việc hay kỷ luật kẻ gian cả (mà chỉ xì xào sau lưng), ai cũng nghĩ “đấy không phải việc của mình, đụng chạm vào thiệt thân”. Một hệ thống đại học mà chấp nhận những chuyện như vậy, với một cơ chế mà mọi người “thấy chuyện bất bình làm ngơ” muốn được “yên thân”, là một hệ thống đã bị đồi bại hóa, nô lệ hóa. Tệ hơn nữa, là khi mà có các quan chức hay nhân viện trong ngành đại học, việc rõ ràng thuộc trách nhiệm của họ phải làm nhưng họ không làm, đợi đến lúc nào có người đến cầu cạnh đút lót lúc đó mới làm. Ở những nước tiên tiến thì chuyện như vậy hiếm xảy ra. Một Hiệu trưởng đại học mà chỉ cần mang tiếng là có từng gian lận, là có thể bị đuổi việc ngay lập tức, chứ hiếm ai “sợ” hay “ngại” vị Hiệu trưởng đó đến mức không dám lên tiếng.

    Công đoàn hóa

    Vấn đề “công đoàn hóa” có thể hơi lạ tai đối với người Việt Nam, vì ở Việt Nam hầu như chỗ nào cũng có công đoàn, và hầu như mọi nhân viên đều nghiễm nhiên được công đoàn quan tâm, nhưng công đoàn không đóng vai trò chính trị quan trọng gì, mà chủ yếu chỉ lo mấy viếc “hiếu hỉ” hay “phân phối trợ cấp”. Trên thế giới thì vai trò của công đoàn lớn hơn hẳn, có thể làm tiêu tan các tổ chức (kể cả các chính phủ) và các doanh nghiệp.

    Trong lịch sử thế giới, các công đoàn lao động từng đóng một vai trò nhất định, làm “cân bằng lực lượng” giữa bên thuê làm (employers) và bên làm thuê (employees). Quyền được tham gia công đoàn là một trong các quyền cơ bản của người lao động ở nhiều nước trên thế giới. Tuy nhiên, bản thân các công đoàn, khi lớn mạnh quá, cũng có xu hướng lũng đoạn, dẫn đến thiệt hại cho xã hội. Ở Pháp, hầu như cứ một vài tháng lại có bãi công tàu xe do công đoàn bày ra, làm ảnh hưởng xấu đến cuộc sống và công việc của toàn bộ mọi người khác. (Trong khi đó, ở Thụy Sĩ là nước có tổ chức tốt hơn, hầu như không bao giờ có gián đoạn phương tiện giao thông công cộng). Một ví dụ về công đoàn làm cho doanh nghiệp lụn bại là hãng General Motors (cũ) ở Mỹ. Hãng này từng là trùm thế giới về sản xuất ô tô trong nhiều thập kỷ của thế kỷ 20. Nhưng hãng bị công đoàn ép trả lương bổng cho nhân viên quá cao, trong khi nhân viên lại trở nên lười biếng, kém sáng tạo, dẫn đến kém sức cạnh tranh, làm ăn thua lỗ trong nhiều năm rồi phá sản gần đây.

    Công đoàn khi quá mạnh ở đâu, thì tạo nên một thứ “xã hội chủ nghĩa” theo nghĩa bình quân chủ nghĩa, và xu hướng lười biếng làm việc ở đó. Lý do là, người ta vào công đoàn chủ yếu nhằm dựa trên thế của công đoàn để được “đảm bảo việc làm và phúc lợi”. Nhưng khi ai cũng được đảm bảo việc làm, thì có nghĩa là làm tồi tệ cũng không bị đuổi việc (người quản lý không dám đuổi vì sợ công đoàn). Khi làm tồi tệ cũng không bị đuổi việc, thì dẫn đến xu hướng là nhiều người sẽ “tiết kiệm năng lượng” khi đi làm, không cố gắng làm cho tốt. Khi không được phép cho nghỉ việc người tồi để tìm người tốt hơn, thì người tốt có thể chạy mất trong khi người tồi tích tụ lại. Khi làm tốt cũng không được hưởng hơn gì đáng kể so với làm tồi (đã có công đoàn lo chuyện phúc lợi cho), thì người làm việc không còn “incentive” (động lực kích thích) để làm tốt, dẫn đến hiệu quả công việc tồi đi. Khi công đoàn mạnh đến mức có thể làm tê liệt hoạt động của các doanh nghiệp hay tổ chức nếu muốn, thì các doanh nghiệp hay tổ chức phải nhượng bộ các đòi hỏi của công đoàn, kể cả các đòi hỏi quá đáng (bị “hold-up”), khiến cho doanh nghiệp hay tổ chức lụn bại đi.

    Việc “công đoàn có lợi hay có hại” (trong xã hội nói chung, và trong ngành đại học nói riêng) là một việc gây nhiều tranh cãi. Có nhiều phản ánh về ảnh hưởng xấu của công đoàn đến với đại học, tiêu biểu như ở Canada. Chẳng hạn khi tuyển nhầm phải giảng viên năng lực yếu và không nghiêm túc, không cho nghỉ việc được vì lý do công đoàn, và cũng không còn chỗ để tuyển người khác tốt hơn. Nhưng cũng có nhiều ý kiến bênh vực công đoàn (đặc biệt từ phía những người được lợi vì nó). Lợi cho ai hại cho ai? Có thể là lợi cho các thành viên công đoàn, nhưng hại cho các tổ chức phải “hứng” công đoàn. Khi tổ chức đó là tổ chức phi lợi nhuận, như là các đại học phi lợi nhuận, thì đó là toàn xã hội bị thiệt.

    “Dân chủ” không phải lối

    Các xã hội dân chủ hiện tại, tuy không hoàn thiện, nhưng vẫn ưu việt hơn các xã hội phong kiến hay độc tài. Xã hội dân chủ đem lại sự bình đẳng và cơ hội cho mọi người, khiến cho mọi người dễ phát huy được khả năng của mình hơn, và xã hội nhờ đó đi lên. Sự dân chủ hóa đại học cũng góp phần làm cho hệ thống đại học phát triển nhanh trên thế giới trong mấy thế kỷ qua. Một trong các hệ quả tốt đẹp là, ngày càng có nhiều người được học đại học, có được văn hóa cao. Tuy nhiên, từ “dân chủ” có thể bị hiểu sai nghĩa, bị lạm dụng, tạo ra những kiểu “dân chủ không phải lối”, có hại cho hệ thống đại học nói riêng và cho xã hội nói chung.

    Một trong các kiểu dân chủ không phải lối đó là coi sinh viên và giảng viên ngang bằng như nhau, cho sinh viên chấm điểm giảng viên tương tự như giảng viên chấm điểm sinh viên. Israel đã từng áp dụng chính sách này. Hệ quả là, điểm thi của sinh viên tăng vụt lên (vì thầy trò “mặc cả” với nhau, thầy cho trò điểm cao để trò cũng cho thầy điểm cao), trong khi chất lượng ra trường của sinh viên thì giảm sút.

    Câu nói kiểu như “sinh viên là chủ của đại học” là câu nói “mị dân” nghe thì hay, nhưng không phản ánh đúng sự thật. Theo lẽ tự nhiên, trong một ngôi nhà có bố mẹ và trẻ em, thì thường bố mẹ phải là chủ ngôi nhà và có trách nhiệm nuôi nấng trẻ em, chứ không phải ngược lại. Đại học tương tự như vậy: sinh viên là những người mà đại học có tránh nhiệm “nuôi nấng” về mặt tinh thần cho trưởng thành, nhưng không phải “ông bà chủ” ở đó. Trong quan hệ thầy-trò, thì người thầy phải có “oai” trò mới nghe, mới dạy được trò. Khi đặt thầy trò ngang bằng nhau, thầy không có “oai” trong con mắt trò, thì thầy nói trò không nghe, không dạy được trò. Tất nhiên, không phải người thầy nào cũng tốt, và sinh viên cần có quyền góp ý cho thầy hay khiếu nại về những người thầy dạy không nghiêm túc, nhưng điều đó không có nghĩa là “bình đẳng thầy trò”. Và thầy có oai không có nghĩa là thầy nói gì trò cũng phải chấp nhận thế là đúng, không dám hỏi lại. Đối ngược lại với thái cực “dân chủ quá trớn” là thái cực “thầy độc tài, trò thụ động” cũng không tốt cho đại học.

    Một kiểu “dân chủ không phải lối” khác, là coi những người thư ký hay phụ trách hành chính là ngang bằng với giáo sư, hay thậm chí coi phụ trách hành chính quan trọng hơn giáo sư. Bộ phận hành chính là để phục vụ các giảng viên chứ không phải ngược lại. Khi cơ chế khiến cho các bộ phận hành chính và các thư ký trở nên quan trọng hơn giáo sư, thì họ sẽ trở nên lũng đoạn đại học, biến cả giáo sư lẫn sinh viên thành các “nô lệ” của mình.

    Ở Pháp, sự “dân chủ hóa quá mức” đại học dẫn đến mô hình “đại học sọt rác” (université poubelle). Có hai hệ thống đại học song song ở Pháp; hệ thống “grandes écoles” (trường lớn) và hệ thống “universités” (đại học tổng hợp).Về mặt chất lượng giảng viên, chất lượng nghiên cứu, và lương bổng, thì hai hệ thống này tương đương với nhau. Về ngành nghề thì có hơi khác nhau (bên “grandes écoles” thiên về kỹ thuật hơn, bên “universités” thiên về lý thuyết hơn) nhưng cũng có nhiều ngành chung và université cũng có thể mở các ngành kỹ thuật. Sự khác biệt chủ yếu nằm ở sự tuyển sinh viên và chế độ cho sinh viên: sinh viên muốn vào grande école thì phải thi tuyển, còn vào université thì chỉ cần bằng tốt nghiệp phổ thông, không phải thi (và cũng không mất học phí). Hệ quả là, grande école chọn được các sinh viên giỏi (và các sinh viên giỏi cũng muốn vào đó, vì dù chương trình có tương đương thì học trong lớp giỏi nói chung vẫn tốt hơn học trong lớp dốt), còn université thành cái “sọt rác” hứng toàn bộ các sinh viên còn lại, trong đó một phần khá lớn là quá kém và lười biếng (nhưng vẫn tốt nghiệp phổ thông — cũng vì bệnh thành tích ở bậc phổ thông người ta cho tốt nghiệp cả các học sinh học kém). Đi kèm với sự kém kiến thức sự và lười biếng, là văn hóa chung thấp, thiếu ý thức công dân, bỏ học nhiều và khi đi học thì phá hoại bôi bẩn trường lớp, v.v., không có một sự tự hào nào về ngôi trường của mình. Tất nhiên một đại học khó mà trở thành chất lượng cao, gây dựng được “tên tuổi”, nếu như bất kể ai cũng vào được đó, không có chọn lọc, không cần cố gắng, cũng không mất học phí. (Tiền xã hội bỏ vào đầu tư giáo dục cho những kẻ lười biếng không chịu học hoặc học không vào là tiền đầu tư kém hiệu quả, bởi vậy đối với những ai lười biếng và học dốt thì nên bắt đóng học phí, để có tiền cho học bổng những ai học tốt có khả năng đem lại nhiều đóng góp về sau cho xã hội hơn, thì công bằng và hiệu quả hơn, kích thích sinh viên học tốt hơn. Cần có hệ thống “cao đẳng” hay “trung cấp dạy nghề” rộng hơn để đón nhận các học sinh tốt nghiệp phổ thông trình độ kém, thay vì cho hết vào đại học nhưng không theo được và phá hoại bôi bẩn trường lớp như ở Pháp hiện nay. Đại học tổng hợp cần được tuyển chọn và loại bớt sinh viên tương tự như grande école, thì mới có cơ thoát khỏi mô hình đại học sọt rác).

    Phung phí tài nguyên

    Ném tiền bừa bãi ngân sách dành cho đại học cũng là một cách phá hoại nền đại học. Vì tiền khi ném vào những chỗ không đem lại hiệu quả (mà có thể rơi vào túi một số cá nhân nào đó), thì không còn tiền cho những chỗ khác đang rất cần tiền để phát triển, có thể đem lại hiệu quả cao hơn nhiều. Ví dụ như mua những máy móc thí nghiệm rất đắt rồi bỏ đấy không dùng (vì người cần dùng máy và người có quyền quyết định mua là hai người khác nhau, người mua không phải là mua vì người dùng, mà là vì được hưởng lợi tư từ việc mua đó). Hay đầu tư những khoản tiền khổng lồ của nhà nước vào một “đại học đẳng cấp quốc tế” nhưng lại để một ông trình độ ấm ớ không biết nghiên cứu là gì làm Hiệu trưởng, và tuyển các học sinh kém nhưng có nhiều tiền nộp học phí vào học.

    Phung phí thời gian của sinh viên và của giảng viên, làm ra những chương trình đào tạo bắt sinh viện bỏ quá nhiều thời gian vào học những môn “vô bổ” không nơi nào cần đến, những kiến thức đã lỗi thời, cũng là một hình thức phá hoại đại học, làm giảm giá trị của nó.

    Bỏ rơi sinh viên

    Không có sinh viên, thì cũng không còn đại học.

    Một sai lầm mà các đại học nghiên cứu hay mắc phải, đó là quá coi nặng phần nghiên cứu mà coi nhẹ phần đào tạo. Bởi vậy có nhiều giáo sư giỏi về nghiên cứu, nhưng dạy học kém, hay thậm chí dạy không nghiêm túc, do sự đánh giá quá thiên lệch về nghiên cứu tạo ra. Điều này làm ảnh hưởng xấu tới sinh viên, và làm mất uy tín đại học.

    Khi mà đại học tuyển sinh theo lý lịch, hay theo khả năng trả học phí, thì đó cũng là một cách bỏ rơi các sinh viên giỏi nhưng con nhà nghèo hoặc “lý lịch tồi”.

    Tất nhiên, khi giảng viên bị bỏ đói, thì hệ quả là sinh viên bị giảng viên bỏ rơi (hay tồi tệ hơn, là giảng viên coi sinh viên là nguồn thu nhập của mình bằng cách bán điểm, bán bằng), như đã viết phía trên. Khi giảng viên bị hút tâm trí vào những việc kiếm tiền khác, thì họ sẽ không thể dạy hay được, vì họ không còn thời giờ để quan tâm tới sinh viên, để cải thiện cách dạy học sao cho hay hơn, và kiến thức của họ cũ kỹ không được cập nhật, không theo kịp thời đại.

    Ngoài các cách kể trên, ắt hẳn còn nhiều cách khác. Chẳng hạn như quan liêu hóa: tạo dựng bộ máy quan liêu quản lý đại học thật nặng nề cồng kềnh, để làm bất cứ cái gì cũng đòi hỏi thật nhiều giấy tờ, giải quyết bất cứ công việc gì cũng chậm chạp, làm mất thật nhiều thời gian của mọi người và tiền của của đại học, v.v. Ắt hẳn trong bài viết có những ý chưa phân tích rõ ràng, và có những ý gây tranh cãi. Vì thời gian và khuôn khổ của bài viết có hạn, nên tôi xin dừng ở đây, mà mong nhận được các ý kiến phản hồi.

    Bài viết này là theo lời mời của ban biên tập quyển sách “Kỷ yếu Humboldt 200”. Xin chân thành cảm ơn tất cả các những người đã góp ý cho tôi trong quá trình viết bài này, và cảm ơn Ban Biên tập quyển sách Kỷ yếu Humbodlt 200 đã mời tham gia viết bài.

    N. T. D.
    Toulouse, 14/Nov/2010

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    0 phản hồi