Luật sư Ngô Ngọc Trai - Một thí dụ cho thấy hệ quả của tam quyền không phân lập

  • Bởi Khách
    21/12/2010
    6 phản hồi

    Luật sư Ngô Ngọc Trai

    Lý thuyết về tam quyền phân lập được nêu ra đầu tiên bởi nhà triết học Hy Lạp cổ đại Aristoteles (384 - 322 TCN) và được hoàn thiện thành học thuyết hoàn chỉnh bởi nhà tư tưởng vĩ đại người Pháp là ông Montesquieu (1689 - 1755).

    Nội dung cốt lõi của học thuyết này cho rằng quyền lực nhà nước luôn có xu hướng mở rộng và lạm quyền. Điều này có bởi trong mỗi người ý chí vì quyền lợi cá nhân luôn lấn át ý chí vì quyền lợi chung. Để bảo vệ các quyền tự do của người dân trong mối quan hệ với nhà nước thì quyền lực nhà nước cần được giới hạn. Mặt khác quyền lực chỉ có thể được giới hạn bởi chính quyền lực, do vậy để giữ cho quyền lực nhà nước không tiêu cực xâm phạm tới người dân thì quyền lực nhà nước không nên tập trung mà cần phân chia.

    Học thuyết về tam quyền phân lập hay phân chia quyền lực là nền tảng cơ bản xây dựng lên các bản Hiến pháp tư sản trong đó tiêu biểu là Hiến pháp Hoa Kỳ. Theo đó quyền lực nhà nước được phân chia làm ba nhánh tồn tại độc lập, kiềm chế, giám sát lẫn nhau là lập pháp, hành pháp và tư pháp.

    Ở Việt Nam, trên cơ sở tiếp thu những tinh hoa kiến thức nhân loại và phù hợp với đường lối phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, mô hình tổ chức quyền lực nhà nước được thể hiện dưới dạng như sau: Nghị quyết đại hội 10 của Đảng cộng sản khẳng định: “Xây dựng cơ chế vận hành của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đảm bảo nguyên tắc tất cả quyền lực thuộc về nhân dân; quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp” (Văn kiện đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 10 NXB chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, trang 126).

    Việc tổ chức quyền lực nhà nước như vậy xuất phát từ mong muốn đảm bảo quyền lực thuộc về nhân dân, tránh xu thế lạm quyền của cơ quan nhà nước. Tuy vậy, trong quá trình xây dựng chính sách và trong khi luật pháp đang trong quá trình hoàn thiện, đã tồn tại một cơ quan nắm giữ cả ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp liên quan đến một vấn đề hết sức quan trọng.

    Cơ quan đó là UBND cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (sau đây gọi chung là UBND cấp tỉnh). Đây là cơ quan hành pháp nhưng đã nắm giữ cả ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Cơ quan này đã sử dụng cả ba quyền trong việc thực hiện vai trò quản lý nhà nước về đất đai, cụ thể là việc thu hồi đất giải phóng mặt bằng.

    Về quyền lập pháp

    Theo Luật đất đai và các văn bản hướng dẫn thi hành, các quy định về trình tự, thủ tục thu hồi đất, khung giá đất đền bù, danh mục các khoản hỗ trợ, chính sách tái định cư được ban hành một phần bởi chính phủ, một phần bởi UBND cấp tỉnh.

    Chính phủ ban hành các nguyên tắc chung về trình tự thủ tục thu hồi đất, danh mục các khoản hỗ trợ. Trên cơ sở đó UBND cấp tỉnh ban hành khung giá đất, chính sách đền bù, hỗ trợ và tái định cư. Trong đó đáng lưu ý là khung giá đất của tỉnh. Khung giá đất được UBND cấp tỉnh ban hành mỗi năm là cơ sở để tính mức thuế sử dụng đất và tính mức giá đền bù khi nhà nước thu hồi đất. Khung giá này luôn thấp hơn so với mức giá chuyển nhượng đất trên thị trường, với lý do để tránh cho mức thuế người sử dụng phải nộp cao quá, nhưng mặt khác khi đất bị thu hồi thì người bị thu hồi đất luôn bị đền bù với mức giá thấp.

    Cùng với khung giá đất, mức hỗ trợ và chính sách tái định cư đều do UBND cấp tỉnh ban hành phù hợp với địa phương. Các quy định này có giá trị thực thi không khác gì luật do Quốc hội ban hành, nó là cơ sở viện dẫn giải quyết các vụ việc của Sở ban ngành, UBND cấp dưới và kể cả tòa án. Như vậy UBND cấp tỉnh là cơ quan hành pháp nhưng đã thực hiện chức năng của cơ quan lập pháp, đó là ban hành luật.

    Về quyền hành pháp

    UBND cấp tỉnh là cơ quan trực tiếp thực hiện các việc thu hồi đất, đền bù, hỗ trợ, tái định cư. UBND cấp tỉnh chỉ đạo UBND cấp dưới và các sở ban ngành thực thi các quy định của chính phủ và của UBND tỉnh. Đây là vai trò đúng của UBND tỉnh, vai trò của cơ quan hành pháp.

    Về quyền tư pháp

    Theo quy định của Luật đất đai năm 2003 và các văn bản hướng dẫn thi hành thì người dân có quyền khiếu nại khi không đồng ý với quyết định thu hồi đất hoặc khi không đồng ý về mức bồi thường, hỗ trợ, tái định cư. Người giải quyết khiếu nại không ai khác chính là chủ tịch UBND cấp tỉnh. Chủ tịch UBND cấp tỉnh đứng đầu UBND cấp tỉnh, trong mối tương quan với chủ thể bên ngoài chủ tịch UBND cấp tỉnh và UBND cấp tỉnh là một.

    Cơ quan này giải quyết việc khiếu nại về chính họ, do vậy xu hướng giải quyết đương nhiên sẽ là bảo vệ quan điểm, việc làm trước đó. Quyết định giải quyết khiếu nại của chủ tịch UBND cấp tỉnh được thi hành, ai chống lại sẽ bị cưỡng chế.

    Như vậy UBND cấp tỉnh là cơ quan hành pháp nhưng đã giữ cả vai trò phán xét của cơ quan tư pháp.

    Hệ quả của tam quyền không phân lập

    Việc UBND cấp tỉnh là cơ quan hành pháp nhưng giữ cả quyền lập pháp, tư pháp trong khi thực hiện vai trò quản lý nhà nước về đất đai, dẫn đến hệ quả là chủ thể này trở thành giống như ông vua một nước chư hầu. Trong mối quan hệ với dân chúng thì đất đai dân chúng chỉ được quyền sử dụng do ông ta cho phép, còn quyền quyết định thay đổi thuộc về ông ta, vấn đề chỉ là ông ta muốn làm gì với nó. Đối với vua bên trên thì chẳng có gì lo sợ vì quyền năng của ông ta chính do vua trên ban cho, việc sử dụng quyền năng sẽ phải là như vậy để bảo vệ quyền lợi vua trên, vấn đề chỉ là ông vua chư hầu cần khéo léo một chút khỏi làm phiền hà đến trật tự và uy nghiêm của vua trên mà thôi.

    Cán bộ thừa hành theo đó trong khi thực thi công vụ luôn cho việc làm của mình là đúng lý, giống như một con robot đã được lập trình sẵn, hoàn toàn vô tình nghĩa, từng bước từng bước dẫm đạp mọi thứ để đạt tới mục tiêu thu hồi đất. Họ giống như người lính của ông vua khi xưa, sẵn sàng dùng gươm giáo chống lại chính nhân dân mình. Đặc biệt khi công vụ được thôi thúc bởi quyền lợi thì sẽ dễ dàng dẫn tới tình trạng chuyên chế, độc đoán, tham nhũng.

    Khi phát sinh bất đồng với người dân bị thiệt thòi, họ không quan tâm tới quyền lợi chính đáng của người dân, gạt bỏ đối thoại hoặc chỉ làm chiếu lệ và luôn sẵn sàng sử dụng bộ máy đàn áp. Đó là chưa kể đến khi triển khai công việc thu hồi đất, họ sử dụng mọi thủ đoạn có thể để đẩy người dân ra khỏi mảnh đất của mình.

    Doanh nghiệp khi chậm được bàn giao mặt bằng, tiến độ dự án sẽ chậm gây thiệt hại về kinh tế. Doanh nghiệp thông thường luôn gắn bó chặt chẽ và không tiếc gì để mặt bằng được bàn giao sớm thời hạn. Trong khi đó UBND tỉnh lại nắm trong tay bộ máy cưỡng chế.

    Tâm thế người dân khi bị mất đất canh tác hoặc đất ở đã sinh sống bao năm, giống như thủa xưa người nông dân bị quan lại ép bán mảnh ruộng tốt với giá rẻ mạt hoặc do biến loạn thổ phỉ, giặc giã mà người dân phải rời xa nơi chôn rau cắt rốn, nơi mồ mả ông cha của mình. Mất đất là điều người dân không hề mong muốn và nó mặc nhiên đụng chạm tới những thân thuộc của con người. Nhưng giặc giã thì có thể hết người dân còn có thể quay về, nay người lấy đất lại nhân danh quyền lợi chung và việc lấy đi là vĩnh viễn.

    Tâm trạng người dân mất đất luôn không bao giờ thoải mái và họ mong muốn việc thu hồi đất phải thực sự công khai minh bạch và sự hy sinh của họ phải thực sự vì quyền lợi chung. Nhưng trong hiện tại người dân luôn phải cam chịu chấp nhận và việc đòi hỏi giải trình về dự án là điều thật xa xôi. Mặt khác cái gọi là vì “mục đích phát triển kinh tế” trong việc nhà nước thu hồi đất, với sự hiện diện trên thực tế là các doanh nghiệp, quá rộng lớn và mơ hồ khiến cho chính cán bộ thừa hành thay vì giải đáp làm rõ họ câm nín hành động và khi bị cản trở họ liền đàn áp.

    Người dân lâm vào tình trạng bế tắc khi mà người giải quyết khiếu nại chính là người xâm phạm. Không thể trông mong vào kết quả giải quyết khiếu nại của chủ tịch UBND các cấp, họ trông chờ ở vua trên tức cấp chính phủ và đó là lý do dẫn đến các vụ khiếu nại vượt cấp, một số trường hợp chống đối và như thường thấy họ bị cưỡng chế thực hiện.

    Ở Việt Nam mỗi năm trong cả nước xảy ra hàng vạn vụ khiếu kiện về đất đai, điều này là minh chứng quan trọng cho thấy nguyên nhân không phải sai phạm, yếu kém ở một vài địa phương hay của một vài cán bộ. Rõ ràng đây là hệ quả thực tế của sai lầm trong phân công vai trò, chức năng cho một cơ quan nhà nước trong một lĩnh vực cụ thể. Khi chính sách pháp luật của nhà nước đang trong quá trình hoàn thiện, với vai trò quả lý nhà nước về đất đai, UBND cấp tỉnh đã nắm giữ cả ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Hầu như trong tất cả các vụ việc thu hồi đất cơ quan này mặc nhiên ở trong tình thế hoàn toàn đối đầu với người dân.

    Nhận định rõ bản chất vấn đề để có giải pháp

    Để có giải pháp cho tình trạng khiếu kiện về đất đai như hiện nay cần nhìn ra bản chất pháp lý có tính nền tảng của sự việc. Đó là xóa bỏ tình trạng tam quyền tập trung nơi UBND cấp tỉnh.
    Cần sửa đổi Hiến pháp, các văn bản luật, xác định quyền sở hữu tư nhân của người dân đối với đất đai, khi nhà nước hay doanh nghiệp muốn có đất phải thương lượng và được sự đồng ý của người có đất, theo đó đương nhiên sẽ không có khiếu nại, khiếu kiện. Các dự án khi đó đòi hỏi những yếu tố đang rất thiếu vắng trong hiện tại là đảm bảo tính thiết thực, đúng đắn, khoa học, ngoài ra phải đảm bảo sự công tâm, khách quan của cán bộ trong khi thừa hành công vụ.
    Công nhận quyền sở hữu tư nhân về đất đai, UBND cấp tỉnh sẽ không ban hành khung giá đất và không ra quyết định thu hồi đất. Giá đất sẽ căn cứ theo giá thị trường và việc bàn giao đất cũng sẽ bởi sự tự nguyện của dân chúng. Làm điều đó để xóa bỏ tình trạng cơ quan hành pháp ban hành luật vốn dĩ chỉ thuộc thẩm quyền của cơ quan lập pháp.

    Ông Montesquieu đã viết trong cuốn sách kinh điển Bàn về tinh thần pháp luật (De L’esprit des lois) như sau: “Hãy xem người công dân trong các nước cộng hòa kia ở trong cảnh ngộ: Cơ quan cầm quyền vừa là kẻ thi hành luật và tự cho mình là kẻ lập pháp. Họ có thể tàn phá quốc gia bằng những ý chí chung sai lầm của họ. Mà họ còn nắm cả quyền xét xử nữa thì họ có thể đè nát mỗi công dân theo ý muốn của họ” (Bàn về tinh thần pháp luật, NXB lý luận chính trị, 2006, trang 107).

    Nếu ai không tin những lời trên của ông Montesquieu, hãy tự tìm hiểu về những người bị thu hồi đất ở địa phương mình.

    Luật sư Ngô Ngọc Trai – Đoàn luật sư tỉnh Nam Định

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    6 phản hồi

    Trích dẫn:
    luật sư Nguyễn Trường Thành ở Văn phòng Luật sư Vạn Lý (Cần Thơ) nhận định, đó là quyết định vô hiệu bởi sổ đỏ đứng tên bà Nguyệt không còn tồn tại. Hơn nữa, UBND TP Sóc Trăng đã vượt thẩm quyền, mảnh đất qua nhiều lần mua bán, đều có sổ đỏ, nếu tranh chấp phải kiện ra tòa để tòa án phán quyết.

    UBND vượt thẩm quyền, vừa hành pháp vừa tư pháp.
    Tại sao ở VN hay có chuyện ngược đời, không tôn trọng luật pháp này ?

    Đơn giản là chính quyền các cấp (địa và trung ương) không hề do dân ứng cử và bầu cử trực tiếp.
    Lúc trước nơi tôi ở, bỗng nhiên xuất hiện một ông lạ hoắc, dân chẳng ai biết, do trên cử xuống và đương nhiên đắc cử chủ tịch UBND (chẳng hiểu ai bỏ phiếu tín nhiệm hắn !). Và chủ tịch nhiệm kỳ trước, biến, chẳng hiểu lão lại đắc cử phương nao ?.
    Đôi khi một lão làm lãnh đạo bên VKSND nơi khác lại trở thành phó chủ tịch UBND nơi tôi. Do đó họ có thói quen hư hỏng là hay cầm nhầm chức vụ giữa hành và tư pháp mặc dù VKSND không phải là tòa án xét xử đất đai .

    Do chỉ phải tranh đấu trong nội bộ đảng chứ không phải tranh cử trước dân cho nên họ cóc cần lá phiếu của dân để có thể duy trì việc lãnh đạo các cấp. Có bác dân đen nào cầm lá phiếu bầu Nguyễn Tấn Dũng làm thủ tướng chưa ?

    Chính vì thế việc cải tổ hành chánh phải đi kèm với cơ chế cho dân ứng cử và bầu cử trực tiếp vào cơ quan điều hành các cấp thì mới hiệu quả. Nếu không mọi chuyện vẫn như cũ, không thể giải quyết được bằng đơn thuần hô to khẩu hiệu học tập đạo đức của Hồ Chí Minh được (xưa rồi diễm)

    http://www.tienphong.vn/Tuong-Tac/Ban-Doc/523285/Chinh-quyen-ban-hanh-quyet-dinh%E2%80%A6-vo-hieu.html

    Chính quyền ban hành quyết định… vô hiệu

    TP - UBND TP Sóc Trăng (tỉnh Sóc Trăng) ban hành một quyết định vô hiệu, không thể thực hiện, vì thu hồi một sổ đỏ không còn tồn tại. Việc làm gây ra nhiều hậu quả xấu cho công dân và chính UBND TP Sóc Trăng.

    Mảnh đất vỏn vẹn 88,3 m2 nằm bên quốc lộ 1A, thuộc phường 2 (TP Sóc Trăng) đã trải qua 4 lần mua bán. Các lần mua bán sang tên, làm sổ đỏ (giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) đều hợp pháp. Người mua bán thứ ba là bà Trần Thị Minh Nguyệt được cấp sổ đỏ tháng 7-2007. Người mua bán thứ tư là bà Phạm Thị Diệu Hiền (chồng là Trần Văn Trí) được sang tên sổ đỏ tháng 9-2007.

    Thế nhưng, người mua bán thứ nhất là ông Phạm Hoàng Thanh, thấy đất có giá nên trở lại chiếm và làm đơn khiếu nại, cho rằng việc cấp sổ đỏ không đúng. Ngày 27-7-2010, UBND TP Sóc Trăng ra quyết định thu hồi sổ đỏ của bà Trần Thị Minh Nguyệt mà không nêu lý do thu hồi (ảnh).

    Về quyết định này, luật sư Nguyễn Trường Thành ở Văn phòng Luật sư Vạn Lý (Cần Thơ) nhận định, đó là quyết định vô hiệu bởi sổ đỏ đứng tên bà Nguyệt không còn tồn tại. Hơn nữa, UBND TP Sóc Trăng đã vượt thẩm quyền, mảnh đất qua nhiều lần mua bán, đều có sổ đỏ, nếu tranh chấp phải kiện ra tòa để tòa án phán quyết.

    Việc làm của UBND TP Sóc Trăng chỉ có tác dụng khuyến khích ông Thanh bội tín, bán mảnh đất từ hơn 15 năm trước, nhưng đầu tháng 12 này ngang nhiên xây nhà trên mảnh đất. Ông Trần Văn Thành, Đội trưởng Đội trật tự đô thị TP Sóc Trăng bức xúc, đã 4 lần lập biên bản yêu cầu ông Thanh ngưng xây nhà nhưng ông không chấp hành.

    Mới đây, ngày 13-12, Phòng Quản lý Đô thị TP Sóc Trăng ra quyết định buộc ông Thanh tháo dỡ công trình trong 3 ngày cũng không được. Bà Hiền và ông Trí mua đất mở cơ sở kinh doanh thì chịu nhiều thiệt hại, đang phải kiện quyết định của UBND TP Sóc Trăng ra tòa.

    Ông Võ Thanh Nhàn, Chủ tịch UBND TP Sóc Trăng, thừa nhận, quyết định thu hồi sổ đỏ của bà Nguyệt do nhiệm kỳ trước ban hành là không cần thiết. Nếu có sai sót trong cấp sổ đỏ thì kỷ luật cán bộ làm sai, còn UBND TP Sóc Trăng vượt thẩm quyền nếu gây thiệt hại sẽ phải gánh chịu. Ông Nhàn cũng cho biết, đã giao Phó Chủ tịch Lê Minh Thượng xem xét sửa sai.

    Việc gì cũng phải lôi thủ tướng ra thì chứng tỏ guồng máy nhà nước rất kém hiệu quả (không giải quyết, ngâm tôm, ...) và người dân không tin tưởng vào tòa án VN.
    Tại sao không qua trung gian hòa giải và tòa án thương mại để kiện UBND tỉnh Tiền Giang ?

    Trung gian hòa giải có thể là địa phương (một văn phòng riêng của tòa án, VKSND, UBND, sở thương mại, ...). Nếu lên cấp trung ương là bộ thương mại, thủ tướng.

    Trích dẫn:
    Trong khi đó, theo UBND tỉnh Tiền Giang, hợp đồng xây dựng, tiêu thụ nước giữa UBND tỉnh Tiền Giang và công ty Đồng Tâm là trách nhiệm của những cán bộ lãnh đạo tiền nhiệm. Hiện nay, những người có liên quan này, người thì chuyển công tác về trung ương, người nghỉ hưu.

    Cái thói vô trách nhiệm đến mức lưu manh lừa đảo, không thủ tín, nó bàng bạc khắp nơi trong hệ thống đảng CSVN và nhà nước, quả là một điều hết sức nhức nhối ... Thật bó tay !

    Bác nào có giải pháp khả thi không ?

    http://sgtt.vn/Thoi-su/135170/Bi-thiet-khi-dau-tu-doanh-nghiep-phai-cau-cuu-Thu-tuong.html

    Bị thiệt khi đầu tư, doanh nghiệp phải cầu cứu Thủ tướng

    SGTT.VN - Bà Nguyễn Mai Bảo Trâm, tổng giám đốc công ty cổ phần BOO nước Đồng Tâm (Bình Đức, Tiền Giang), vừa gửi công văn cầu cứu Thủ tướng Chính phủ can thiệp, chỉ đạo UBND tỉnh Tiền Giang phải tiếp nhận nguồn nước sạch do tỉnh này ký kết hợp đồng tiêu thụ.

    Đầu tư gần 1.200 tỉ đồng nhưng không tiêu thụ được nước sạch, nhà máy BOO nước Đồng Tâm đang oằn lưng trả nợ ngân hàng.

    Theo đó, ngày 5.11.2007, UBND Tiền Giang đã ký hợp đồng với công ty cổ phần BOO nước Đồng Tâm (gọi tắt là công ty Đồng Tâm) xây dựng nhà máy nước Đồng Tâm, đường ống chuyển tải nước sạch có công suất 90.000m3/ngày và các hợp đồng mua bán sỉ nước sạch. Nhưng khi dự án hoàn thành, tỉnh Tiền Giang không tiếp nhận nguồn nước.

    Doanh nghiệp bị thiệt khi đầu tư

    Tháng 7.2007, dự án BOO nước Đồng Tâm khởi công. Tháng 7.2010, dự án hoàn thành giai đoạn một theo đúng tiến độ đã cam kết với UBND tỉnh Tiền Giang, với tổng chi phí đầu tư gần 1.200 tỉ đồng, giảm 38 tỉ đồng so với dự toán. Từ tháng 8.2009 đến tháng 5.2010, công ty Đồng Tâm liên tục có văn bản thông báo với UBND tỉnh Tiền Giang tháng 5.2010 hoàn thành công trình và phát nước sạch, UBND tỉnh phải chỉ đạo công ty cấp thoát nước Tiền Giang đấu nối để sử dụng nguồn nước từ dự án. Tuy nhiên, đến nay, tỉnh Tiền Giang vẫn không tiếp nhận nguồn nước của công ty Đồng Tâm.

    Bà Nguyễn Mai Bảo Trâm, tổng giám đốc công ty Đồng Tâm, bức xúc: “Sau khi được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quy hoạch phát triển hệ thống cấp nước, UBND tỉnh Tiền Giang đã kêu gọi xã hội hoá đầu tư xây dựng nhà máy nước BOO và đường ống nước dài hơn 45km. Chính vì UBND tỉnh Tiền Giang mời gọi, nên chúng tôi mới mạnh dạn vay vốn đầu tư dự án này”. Theo công ty Đồng Tâm, do không thể tiêu thụ được nguồn nước sạch theo hợp đồng, nên từ tháng 9.2008 đến hết tháng 7.2010, công ty đã phải thanh toán trên 64 tỉ đồng lãi vay cho ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB) với lãi suất bình quân là 7,89%/năm. Dự án chỉ được ân hạn trả nợ gốc trong hai năm, lãi phải trả ngay sau tháng đầu tiên kể từ khi giải ngân, không được tính gộp vào vốn vay, nên từ tháng 9.2010, công ty Đồng Tâm phải thanh toán lãi vay và hoàn trả nợ gốc. Với tổng dư nợ hiện nay là 587 tỉ đồng và dự kiến giải ngân tiếp 65 tỉ đồng để thanh toán cho các nhà thầu trong quý 3 và quý 4/2010, mỗi tháng công ty Đồng Tâm phải thanh toán trên 10 tỉ đồng lãi và nợ gốc cho VDB.

    Thiện chí không được ghi nhận

    Theo bà Trâm, cuối tháng 9.2007, công ty Đồng Tâm đã đề nghị ngân sách tỉnh Tiền Giang đầu tư một phần nhằm giảm quy mô đầu tư bằng nguồn vốn xã hội hoá (vốn của công ty BOO và vốn vay) để giảm giá thành nước sạch. Nhưng UBND tỉnh Tiền Giang đã yêu cầu công ty giữ nguyên quy mô đầu tư và xác nhận khối lượng tiếp nhận nước sạch là 50.000m3/ngày ngay trong năm đầu tiên sau khi nhà máy hoàn thành. Giá mua bán sỉ nước sạch từ 6.000 đồng/m3 (năm đầu tiên) đến 8.000 đồng/m3 sau khi điều chỉnh đã được UBND tỉnh Tiền Giang và các sở xem xét, sau đó chấp thuận ký phụ kiện hợp đồng BOO vào ngày 25.9.2008.

    Trước việc UBND tỉnh Tiền Giang có động thái vi phạm hợp đồng, công ty Đồng Tâm đã đề nghị: công ty sẽ tổ chức kiểm toán tổng mức đầu tư dự án, lấy thời điểm chốt là 31.12.2010 để xác định phần lãi phát sinh. Công ty Đồng Tâm sẽ lấy nguồn dự phòng phí của dự án để đầu tư mười điểm đấu nối vào mạng ống cấp 2, 3 của công ty cấp thoát nước Tiền Giang dọc theo quốc lộ 50, từ Mỹ Tho đến thị xã Gò Công.

    Sau khi đấu nối, căn cứ nhu cầu sử dụng nước thực tế của người dân, tỉnh Tiền Giang và công ty Đồng Tâm sẽ xác định sản lượng cung cấp nước từ dự án BOO để làm cơ sở xác định giá mua bán sỉ nước sạch, bảo đảm lợi nhuận của chủ đầu tư không vượt quá 16%/năm. Công ty Đồng Tâm cũng kiến nghị UBND tỉnh xem xét, chuyển việc đầu tư đường ống chuyển tải nước sạch cấp một từ Bình Đức về thị xã Gò Công từ hình thức BOO sang hình thức ứng vốn đầu tư trả chậm trong thời gian mười năm để giảm giá thành.

    Trong khi đó, theo UBND tỉnh Tiền Giang, hợp đồng xây dựng, tiêu thụ nước giữa UBND tỉnh Tiền Giang và công ty Đồng Tâm là trách nhiệm của những cán bộ lãnh đạo tiền nhiệm. Hiện nay, những người có liên quan này, người thì chuyển công tác về trung ương, người nghỉ hưu.

    Khi các quan chức địa phương trở thành cướp, tráo trở !

    Việc mua, bán, mượn đất đai (từ khâu lo giấy tờ, giao tiền, ...) nên qua trung gian một đại diện có thẩm quyền (như chưởng kế).
    Không nên tập trung mọi quyền lực vào UBND bởi nếu chúng có ý lừa đảo thì chỉ thiệt thân

    Do tổ chức hành chính lạc hậu từ 80 năm nay, khiến một số các quan chức chính quyền VN bị lưu manh hóa thì làm sao dân trí cả nước khá lên được ?

    Ngồi đó mà chờ chính phủ tự cải tổ hành chính và luật pháp thì cũng phải đợi thêm 80 năm nữa, ha ha

    http://www.tienphong.vn/Tuong-Tac/Ban-Doc/523179/Xa-muon-dat-cua-dan-khong-tra-con-cuong-che.html

    Xã mượn đất của dân không trả, còn cưỡng chế

    TP - Mới đây, UBND xã Thiện Mỹ (Châu Thành, Sóc Trăng) cưỡng chế gia đình ông Nguyễn Công Khanh ngụ tại ấp An Tập, khi ông Khanh đang ở trên đất của mình.

    Ngày 4-2-1990, UBND xã Thiện Mỹ mượn của ông Khanh 7.000 m2 đất để phục vụ việc quy hoạch chợ. Sau đó, xã cam kết “sẽ cấp lại cho ông Khanh 2 nền thổ cư trên đất mượn, cùng 2.000m2 đất ruộng ở nơi gần nhất để ông canh tác”. Việc mượn và cam kết có giấy trắng mực đen, dấu đỏ lưu đến nay (ảnh).

    UBND xã không thực hiện lời hứa, trong lúc đất mượn của ông Khanh một phần đem xây chợ, phần khác chia cho cán bộ và phần còn lại thì bỏ hoang. Ông Khanh mất đất sản xuất nên rất khó khăn. Khiếu nại nhiều lần không được, giữa năm 2010, ông Khanh cất nhà lá trên phần đất hoang và nay bị cưỡng chế.

    Nhiều người dân địa phương phản đối vụ cưỡng chế. Một số cán bộ huyện cho rằng, xã muốn sử dụng đám đất thì phải đề nghị cơ quan có thẩm quyền ra quyết định thu hồi và bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật.

    Cản trở việc tuân thủ pháp luật ở đây là đám đất mượn của ông Khanh đã được chia cho nhiều quan chức. Điển hình như ông Trần Văn Đắc, nguyên Bí thư Đảng ủy xã Thiện Mỹ (nay là Trưởng phòng Tư pháp huyện Châu Thành) có 3 lô trên đất của ông Khanh, vừa bán 1,2 tỷ đồng. Ông Lê Hoàng Nuôi, Chủ tịch UBND xã Thiện Mỹ, cho biết, một lô ông Đắc “mua của xã” lúc còn công tác tại xã, hai lô còn lại mua của người khác, trong đó có một người là em rể của ông Đắc.

    Trước hết xin cám ơn Luật sư Ngô Ngọc Trai về bài viết này khiến tôi hiểu rõ hơn về tình trạng đất đai ở VN.

    Tuy tình trạng đất đai ở VN hiện nay rất vô lý và bất công nhưng nó còn đỡ hơn nhiều so với thời "Cải cách ruộng đất" của Hồ Chí Minh 1953 và thời cưỡng chiếm ruộng đất vào hợp tác xã của Lê Duẩn 1975. Tuy có tiến bộ hơn chút chút nhưng vẫn hết sức thê thảm cho người dân !

    Trích dẫn:
    Ông Montesquieu đã viết trong cuốn sách kinh điển Bàn về tinh thần pháp luật (De L’esprit des lois) như sau: “Hãy xem người công dân trong các nước cộng hòa kia ở trong cảnh ngộ: Cơ quan cầm quyền vừa là kẻ thi hành luật và tự cho mình là kẻ lập pháp. Họ có thể tàn phá quốc gia bằng những ý chí chung sai lầm của họ. Mà họ còn nắm cả quyền xét xử nữa thì họ có thể đè nát mỗi công dân theo ý muốn của họ” (Bàn về tinh thần pháp luật, NXB lý luận chính trị, 2006, trang 107).

    Như vậy rõ ràng ở VN họ biết và cho in sách về tinh thần pháp luật của ông Montesquieu, người Pháp sanh năm 1689 (xin nhớ là thế kỷ 17 và chúng ta đang ở thế kỷ 21).

    Ở VN có một nghịch lý là có nhiều việc mà mọi người đều biết là đúng, là cần làm nhưng không ai chịu làm mà ngay cả kẻ có quyền quyết định cũng làm ngơ. Hình như họ rất ù lỳ, bị ma ám quỷ hành, hoặc do thói quen phải đợi cái đám đảng ủy, BCT gật đầu thì mới làm chăng ?
    Sắp tới đây, bộ chính trị đảng CSVN vẫn là một đám già nua quen thuộc chia nhau thống trị VN. Sẽ chẳng có gì thay đổi theo chiều hướng tốt cho đất nước VN. VN trả giá quá đắt bởi chủ nghĩa Mac-Lê và bởi những kẻ lãnh đạo dở, kém tài.

    Hoan hô Luật sư Ngô Ngọc Trai – Đoàn luật sư tỉnh Nam Định nói riêng và tất cả các luật sư VN vì lương tâm nghề nghiệp vạch ra những khuyết điểm của hệ thống tư pháp, trình bày phương án giải quyết và đấu tranh với quốc hội và tòa án để đạt được các giải pháp này càng sớm càng tốt.

    Luật sư Ngô Ngọc Trai viết rất hay. Bài này đáng lẽ phȧi được đăng trên các tờ báo như Dân trí, Vnexpress, Tuổi trẻ, Vietnamnet, 24h, nhân dân, lao động...Bài viết có giá trị thực tế cao đối với chính phủ, chính khách, quốc hội, nhân dân. Phȧi làm ngay.