Nguyễn Ngọc Lanh - Về sự ra đời của Bản tuyên ngôn phổ quát về quyền làm người (10-12-1948)

  • Bởi Admin
    10/12/2010
    8 phản hồi

    Nguyễn Ngọc Lanh

    Hoàn cảnh đòi hỏi

    Đại chiến II sắp kết thúc, phe Trục sắp đầu hàng, do vậy các nước chủ chốt thuộc phe Đồng Minh là Anh, Mỹ, Nga đã dự kiến xây dựng một nền hoà bình lâu dài cho nhân loại. Muốn vậy, mọi người phải sống trong một thế giới có tổ chức. Đó là cơ sở để năm 1945 Liên Hiệp Quốc được thành lập và Hiến Chương của nó ra đời.

    Để vĩnh viễn loại trừ thảm hoạ chiến tranh, điều tiên quyết là phải tôn trọng phẩm giá từng con người, đồng nghĩa với phải bảo vệ và mở rộng QUYỀN LÀM NGƯỜI (human rights) của mỗi cá nhân.

    Rốt cuộc phải có một Bản Tuyên Ngôn phổ quát về QUYỀN LÀM NGƯỜI.

    Dưới đây xin gọi tắt là Bản Tuyên Ngôn

    - Chúng ta thường dịch Human Rights là “nhân quyền” hoặc “quyền con người”. Chẳng qua chi là chuyện chọn từ ngữ. Tôi mạn phép dùng “quyền làm người” do tình hình thực thi các quyền này trên thực tế.
    - Từ ngữ cũng quan trọng, nhưng quan trọng nhất là quan niệm: Đây là các quyền bẩm sinh của mỗi con người (đó là quyền tự do, khiến một con người khác một con vật), chứ không phải quyền của toàn khối dân tộc không chịu phụ thuộc vào dân tộc khác (tức quyền độc lập).
    - Chủ tịch Hồ Chí Minh ngay từ 1946 đã phân biệt rất rõ điều này, với câu nói đến nay nhắc lại, vẫn thấy tính thời sự: Nước độc lập mà dân chưa tự do thì độc lập cũng không có ý nghĩa.

    Ngay thời đó, các quốc gia trong Liên Hợp Quốc đã thống nhất quan điểm: Bản Tuyên Ngôn về QUYỀN LÀM NGƯỜI khi được công bố phải chiếm một vị trí cao cả, phải có giá trị vĩnh hằng và phổ quát; nội dung phải tương xứng với thiên chức của nó: Là minh triết của nhân loại.

    Do những đòi hỏi trên, Liên Hợp Quốc ở buổi sơ khai đã tốn gần 4 năm bàn bạc, xây dựng, để có thể công bố văn kiện lịch sử này vào khuya ngày 10-12-1948. Và đến nay nó đã được chính thức dịch ra 360 ngôn ngữ để bất cứ dân tộc nào, dù hết sức thiểu số, cũng có thể tiếp cận - trừ khi bị cố ý che dấu.

    Quan niệm, triết lý và tính phổ quát

    Tập thể 50 luật gia hàng đầu thế giới sẽ mãi mãi tự hào vì đã đóng góp trí tuệ uyên thâm để soạn thảo ra văn bản ban đầu. Để nó thật sự mang tính phổ quát (universal), các quyền trong Bản Tuyên Ngôn phải được mỗi cá nhân trong số 2 tỷ người (hồi đó) thừa nhận rằng: 1) Đây là các quyền tối thiểu để một con người xứng đáng là một NGƯỜI; 2) Đây là quyền bẩm sinh: Nếu đã sinh ra là kiếp người, đương nhiên phải có các quyền này; 3) Chúng đều khả thi ở mọi nước dân chủ; 4) Một chính quyền tự nhận là dân chủ có nghĩa vụ thực thi các quyền này như con cái tỏ lòng biết ơn với các đấng sinh thành ra mình.

    Với đòi hỏi như trên, tập thể luật gia phải tham khảo đầy đủ các triết lý phương Đông và phương Tây, vì dự kiến sẽ có những thế lực nại ra sự khác biệt để không (hoặc hạn chế) thực thi Bản Tuyên Ngôn. Thật may mắn và đáng kinh ngạc, có hai câu châm ngôn của hai phương trời, vừa tỏ ra trường tồn nhất, phổ quát nhất, lại vừa có nội hàm và ý nghĩa trùng khớp đến tuyệt đối. Chúng xứng đáng được coi là kim chỉ nam trong cả quá trình soạn thảo.

    - Phương Đông có câu "Kỷ sở bất dục vật thi ư nhân" của đạo Khổng. Nghĩa: Điều gì mình không muốn thì chớ thi hành cho người khác.

    - Phương Tây từ cổ xưa có câu rất phổ cập "Ne fais pas à un autre ce que tu ne veux pas qu’il soit te fait". Nghĩa: Anh chớ làm cho người khác cái điều mà anh không muốn người đó làm cho mình.

    Đây chính là nền tảng triết lý của Bản Tuyên Ngôn.

    Nay, sau 60 năm, đọc lại Bản Tuyên Ngôn, chúng ta phải thừa nhận tập thể soạn thảo đã hết sức trung thành với triết lý rất nhân bản này. Quả thật, đó là triết lý ứng xử không bao giờ cũ giữa người với người, kể từ khi con người biết chung sống trong xã hội. Có lẽ, chúng ta sẽ ứng xử như vậy với “người” của hành tinh khác.

    Quá trình soạn thảo và thông qua

    Văn bản ban đầu đã rất nhiều lần được trao đổi tại LHQ để sửa chữa, bổ sung toàn diện, trong suốt mấy năm trời. Cuối cùng, tới giữa năm 1946, nó được giao cho một Uỷ ban đặc biệt gồm 9 vị, do LHQ cử ra, xem xét tiếp. Đây là các thành viên thuộc nhiều quốc tịch (Mỹ, Âu, Á, Trung đông...) với nhiều dị biệt về văn hóa. Dẫu vậy, còn có cả sự đóng góp của nhiều tổ chức phi chính phủ, rồi của những nhân vật xuất chúng, như: giáo sư luật khoa René Cassin (Pháp), tiến sĩ Giáo Dục học - rất am hiểu về Khổng học - P.C. Chang (Trung Quốc), bà quả phụ E. Roosevelt (phu nhân cố Tổng thống FD Roosevelt), giáo sư Triết học Charles H. Malik (Liban) v.v...

    Eleanor_Roosevelt_1949.jpg
    Bà E. Roosevelt và bản Tuyên ngôn Nhân quyền

    Tóm lại, sau khi dung hòa và tổng hợp, văn bản được coi là đã mang tính phổ quát, có thể công bổ phổ quát. Nó đáp ứng được câu hỏi: Nếu bỏ đi một quyền, thì liệu một con người có còn là “con người trọn nghĩa” hay không (?).

    Khi văn bản được Uỷ ban soạn thảo trình ra trước Liên Hiệp Quốc, vẫn còn có nhiều cuộc họp với sự thảo luận sôi nổi, để các quốc gia đối chiếu rộng rãi với nhiều quan điểm triết học, chính tri, văn hóa giữa các dân tộc, giữa phương Đông và phương Tây. Buổi họp cuối cùng kéo dài tới gần nửa đêm 10-12-1948, để Đại Hội Đồng bỏ phiếu. Đó là phiên họp toàn thể lần thứ 183 tại cung điện Chaillot ở thủ đô nước Pháp. Chỉ có 2 quốc gia vắng mặt nên không bỏ phiếu; còn lại 48 quốc gia, thì không có một phiếu chống nào, mà chỉ có 8 phiếu trắng. Tóm lại, Bản Tuyên Ngôn về Quyền Làm Người được thông qua với 100% phiếu “thuận”.

    Sự kiện này đánh dấu thời đại dân chủ toàn cầu của nhân loại. Vấn đề toàn cầu nổi lên là mỗi nước khi đã có độc lập, sẽ thực thi Quyền Làm Người cho mỗi người dân nước mình như thế nào.

    Việt Nam tôn trọng và bảo vệ quyền con người

    Thứ trưởng Thường trực Bộ Ngoại giao Việt Nam Phạm Bình Minh đã khẳng định những giá trị vượt thời đại của Tuyên ngôn nhân quyền thế giới, ra đời ngày 10/12/1948. Đó là 30 Điều, Khoản của Tuyên ngôn đã xác lập một cách toàn diện những giá trị quyền con người phổ biến, trong đó có quyền bình đẳng và không bị phân biệt đối xử vì bất cứ lý do gì.

    Ông cho biết, việc thúc đẩy và bảo vệ quyền con người luôn được Nhà nước Việt Nam xác định là trọng tâm của công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Điều này được thể hiện trong các bản Hiến pháp từ năm 1946 đến năm 1992 cũng như hàng loạt văn bản chính sách pháp luật khác.

    Tính ràng buộc: Không quá chặt chẽ, nhưng…

    Thế giới sau 1945: chế độ phong kiến đã lùi sâu vào quá khứ; nền dân chủ đã được xác lập ở hầu hết các nước, dù nước này có thể khoe dân chủ của mình gấp triệu lần nước khác - nhưng đều là dân chủ.

    Tuy vậy, không phải hễ một Nhà Nước dân chủ gia nhập Liên Hợp Quốc thì nó buộc phải ký ngay cam kết thực hiện Bản Tuyên Ngôn này. Gia nhập là một bước, nhưng có thể không đồng thời với bước thừa nhận và cam kết thực thi nhân quyền. Tuy nhiên, nếu không ký sẽ ngày càng khó lý giải với dân nước mình. Nếu còn liêm sỉ, hẳn ít nhiều phải ngượng khi kể lể công ơn với dân – là người sinh ra và nuôi mình.

    Và khi đã ký, cũng không nhất thiết phải thực hiện đầy đủ ngay mọi điều khoản của nó, trừ điều khoản cuối cùng (thứ 30). Thời nay, đây là điều dự phòng không thừa.

    Dù chưa thể thực hiện trên thực tế, nhưng một khi đã ký, Nhà Nước vẫn phải thể hiện sự thành tâm, thật thà và tôn trọng chữ ký: Công bố rộng rãi cho quốc dân biết rõ việc ký kết, công bố rộng rãi nội dung Bản Tuyên Ngôn, giúp cho thế hệ trẻ học tập đầy đủ… Tiếp đó, các luật của đất nước không được trái với tinh thần và nội dung ghi Bản Tuyên Ngôn. Cuối cùng, vấn đề là tình trạng thực hiện Quyền Con Người phải được cải thiện sau từng thời gian, theo một lộ trình cụ thể, được công bố công khai như tờ giấy nợ, có hẹn những thời điểm trả nợ.

    Không phải vô cớ mà người ta đánh giá một nghị viện là “bù nhìn” nhiều hay ít căn cứ vào thái độ đòi giới cai trị thực thi nhân quyền, trước hết là quyền ghi trong hiến pháp.

    Dẫu sao, Bản Tuyên Ngôn đã phát huy ảnh hưởng. Chỉ sau 1-2 thập niên kể từ khi nó ra đời, hầu hết các nước thuộc địa đã được trao trả độc lập trong hoà bình, muộn nhất là từ 50 năm trước. Nhiều nước quanh ta đã độc lập sớm hơn ta.

    Hôm nay, hầu như rất hiếm còn Nhà Nước nào vô duyên tới mức vin vào thành tích giành độc lập (từ nửa thế kỷ trước) để che dấu khiếm khuyết về thực thi nhân quyền ở thế kỷ XXI này.

    Đến nay, không một hiến pháp nước nào dám lờ các quyền tự do. Tuy vậy, chuyện thực thi lại dựa vào những văn bản “có thể trí trá” dưới luật. Kinh nghiệm đã có đủ, nhưng chẳng cần kinh nghiệm cũng suy được rằng chính quyền của dân rất ham thực hiện nhân quyền, vì sự thực hiện này giúp chính quyền thêm bền vững. Và ngược lại, nếu thực hiện nhân quyền khiến nó mất địa vị cai trị.

    Sẽ càng chặt chẽ

    Do sự tiến triển của trào lưu dân chủ đòi hỏi phải thế.

    Hiện nay, lần lượt cứ 4 năm một lần, mỗi nước phải báo cáo tình hình nhân quyền nước mình và văn bản phải được các nước góp ý, sau đó tình hình phải được “chốt lại” – gọi là “thông qua” - coi là thực trạng nhân quyền hiện tại của nước đó. Để 4 năm sau coi thử nó tiến triển ra sao.

    Việt Nam đã báo cáo về nhân quyền tại Liên hợp quốc. Báo cáo của nước ta đã được một nhóm chuyên viên của cơ quan Nhân Quyền LHQ thông qua vào tháng 5-2009. Hy vọng sẽ có tiến bộ lớn khi nước ta lại đến lượt báo cáo vào năm 2013.

    Nhà Nước ta ký vào Bản Tuyên Ngôn là chuyện đương nhiên

    Ngày 30-4-1975: Giang sơn Việt Nam quy về một mối,
    Ngày 25-4-1976: Nhân dân cả nước đã bầu ra Quốc Hội.
    Ngày 02-7-1976, Quốc Hội đổi tên nước thành Cộng hoà XHCN Việt Nam.
    Ngày 18-12-1980: Quốc Hội thông qua Hiến pháp XHCN đầu tiên. Điều 2 Hiến pháp 1980 của nước ta ghi rõ: Sứ mệnh lịch sử của Nhà nước đó là thực hiện quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động…

    Như vậy, hoàn toàn không muộn, năm 1982 Nhà nước XHCN Việt Nam đã long trọng ký vào Bản Tuyên Ngôn Phổ Quát về Nhân Quyền (The Universal Declaration of Human Rights) – là văn bản quan trọng bậc nhất của của Liên Hợp Quốc kể từ khi nó được thành lập (1945) đến nay.

    Trước thế giới, và trước nhân dân ta, đây là sự cam kết danh dự và nghiêm trang của Nhà Nước Việt Nam về thực hiện một văn bản quốc tế xác định các quyền để một con người xứng đáng là CON NGƯỜI; hơn nữa, đó là con người XHCN.

    Thật ra, 18 năm trước khi có Tuyên Ngôn Nhân Quyền, Đảng Cộng Sản Việt Nam ngay khi mới thành lập (1930) đã công bố theo đuổi mục tiêu độc lập cho toàn dân tộc và Dân Quyền toàn diện cho mỗi người dân. Điều này cắt nghĩa vì sao dân Việt Nam nô nức hưởng ứng mọi lời kêu gọi của đảng, đặt trọn niềm tin vào đảng.

    Việc ký cam kết thực hiện Tuyên Ngôn Nhân Quyền của Nhà Nước XHCN Việt Nam là việc đương nhiên, tất yếu. Nhà Nước XHCN của ta đương nhiên phải khác Nhà Nước TBCN. Cũng như con người đương nhiên, tất yếu phải khác con vật.

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    8 phản hồi

    Biết thêm vài điều sau đây có thể thêm thú vị

    Năm 1948 Liên Hợp Quốc mới gồm 50 nước. Tất cả các nước đều hoàn toàn bình đẳng tham gia ý kiến vào mọi bản dự thảo. Thực tế, mọi nước đều tham gia ý kiến rất sôi nổi. Các nước Cộng Sản cũng muốn nhân dịp này khoe bản chất tốt đẹp của mình.
    Ban Soạn Thảo đã cố gắng tối đa điều chỉnh lời văn và tinh thần để mọi quan điểm hợp lý đều được thể hiện trong các bản Dự Thảo tiếp sau – cho đến bản cuối cùng.

    Chính nhờ vậy, khi bỏ phiếu thông qua bản Dự Thảo lần cuối đã không có phiếu chống. Không kể 2 nước vắng mặt là Honduras và Yemen, còn lại 48 nước thì 40 nước tán thành, 8 nước bỏ phiếu trắng.

    Nguyên nhân phiếu trắng như sau:
    - Sáu nước cộng sản: Liên Xô lấy cớ các điều khoản chống kỳ thị chủng tộc của Bản Tuyên Ngôn chưa nhấn mạnh đủ mức. Ý Liên Xô muốn chỉ trích tệ phân biệt chúng tộc (quả thực là) vẫn còn rất nặng nề ở Hoa Kỳ và Nam Phi. Năm (5) nước chư hầu Ba Lan, Belarus, Tiệp, Ukraine và Nam Tư cố nhiên phải theo. Nhưng điều quan trọng là Liên Xô và 5 nước muốn nhấn mạnh rằng Tuyên ngôn dẫu có quá nhiều tự do, nhưng chỉ là thứ “tự do kiểu tư sản” (giả dối).

    Dẫu vậy, chính nhờ Bản Tuyên Ngôn mà sau 60 năm Hoa Kỳ và Nam Phi lần đầu tiên trong lịch sử đã có tổng thống thuộc chủng tộc da đen. Trong khi đó 15 nước thuộc Liên Xô và toàn thể chư hầu ở Đông Âu đã căng đứt dây cương để “một đi không trở lại nữa" với chế độ XHCN tươi đẹp do Nga áp đặt. Và chính là do bản chất toàn trị mà không một nước cộng sản nào thực hiện nổi các quyền nêu trong Bản Tuyên Ngôn. Đảng CSVN chưa lần nào công bố nguyên văn Bản Tuyên Ngôn cho dân.
    - Nam Phi: cố nhiên bỏ phiếu trắng vì tệ phân biệt chủng tộc nặng nề “nhất” thế giới.
    - Arập saoudit không tán thành nội dung “con người có thể theo mới, hoặc từ bỏ, một niềm tin tôn giáo – vì quy định của đạo Hồi thì bỏ đạo là tội nặng. Mặc dù Tuyên Ngôn đã sửa lại lời văn cho nhẹ đi: Con người có quyền theo hoặc không theo một tôn giáo... nhưng Tuyên Ngôn vẫn nhận một phiếu trắng của nước này.

    Tôi đã bỏ công tìm được bài của ông thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng thứ trưởng Bộ CA viết cho "Tạp chí Nhân Quyền VN" (nghe nói ra hàng tháng). Đây là bài chủ lực của số 1, tháng 6-2010, đại diện cho quan điểm của đảng CSVN về Nhân Quyền.
    Đầu đề là Hãy hiểu đúng nhân quyền VN.

    Đọc nó, mới thấy mọi người chưa bao giờ "hiểu sai" những lắt léo, ngụy biện của vị thượng tướng công an. Quý vị sẽ thấy đảng ta cố tình lẫn lộn quyền độc lập (của dân tộc) với quyền tự do (của cá nhân), cố tình biện bạch rằng VN (dù đã ký cam kết thực hiện Tuyên Ngôn Nhân Quyền Quốc tế) vẫn cứ chà đạp lên nhiều điều khoản - kể cả điều 30 - để tự ý giải thích rằng VN có quan điểm riêng về Nhân Quyền.
    Dưới đây là nguyên văn, do blog Basam ghi lại

    Hãy hiểu đúng về Nhân Quyền Việt Nam!
    Thượng tướng Nguyễn Văn Hưởng
    Thứ trưởng Bộ Công an Theo blog Anh Ba Sàm

    Sau khi khối XHCN Đông Âu sụp đổ, chiến tranh lại kết thúc, vấn đề nhân quyền và dân chủ đã được một số nhân vật trong chính giới Hoa Kỳ và một số nước phương Tây sử dụng như một phương tiện hữu hiệu làm chuyển hóa thể chế chính trị ở một số quốc gia, trong đó có Việt Nam. Và hiện nay, nhân quyền đã trở thành vấn đề quốc tế. Các nước phương Tây đưa vấn đề nhân quyền vào trọng tâm chính sách đối ngoại của họ.

    Bản chất của vấn đề nhân quyền mà họ đưa ra là gì?

    Nếu xét về thể chế chính trị đó là một xã hội có nền chính trị đa nguyên, đa đảng. Và họ luôn luôn đề cao tự do cá nhân, nhân quyền là quyền không có biên giới, không bị phụ thuộc bởi chính trị, địa lý hay chủ quyền quốc gia…
    Họ áp đặt những “tiêu chí” về nhân quyền cho các quốc gia mà họ đang muốn chuyển hóa, thay đổi các thể chế chính trị. Họ muốn tạo ra ở các quốc gia này một lực lượng “dân chủ” và sẽ trở thành lực lượng phản kháng, chống đối lại chính quyền hợp hiến. Nếu quốc gia nào không chịu nghe theo thì họ đưa vào danh sách các quốc gia “cần quan tâm đặc biệt”; rồi gây khó dễ cho hoạt động kinh tế, thậm chí cấm vận từng phần…
    Chính vì vậy, những lý thuyết về nhân quyền, dân chủ theo kiểu phương Tây đã vấp phải sự phản ứng mạnh mẽ của những quốc gia không đồng quan điểm, trong đó có Việt Nam. Các quốc gia này không thể chấp nhận một thứ “dân chủ, nhân quyền” mà nếu đi theo đó, thì đồng nghĩa với tự đánh mất mình, làm thay đổi cả một nền văn hóa của một (hoặc nhiều) dân tộc, và dẫn đến đảo lộn trật tự xã hội, trật tự trong mỗi gia đình.
    Đối với Việt Nam, từ nhiều năm qua, Hoa Kỳ và một số nước phương Tây luôn đặt vấn đề nhân quyền như một điều kiện để “mặc cả”. Họ luôn phê phán chúng ta “không có tự do tôn giáo”; “không có tự do báo chí”; “không có tự do lập hội”… Mỗi khi có công dân Việt Nam vi phạm pháp luật và bị xử lý theo pháp luật, nếu là phóng viên báo chí thì họ cho là “đàn áp báo chí”. Nếu là người theo đạo, người tu hành, thì họ bảo là chúng ta “đàn áp tôn giáo”. Còn với những người cố tình xuyên tạc đường lối chính sách của Đảng, Nhà nước, có những hành động, âm mưu xâm hại đến an ninh quốc gia bị xử lý… thì họ gọi đó là những người “bất đồng chính kiến”, “những nhà dân chủ”…?
    Vậy, thực chất vấn đề nhân quyền ở Việt Nam là như thế nào? Nhân quyền ở Việt Nam khác với nhân quyền phương Tây ở điểm gì? Và phải hiểu nhân quyền ở Việt Nam như thế nào cho đúng?
    Nói về nhân quyền ở Việt Nam, có lẽ không gì rõ ràng, đầy đủ và ngắn gọn hơn lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh khi trả lời các nhà báo nước ngoài vào tháng 1 năn 1946 : “Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc là làm sao cho nước ta hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành…” Và lời khẳng định của Bác “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” .
    Trước Cách mạng Tháng 8, dưới ách đô hộ của thực dân Pháp, thì Việt Nam là nước thuộc đia nghèo khổ, bị cướp đi quyền độc lập và không có tên trên bản đồ thế giới. Nhân dân ta phải chịu cái nhục mất nước suốt gần một thế kỷ và trong thời gian đó, khái niệm nhân quyền không hề có với người Việt Nam. Nỗi khát khao độc lập, tự do, có được quyền làm Người khiến cả dân tộc vùng lên đấu tranh, lật đổ ách đô hộ của thực dân Pháp để có được Bản Tuyên ngôn độc lập mà Hồ Chủ tịch đọc khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngày 2-9-1945. Suốt hơn 30 năm sau đó, dân tộc ta một lần nữa đã trải qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Hàng triệu người Việt Nam đã hi sinh để giành lại độc lập, tự do, thống nhất đất nước.
    Tư tưởng về nhân quyền của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trở thành quan điểm lãnh đạo xuyên suốt của Đảng ta qua các thời kỳ cách mạng về quyền con người.
    Đến nay Việt Nam được đánh giá là quốc gia có sự ổn định chính trị nhất, đang hội nhập mạnh mẽ vào kinh tế thế giới. Từ một nước “chạy ăn từng bữa”, nay chúng ta đã trở thành cường quốc xuất khẩu gạo. Và bất cứ ai cũng có thể thấy được sự thay đổi tích cực trong đời sống vật chất và văn hóa tinh thần.

    Từ khi Đảng ta bắt đầu công cuộc Đổi mới xây dựng kinh tế đất nước, và cho đến nay chúng ta đã hội nhập rộng rãi vào thế giới thì các tiêu chuẩn về quyền con người càng được củng cố rộng rãi, đời sống của người dân được nâng cao. Tất cả mọi công dân đều có quyền đóng góp ý kiến với tính chất xây dựng, nghiêm túc, có trách nhiệm vào tất cả các chủ trương, chính sách hoặc các vấn đề quan trọng của quốc gia. Người dân đã tự giác, hăng hái tham gia các tổ chức chính trị, xã hội và nghề nghiệp để hội tụ những tấm lòng nhân ái và đóng góp rất to lớn vào việc thực thi các chính sách của Đảng và Nhà nước trong công cuộc xóa đói giảm nghèo. Hiếm có một quốc gia nào mà mỗi khi xảy ra thiên tai bão lụt, người dân hăng hái đóng góp trên tinh thần lá lành đùm lá rách, lá rách ít đùm lá rách nhiều… như ở Việt Nam. Những thành công của Nhà nước ta trong những năm qua về xóa đói giảm nghèo được cộng đồng thế giới coi là một tấm gương mẫu mực cho các quốc gia noi theo. Đói nghèo bởi dân tộc Việt Nam từng là nạn nhân của chế độ phong kiến, thực dân đế quốc. Nhất là các dân tộc thiểu số miền núi hàng ngàn đời sống phụ thuộc hoàn toàn vào điều kiện tự nhiên và chế độ phong kiến thực dân đã đẩy họ đến bần cùng quay về hoang dã. Vậy mà hiện nay những tư tưởng đen tối vẫn tìm mọi cách tuyên truyền lôi kéo họ trở về đời sống đói nghèo vô định, cản trở công cuộc khắc phục hậu quả chiến tranh đầy khó khăn gian khổ… Mặc dầu vậy, Nhà nước và Chính phủ Việt Nam đã tập trung sức lực của cải, tiền bạc bằng những chế độ chính sách cụ thể lo cơm ăn, áo mặc, nhà ở, trường học, bệnh viện, đầu tư trang bị cho mọi nhu cầu đời sống văn minh ti vi, rađiô, sách báo… tạo điều kiện cho bà con hòa nhập với cuộc sống cộng đồng quốc gia và quốc tế. Có lẽ trên thế giới chưa có chính phủ nào làm được việc này. Cách mạng là thế đấy.
    Cách mạng là làm cho cuộc sống người dân ngày một tốt hơn. Nếu như hơn 30 năm trước đây, đại bộ phận người dânViệt Nam chỉ nghĩ đến có cái ăn để mà sống và ước mơ “ăn no mặc lành” thì bây giờ khái niệm “ăn ngon mặc đẹp” đã trở thành phổ biến ở Việt Nam.
    Không ít những người trước đây đã từng tham gia trong chính quyền Sài Gòn cũ nay trở về Việt Nam đã phải thốt lên rằng họ không thể tưởng tượng nổi là Việt Nam lại phát triển đến như vậy.
    Người dân đã bắt đầu quen với luật pháp, quen với nếp sống kỷ cương. Và ngày hôm nay người dân Việt Nam đang bắt đầu đi vào kỷ nguyên sống và làm việc theo luật pháp. Người dân được tự do sống theo các quy định của pháp luật và họ ý thức được rằng chỉ có những nguyên tắc của pháp luật mới bảo vệ được các giá trị đạo đức, quyền con người khi bị chà đạp. Lợi ích và quyền cá nhân của mỗi người phải được đặt trong quyền lợi chung của cộng đồng, của dân tộc chính vì thế người dân có thể tham gia tích cực vào các vấn đề xã hội và các tổ chức chính trị đoàn thể. Việt Nam hiện nay có hơn 700 đầu báo và tạp chí; 25 triệu người được sử dụng Internet và rất nhiều người trong số đó đã sử dụng Internet để đóng góp ý kiến vào các vấn đề xã hội. Đó chính là tự do, chính là nhân quyền. Người dân Việt Nam chấp nhận sự lãnh đạo của một Đảng cầm quyền, bởi lẽ họ thấy rõ hơn ai hết về những gì mà Đảng Cộng sản đã đem lại cho người dân trong suốt bao nhiêu năm qua. Nhìn sang các quốc gia bên cạch, nếu đa đảng để mà đất nước mất ổn định, lâm vào những cuộc chiến “nồi da xáo thịt”; để mà nạn khủng bố xảy ra thường xuyên thì chắc chắn người Việt Nam không thể chọn cái sự đa đảng ấy. Người dân Việt Nam chắc chắn cũng không thể chấp nhận một sự tự do mà công dân có quyền mang vũ khí rồi xả súng bắn chết học sinh, hoặc tự do chửi bới, bôi nhọ lẫn nhau; phủ nhận các giá trị văn hóa, đạo đức truyền thống…
    Họ không thể mang quan điểm nhân quyền của nước họ áp đặt thành tiêu chuẩn cho Việt Nam. Mỗi quốc gia có bản sắc văn hóa riêng, có luật pháp riêng vì thế không thể lấy hình mẫu ‘nhân quyền’ của nước này đem sang nước khác được.
    Cũng vẫn còn có những tiếng nói, còn những người không thấy được thành tựu của dân tộc. Họ sao chép những quan điểm, những tư tưởng của nước ngoài đưa vào Việt Nam và rồi nói đó là “phản biện” . Họ không chỉ bày tỏ những quan điểm mà còn mưu đồ tổ chức gây bạo loạn, hoặc móc nối với các tổ chức phản động lưu vong âm mưu lật đổ chế độ. Đó là những người rắp tâm vì mục đích cá nhân của mình mà coi rẻ lợi ích chung của cả dân tộc.
    Khi đời sống vật chất được nâng cao thì những đòi hỏi về đời sống tinh thần cũng phát triển theo, đặc biệt là tâm linh. Trong những năm qua, hàng ngàn chùa chiền, cơ sở thờ tự đã được xây cất mới hoặc được trùng tu; các lễ hội văn hóa truyền thống đã được khôi phục ở tất cả các địa phương… Đời sống tín ngưỡng, tôn giáo của người dân ngày càng được phát triển và coi trọng. Người dân đã hoàn toàn tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo.
    Tôn giáo chân chính thiêng liêng là khuyến khích con người sống nhân ái, biết thương yêu đùm bọc lẫn nhau. Chúng ta rất tôn trọng và tạo điều kiện cho tôn giáo phái triển nhưng cũng kiên quyết không để xảy ra những âm mưu lợi dụng tôn giáo để hoạt động chính trị, để phá hoại mối đoàn kết toàn dân. Cho nên ai chưa hiểu về nhân quyền ở Việt Nam thì phải biết nhân quyền ở Việt Nam là: Cá nhân vừa phải có trách nhiệm với bản thân nhưng cũng phải có trách nhiệm với cộng đồng xã hội, phải gắn quyền con người với việc thực thi luật pháp thì quyền con người mới được đảm bảo.
    Đảng và Nhà nước ta phấn đấu xây dựng một nước Việt Nam công bằng, dân chủ, văn minh và mọi người dân ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành… Chúng ta phấn đấu cho những mục tiêu nhân quyền, dân chủ mà đã được xác định, nhưng cũng không thể chấp nhận cái thứ “nhân quyền, dân chủ” theo kiểu phương Tây.
    Mỗi công dân hãy biết quý trọng giá trị, bản sắc của dân tộc mình và hãy nhìn ra nước ngoài để thấy rõ hơn những thành tựu của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta trong lĩnh vực Nhân quyền.
    Nhân quyền ở Việt Nam là như vậy!
    ————-
    Ba Sàm chú thích:
    - Bài này đăng trên tạp chí in, không có trên mạng, được đánh máy lại nguyên văn, không biên tập để đảm bảo tính chính xác về bản chất nội dung.
    - Tấm hình có các vị chức sắc Phật giáo do nằm liền trên hai trang nên khi sao chụp chất lượng không được tốt. Với trang tạp chí có độ dày nhất định mà dàn tấm hình trang trọng như vậy làm hai, thành thử vị cao tăng Thích Thanh Tứ dễ bị “các thế lực thù địch” tưởng ta ám chỉ ổng “Thân này khoái xẻ làm hai mảnh/Mảnh cho đời và mảnh cho … quan”.
    Tạp chí Nhân quyền Việt Nam
    Văn phòng Nhân quyền
    Phát hành tháng một kỳ
    Số 1, 6/2010

    Bản Lên Tiếng về Nhân Quyền tại Việt Nam

    của ông Nguyễn Quốc Quân trong buổi tuyệt thực ngày 10-12-2010 ở Hoa Thịnh Đốn

    Kính thưa toàn thể quí vị,

    Nhân Quyền là những quyền tự nhiên và tự có của con người. Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền khi được thông qua tại Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc vào ngày 10 tháng 12 năm 1948 đã được xem là một trong những sáng kiến quan trọng nhất làm thay đổi thế giới.

    Mười lăm năm sau, Mục sư Martin Luther King đọc một bài diễn văn lịch sử “Tôi có một Giấc Mơ” đã làm rúng động nước Mỹ về tình trạng phân biệt đối xử vì màu da. Thừa hưởng thành quả đó, ngày nay Tổng thống Barack Obama đang cùng nhân dân Mỹ góp phần làm thay đổi thế giới thành một nơi chốn mỗi ngày một an bình và tốt đẹp hơn; mà trong đó, Con Người vừa là chủ thể vừa là mục tiêu của mọi phát triển.

    Trong khi đó, tại Việt Nam “nhân quyền” vẫn còn là ước mơ lớn nhất của người dân. Chế độ độc tài toàn trị của Đảng CSVN đang làm ngược lại những điều đã cam kết trong bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền.

    Thưa quí vị, ngày hôm nay chúng tôi cùng quí vị có mặt nơi đây trong cái giá lạnh của tiết trời Hoa Thịnh Đốn; trước tiên là để xiển dương sự ra đời của bản Tuyên ngôn Quốc Tế Nhân Quyền. Kế đến, để giúp Việt Nam có thể sánh vai góp phần mình trong sự phát triển chung của cộng đồng thế giới, chúng tôi thiết tha kêu gọi:

    1- Các chính phủ trên thế giới, các tổ chức và nhân sĩ quốc tế hãy quan tâm hơn nữa về tình trạng vi phạm nhân quyền trầm trọng tại Việt Nam. Hãy giúp đỡ người dân Việt Nam bằng những hành động cụ thể như Dự Luật H.R. 6433 của Hoa Kỳ để trừng phạt và ngăn chặn tội ác.

    2- Nhà nước Việt Nam hãy trả tự do hoàn toàn cho tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ, blogger Điếu Cày, luật sư Phan Thanh Hải, giảng viên Phạm Minh Hoàng, mục sư Dương Kim Khải, chị Trần Thị Thúy, ông Nguyễn Thành Tâm, cô Phạm Thanh Nghiên, nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa,… cùng tất cả các tù nhân lương tâm đang bị giam giữ trong tù; hoặc bị khống chế khắc nghiệt ở ngoài song sắt của nhà giam.

    3- Mọi người Việt Nam trong và ngoài nước, xin hãy mạnh dạn sát vai nhau đưa ước mơ vào hành động trong những đòi hỏi ôn hoà và kiên quyết. Chỉ có sự can đảm và hợp lực mới có thể giành lại nhân phẩm cho chính mình và cho toàn dân tộc.

    Chúng tôi tin rằng, rồi có một ngày mỗi người Việt Nam sẽ vượt thắng được chính mình để mạnh dạn góp sức giành lại nhân phẩm cho dân tộc. Và rồi sẽ có một ngày, nước Việt Nam sẽ góp một phần không nhỏ cho sự phồn thịnh của cộng đồng thế giới và giá trị toàn cầu của Nhân Quyền. Cầu xin Thượng Đế cùng đi với tất cả chúng ta.

    Trân trọng cảm ơn sự lắng nghe của quí vị.

    Việt Tân: Tuyệt thực Ngày Quốc Tế Nhân Quyền 10-12

    Ngày Quốc Tế Nhân Quyền 10-12 mỗi năm là dịp để chúng ta nhắc nhở thế giới về tình trạng nhân quyền tại VN và soi rọi vào những vi phạm nhân quyền trầm trọng của CSVN.

    Trong ngày Quốc Tế Nhân Quyền 10 tháng 12 năm nay, để góp phần trong những nỗ lực tạo áp lực lên chế độ Hà Nội nhằm đòi trả tự do cho các nhà đấu tranh dân chủ đang bị CSVN bắt giữ, đồng thời gửi thông điệp đến các nhà tranh đấu cho dân chủ trong nước rằng người Việt hải ngoại luôn luôn hỗ trợ họ, cơ sở Đảng Việt Tân tại Hoa Kỳ sẽ tổ chức một cuộc tuyệt thực 24 giờ tại công viên Sheridan Circle và biểu tình trước Sứ Quán CSVN tại thủ đô Washington DC.

    Buổi sinh hoạt đấu tranh sẽ bắt đầu vào lúc 11 giờ sáng ngày 10 tháng 12 và kết thúc vào lúc 3 giờ chiều ngày 11 tháng 12. Nội dung tổng quát như sau:

    Ngày thứ Sáu 10/12/2010:

    • Biểu tình trước văn phòng sứ quán CSVN tại 1233 20th St NW vào lúc 11:30 sáng.
    • Bắt đầu tuyệt thực tại Sheridan Circle vào lúc 1:30 chiều.
    • Đêm Thắp Nến cho Tự Do Dân Chủ bắt đầu vào lúc 7 giờ tối.

    Ngày thứ Bảy 11/12/2010:

    • Biểu tình trước Sứ Quán CSVN vào lúc 1 giờ chiều
    • Nghi thức chấm dứt tuyệt thực vào lúc 1:30 chiều
    • Nghi thức bế mạc vào lúc 2:30 chiều

    Chúng tôi kính mong nhận được sự tiếp tay và hỗ trợ của quý đoàn thể đấu tranh, tổ chức cộng đồng, và quý đồng hương để buổi sinh hoạt này đạt được nhiều thành quả tốt đẹp.

    Mọi chi tiết, xin vui lòng liên lạc: BS Đặng Vũ Chấn (703 538 2772), Ô. Hoàng Tứ Duy (202)-470-0845.

    Nguồn: Đảng Việt Tân

    Nhân ngày Tuyên Ngôn Nhân Quyền tôi cũng thử rà các trang web lề phải, mất vài giờ đồng hồ lận, cuối cùng cũng tìm ra Dangta có chỉ thị cho một trang web lề phải kỷ niệm ngày này, bằng... một dòng, kèm tên 3 bài vớ vẩn.

    Nó nằm ở đây:
    http://nhanquyen.vn/modules.php?name=Homepage&menuid=1

    Quý vị hãy động viên tôi một câu cho tôi phấn khởi, vì tìm được trang này không dễ.

    Việt Nam còn có một tờ (gọi là) "báo giấy" tên là TẠP CHÍ NHÂN QUYỀN vIỆT NAM, ra mỗi thàng một kỳ, nhưng đố ai tìm được trên bất cứ sạp báo nào.
    Dẫu sao, số 1 có bài viết quan trọng của đồng chí thượng tướng Nguyễn văn Hưởng, thứ trưởng bộ Công An, nghe nói được blog của anh Ba Sàm chịu khó lưu lại (công gõ máy tính không nhỏ đâu). Nhan đề là "Hãy hiểu đúng nhân quyền Việt Nam", nhưng nay cũng không tìm được vì blog BaSam đã bị bọn phản động phá rồi.
    Thì ra, VN thò bút ký cam kết thực hiện Tuyên Ngôn NQ Quốc Tế, nhưng ông Hưởng vẫn đòi nọi người phải hiểu "nhân quyền Việt nam".

    Bài "Lờ" của dangta
    Lúc này là 18 giờ ngày 10 tháng 12 năm 2010, tôi vào một loạt tờ báo mạng ở VN, đủ cả Nam, Phụ, Lão , Ấu... Sĩ, Nông, Công, Thương, rồi Dân, Chính, Đảng... (như Lao Động, Người Lao Động, Thanh Niên, Tuổi trẻ, Tiền Phong, Phụ Nữ VN, Người Cao Tuổi, Thiếu Niên, Pháp Luật, Tia Sáng, Dân Trí, Nhân Dân, Tuyên Giáo... vân vân) mà... mà... "éo" (dek) có bài nào kỷ niệm ngày Nhân Quyền Quốc Tế hết.
    Từ khi dangta ký cam kết thực hiện Tuyên Ngôn Nhân Quyền (1982) đến nay đã 28 năm), ma dangta vẫn "éo" công bố cho dân biết nguyên văn bản Tuyên Ngôn trên. Tài thật, tài như Tào Tháo...

    Câu của nhà văn Nam Cao (truyện ngắn Đôi Mắt):
    - Tài thật, tài đến thế là cùng. Tiên sư anh Tào Tháo...
    Kính dâng dangta câu này

    Chungta.com có một bài từ năm trước (được Dân Luận đăng lại) và một số bài liên quan. Đáng hoan nghênh.

    Te te tái tái viết:
    Tôi đã đọc nguyên gốc bài này ở chungta.com (theo ghi chú ở đầu bài của Dân Luận) thấy rằng bài này được đăng từ cách đây cả một năm rồi.
    Trừ vài đoạn "buộc phải có" để báo lề phải có thể chấp nhận, tôi thấy bài này rất "được".

    Đảng cứ kể lể công ơn với dân, được tác giả ví như con cái kể công ơn của mình với các đấng sinh thành. Cũng "được" đấy. Khá khen thay!

    Hôm nay kỷ niệm 62 năm ngày ra đời bản Tuyên ngôn Nhân Quyền của Liên Hợp Quốc, nên tôi chọn đăng lại bài này dù biết nó không mới :D

    Khái niệm nhân quyền là nền móng của dân chủ, rất tiếc nó vẫn chưa được sự quan tâm đúng mức của quần chúng...

    Tôi đã đọc nguyên gốc bài này ở chungta.com (theo ghi chú ở đầu bài của Dân Luận) thấy rằng bài này được đăng từ cách đây cả một năm rồi.
    Trừ vài đoạn "buộc phải có" để báo lề phải có thể chấp nhận, tôi thấy bài này rất "được".

    Đảng cứ kể lể công ơn với dân, được tác giả ví như con cái kể công ơn của mình với các đấng sinh thành. Cũng "được" đấy. Khá khen thay!