Phan Thế Hải - Tình nguyện được bóc lột

  • Bởi Admin
    17/12/2010
    3 phản hồi

    Phan Thế Hải

    Hôm nay, Chủ tịch nhận được cú điện thoại gọi nhỡ, mở máy, xem thì thấy đầu số là 0386…. Đích thị là số ở quê. Đang bán tín bán nghi không biết là số của ai, hay là phụ huynh ở quê có việc gì, chưa kịp gọi lại thì thấy chuông reo, vẫn số máy kia hiện lên. Đầu dây bên kia một giọng xứ Nghệ khẽ khàng vang lên, e là H đây mà…. Anh xem có việc gì làm kiếm cho em một việc với…

    Ngỡ ngàng một lúc rồi cũng nhận ra giọng anh chàng này. Đó là người mà Chủ tịch đã gặp cách đây mấy năm. Hồi đó, anh ta đang là cử nhân ngành xã hội học, Đại học quốc gia, tốt nghiệp ra trường đã nhiều năm nhưng không kiếm được việc, đành tham gia viết lách cho mấy tờ báo địa phương, kiếm mấy đồng nhuận bút, tuy còi nhưng oách phết. Thi thoảng, nói chuyện thế sự, lý luận Mác lê, các học thuyết về giá trị thặng dư, bóc lột, thông thái như cán bộ tuyên giáo.

    Rồi nghe tin chàng lấy vợ, sinh con, vẫn lông bông chưa có việc làm, rồi xin đi làm bảo vệ, rồi bỏ giữa chừng, rồi lại viết báo rồi thất nghiệp… cứ cái vòng ấy, chàng vẫn chưa tìm được nơi nào để bán sức lao động đang ở tuổi thanh xuân của mình.

    Trường hợp như của chàng cử nhân ngành xã hội học nọ không phải là cá biệt. Có sức khoẻ, được đào tạo, thậm chí là đào tạo bài bản hẳn hoi, nhưng chỉ vì sự lạc lỏng của học vấn so với nhu cầu thị trường lao động nên vẫn cam chịu thất nghiệp. Cứ như lý luận của Mạc Văn Kạc, thì chàng không có cơ hội được giới chủ để mắt đến bóc lột, đành phải để năng lực của mình hoang phí mòn mỏi ở chốn thôn quê, đến mức phải khẩn thiết gào lên rằng: Có việc gì cho tôi làm với.

    Với 86 triệu dân, mỗi năm ở VN cần tạo ra khoảng 1,5 triệu việc làm mới. Phần lớn việc làm do các ông chủ nhỏ khu vực tư nhân tạo ra. Do thành phần kinh tế này từ chỗ bị kỳ thị, không được thừa nhận mới tháo khoán cho phát triển vài chục năm nay nên hiện chưa đủ lớn nên tình trạng thất nghiệp vẫn là một vấn đề xã hội nhức nhối.

    Ở các nước có nền kinh tế thị trường, ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường, học sinh đã được giảng dạy về con đường lập nghiệp, về những tấm gương lao động cật lực, vượt khó để tạo dựng nên những sản nghiệp vĩ đại được người đời kính trọng, thì hệ thống trường học ở ta chưa làm được điều đó.

    Cũng chính vì trang bị cách nghĩ tạo dựng sự nghiệp nên ở Mỹ đã tạo ra được những tỷ phú trẻ tuổi, không chỉ làm giàu cho chính mình, đóng góp cho ngân sách nhà nước mà còn tạo công ăn việc làm cho hàng triệu lao động như Bill Gates, Sergey Brin; Lary Page; Michael Dell… Để có được sự nghiệp đó, trước hết họ cũng khởi nghiệp từ hai bàn tay trắng và lao động cật lực để kiếm những đồng tiền ban đầu.

    Khi đã có một sự nghiệp lẫy lừng, không ít người dùng phần lớn thu nhập của mình để xây trường học, làm từ thiện, để giải quyết các vấn đề đau đầu của nhân loại như bệnh sốt rét, bệnh HIV, xóa đói giảm nghèo. Ở các nước văn minh, họ là những người được xã hội tôn vinh.

    Ở Việt Nam, ngay từ khi mới giành được chính quyền với ngân khố trống rỗng, Chính phủ của ông Cụ cũng đã được Trịnh Văn Bô, nhà doanh nghiệp tư nhân và các nhà công thương khác, không đóng góp hàng ngàn cây vàng cho Chính phủ. Dường như nhận thức được vai trò của các thương nhân, 13/10/1945, Cụ Hồ đã có thư gửi giới công thương, trong đó ông nêu rõ vai trò của giới này với sự nghiệp kiến quốc.

    Vậy mà, mãi tới Nghị quyết Đại hội lần thứ X, năm 2006, Tiệc ta mới cho phép Tiệc viên được làm kinh tế tư nhân, không hạn chế qui mô. Phải chăng vì sự sùng tín vào lý luận Mạc Văn Kạc kéo dài quá lâu, mà hiện tại VN vẫn là nước nghèo nàn lạc hậu. Hơn thế là vẫn còn vô số những thanh niên có sức khoẻ, có tri thức vẫn không có cơ hội được bóc lột.

    Cái giá phải trả cho sự sùng tín là quá đắt!

    Phan Thế Hải

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    3 phản hồi

    Kiểu dáng chính trị

    Đã lâu không đọc một bài hay nào, nay mới thấy nên học trò có vài dòng cảm kích, cũng bởi bản thân muốn viết hay lắm lắm mà hoàn cảnh gia đình chưa cho phép.

    Học trò muốn gợi ý một đề tài xem bác có cảm hứng thì viết cho anh em chúng tôi đọc để nâng cao tinh thần. Số là khi quan sát các nước có nền văn minh còn thấp hơn, chưa tiến lên chủ nghĩa xã hội. Lấy nước Mỹ làm điển hình, học trò chợt nghiệm ra rằng, nước họ cũng 4 năm thì có bầu rồi 8 năm thì có cả bầu lẫn bí. Khi đã bị chiếu bí thì ông có chuyên môn nghề gì hay cao bao nhiêu cũng phải về cái vườn nhà mình mà ngồi, như ông Bút Sơ bi giờ cũng về cái vườn trồng rau muống nhà mình, gọi là Đa Vít thì phải.

    Chuyện của nước Mỹ, bác nói chuyện về môi trường nuôi dưỡng nhân tài, còn tôi muốn nói điều gì: quả là vô số điều, nhưng tôi muốn gợi ra 2 điểm cho chủ đề này:

    -Luật bầu cử tổng thống của Mỹ: 4 năm/ lần, rồi 8 năm là giới hạn cuối cùng cho một nhiệm kỳ.
    -Mỗi tổng thống, muốn mua được phiếu của cử tri, không phải có tiền mà mua được, tiền phải chuyển qua một đơn vị trung gian khác, dơn vị ấy là phương thức mà mình sẽ điều hành đất nước, là lời hứa trước quốc dân đồng bào trước những vấn đề nổi cộm của toàn xã hội, và sau hết là khả năng thực hiện lời hứa của mình.

    Tôi gọi tất tần tật những cái thuộc về mỗi nhiệm kỳ là ''kiểu dáng chính trị'', chắc chắn là không đúng, nhưng giới con buôn chúng tôi đọc là hiểu ngay.

    Khi nào bác viết xong thì cho đăng lên đây để anh em chúng tôi đọc với, để ở trang nhà của bác đôi khi cũng phiền ra. Khi người ta nói đến quan điểm hay dân điểm thì rầy rà.

    Kính chúc bác sức khỏe.

    Trích dẫn:
    Hiện nay, tình trạng thiếu thầy dạy thợ (không phải thừa thầy thiếu thợ) đang là nguy cơ chính của việc xuống cấp trong đào tạo nghề.

    Mịa nó chứ, lãnh đạo VN chỉ biết khư khư ôm mớ lý thuyết giáo điều (của nước khác) lải nhải và hành dân. Xưa là nho giáo cho vua, nay là chủ nghĩa Mác-Lê cho đảng CSVN ! Chán mớ đời cho cái đám tiến sĩ mê sảng ngành bảo vệ đảng !

    Bác nào nghiên cứu xem chẳng lẽ con người VN có gien di truyền về cực đoan "ghiền lý thuyết giáo điều" để làm phê phê thần kinh y như nghiện thuốc lá, rượu, ... ?

    http://bee.net.vn/channel/3724/201012/Khoa-hoc-cong-nghe-Viet-Nam-dang-dung-ngoai-cuoc-san-xuat-1783143/

    Khoa học công nghệ Việt Nam đang đứng ngoài cuộc sản xuất
    17/12/2010

    - Toàn cầu hóa và hội nhập đã mở ra cho chúng ta nhiều cơ hội. Nhưng nếu không biết mình có gì và có thể làm những gì, ta có thể trở thành những người tiêu dùng và phụ thuộc hoàn toàn vào công nghệ của nước ngoài. Đó là những trăn trở của ông Trịnh Đình Đề, Phó Chủ tịch Hội Tự động hóa Việt Nam.

    Nhập về cho tiện!

    Trong bản góp ý xây dựng "Chiến lược phát triển KH&CN tới năm 2020, tầm nhìn 2030", ông có viết: "Các nhà sản xuất đang dựa vào trang thiết bị nước ngoài... còn KHCN trong nước đang đứng ngoài cuộc"?

    Đó là thực tế. Sản xuất hàng hóa giờ vì cạnh tranh nên nhà sản xuất phải có thiết bị hiện đại. Không phải vì người ta thích oai, hay để làm trang trí đâu mà là vấn đề hiệu quả kinh tế. Mặt khác trong hội nhập, nếu anh làm được mà đắt quá thì không nên làm. Vì vậy, cái gì làm được thì làm, cái nào nhập về rẻ hơn thì nên nhập. Ví dụ, dây chuyền làm xi măng, phần lò, phần thùng, bễ... có thể làm trong nước cho rẻ. Còn máy móc, trang thiết bị có thể mua của hãng này, hãng kia về rồi tích hợp lại.

    Vậy là không chỉ về hàng tiêu dùng mà ngay trong lĩnh vực kỹ thuật, chúng ta cũng đang trở thành những người tiêu dùng?

    Về một mặt nào đó, chúng ta đang tiêu thụ hàng hóa cho nước ngoài. Vấn đề ở đây không phải là bế quan tỏa cảng, mà mình phải tiếp thu được cái kỹ thuật của thế giới và phát triển được trí tuệ của mình.

    Nhưng nếu cứ dễ dãi với quan điểm nhập về cho tiện thì sẽ bị lệ thuộc vào công nghệ của nước ngoài?

    Đúng là nhập về có thể trước mắt sẽ rẻ hơn, nhưng sẽ đắt hơn ở chỗ bị lệ thuộc. Khi có trục trặc, hỏng hóc gì lại phải mời người ta đến vận hành, sửa chữa. Muốn chủ động, bản thân doanh nghiệp không thể tự lo mà chỉ có Nhà nước mới làm được, bằng cách phát triển đội ngũ khoa học kỹ thuật, nắm được kỹ thuật cao. Cái đó mới là cái quan trọng và lâu dài cho phát triển.

    Chứ để như hiện nay, các doanh nghiệp tự chọn mua dây chuyền nào là tùy vào tiềm năng kinh tế và nhu cầu của họ. Và nhập về cho tiện là bài toán nhẹ nhất của họ dù phải chịu các hạn chế khác.

    Có phải vì thế mà ông nói, khoa học trong nước mới đứng ngoài cuộc?

    Vấn đề không phải vì ta không làm được (kể cả phần công nghệ cao) mà chiến lược phát triển KHCN không đặt ra và không có tiêu chí cụ thể.

    Tại sao lại chưa đặt ra vấn đề đó thưa ông?

    Về tổng thể chiến lược phát triển khoa học công nghệ của ta cũng chưa làm rõ vấn đề này. Ví dụ như trong chiến lược phát triển KTXH của Nhà nước, chỉ tiêu tăng trưởng GDP bằng ngần này. Nhưng cái gì làm ra GDP? GDP thực chất là sản phẩm hàng hóa. Mà trong sản phẩm hàng hóa thì KHCN chiếm vai trò quan trọng mang tính quyết định. Không có máy móc, thiết bị công nghệ thì không làm ra hàng hóa.

    Có nhiều ý kiến về việc tăng trưởng GDP của ta không bền vững và chất lượng tăng trưởng không cao. Trong đó có vấn đề nhập siêu và đầu tư của nước ngoài. Ví dụ như mảng hàng hóa điện tử, xuất được mấy tỉ đô, nhưng phần lớn là của doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài. Và sự phụ thuộc ấy có đảm bảo sản xuất được liên tục hay không? Tăng trưởng với chất lượng không cao còn ở chỗ lực lượng chất xám của ta chưa được khai thác tốt.

    Xuất thô - nhập tinh

    Ông có thể nói rõ hơn về vấn đề này?

    Mình đang xuất lao động thô, nhập lao động tinh, dưới dạng nhập thông qua thiết bị, phải mời chuyên gia đến để sửa chữa, bảo trì, vận hành dây chuyền kỹ thuật cao. Cái làm cho dây chuyền đó phát huy tốt nhất chính là lực lượng cán bộ kỹ thuật trong nước trong lĩnh vực tự động hóa. Không có dây chuyền nào không có tự động hóa từ xi măng, hóa dầu cho đến sản xuất chế biến, bia, rượu, bánh kẹo... Nếu dây chuyền nào chết tự động hóa là đắp chiếu, không thể vận hành bằng tay được. Đó là đặc thù của kỹ thuật hiện nay. Tiếc là cái việc ấy ta đang lệ thuộc nước ngoài.

    Nói thẳng ra là chưa theo kịp?

    Riêng với ngành tự động hóa của chúng tôi thì phải nói là không theo kịp. Còn bao giờ theo kịp thì còn chưa biết. Muốn theo kịp, phải đầu tư cho nó. Tự động hóa là một trong bốn hướng ưu tiên của cách mạng khoa học. Nói tới công nghiệp theo hướng hiện đại hóa thì phần hiện đại hóa đó thực chất là tự động hóa. Vì vậy, nếu không huy động lực lượng khoa học công nghệ trong nước nghiên cứu và ứng dụng tự động hóa thì chẳng những không hiện đại hóa được, mà công nghiệp hóa cũng không hoàn thành một cách thực chất.

    Ông có nói tới việc ta đang xuất khẩu lao động thô. Có phải vì thế mà ông thành lập trường công nhân kỹ thuật cao?

    Chúng tôi đã xin được giấy phép và hiện đang xây dựng. Mục đích là để cung ứng và xuất khẩu lao động kỹ thuật vì hiện đang xuất lao động thô. Chúng ta đưa đi xuất khẩu lao động mấy chục ngàn người nhưng đều dưới dạng lao động thô, chưa có xuất khẩu lao động kỹ thuật. Kể cả các kỹ sư cũng đi xuất khẩu dưới dạng thô. Xuất khẩu thô người lao động được một ít tiền rồi khi hết hợp đồng về nước thì ngoài tiền không mang được gì cả vì sang bên kia toàn làm những việc cơ bắp như may vá, xây dựng, khuân vác...

    Nếu là lao động kỹ thuật, người lao động được nhiều tiền hơn, quyền lợi tốt hơn, nhưng cái không thấy được là kỹ thuật, công nghệ mà họ đem về nước. Cái đó nếu tổ chức khai thác tiếp thì còn là cái lợi mang ý nghĩa quốc gia. Hơn nữa đã nói đến kỹ thuật là kỹ thuật cao. Và trường của chúng tôi hướng đến nghề kỹ thuật cao là như vậy.

    Trường của ông có gì khác so với trường dạy nghề hiện nay?

    Hiện nay, ta chưa có một trường nào ký hợp đồng với doanh nghiệp đến ngày này tháng này tôi cung cấp cho anh từng này công nhân, từng này kỹ sư, trình độ như thế này đảm bảo cho nhà máy này. Các nhà máy, các tập đoàn đều mở trường. Nhưng vì là trường của họ nên khi nào cần họ mới tuyển sinh, còn không thì đóng cửa. Đó là một sự lãng phí về đầu tư và đội ngũ thầy thiếu tinh luyện.

    Hiện nay, tình trạng thiếu thầy dạy thợ (không phải thừa thầy thiếu thợ) đang là nguy cơ chính của việc xuống cấp trong đào tạo nghề. Chúng tôi muốn tổ chức theo mô hình trường có các doanh nghiệp (ở trong và ngoài trường) làm cơ sở để rèn luyện kỹ năng nghề theo yêu cầu của nhà tuyển dụng. Về đào tạo sẽ được trò chuyện vào dịp khác vì đây là vấn đề lớn liên quan đến tổng thể của chiến lược phát triển KHCN mà tôi đã nhiều năm ấp ủ.

    Xin cảm ơn ông!
    Ông Trịnh Đình Đề sinh năm 1938. Đã giảng dạy 45 năm tại ĐH Bách khoa Hà Nội, ĐHBK, Sư phạm KT TP.HCM, ĐHBK Đà Nẵng. ĐH Phương Đông Hà Nội, ĐH Kỹ thuật Công nghiệp Thái Nguyên, ĐH Hàng hải Hải Phòng. Từng là chuyên gia giáo dục ở Algérie; Là tác giả của thiết bị điều khiển phá bom thủy lôi, bom từ tính trong đề tài GK được Giải thưởng Hồ Chí Minh. Hiện nay, ông là phó chủ tịch Hội Tự động hóa Việt Nam

    Thì tôi đã viết là người Việt mình cực đoan quá cho nên ngu xuẩn ôm lấy chủ nghiã Mác-Lê, tiền đồn của CNXH đánh nhau, chiến tranh mấy chục năm, chết bao nhiêu người.

    Một số người chết lại được phong anh hùng, ... !! Họ chỉ là những nạn nhân của tuyên truyền, của bạo lực, thương xót họ chứ không cần nâng quan điểm trở nên ... anh hùng (bất đắc dĩ).
    Mà kể cũng ngu, chủ nghĩa Mac-Lê, của phương tây chế ra, tự dưng đòi làm tiền đồn XHCN đánh nhau chết người để làm gì ? Trung cộng XHCN anh em, thế nhưng nó vẫn chiếm đảo HS của ta đấy thôi ?

    Bây giờ Mạnh, Trọng, Sang, Dũng, ... vẫn thần kinh rằng những ai chỉ trích chủ nghĩa Mac-Lê là chống phá đảng và nhà nước ! Cái đám BCT và trung ương đảng CSVN, rặt một bọn cực đoan, thật không may mắn cho VN có những kẻ cuồng tín như vậy