Vũ Quang Việt - Vấn đề vàng – đô la: phải chăng là dấu hiệu khủng hoảng tài chính đang tới?

  • Bởi Admin
    17/11/2010
    4 phản hồi

    Vũ Quang Việt

    Tình hình kinh tế Việt Nam đang có nhiều triệu chứng nguy cơ mở màn cho khủng hoảng tài chính nếu không được điều hành đúng đắn trong thời gian tới. Những phân tích dưới đây hy vọng chỉ mang tính cảnh báo.

    Vàng không nên là phương tiện thanh toán

    Vàng là gì? Đúng là vàng chỉ là quý kim, dùng làm vật trang sức. Nhưng có lúc, vàng trở thành phương tiện thanh toán khi dân chúng mất tin tưởng vào đồng tiền nội địa. Việc biến, hoặc gắn vàng vào giá trị đồng tiền (chế độ kim bản vị ngày xưa) tưởng là giải pháp nhưng thật ra là không vì không nền kinh tế nào có thể kiểm soát được lượng cung vàng; nó tuỳ thuộc vào lượng vàng sản xuất và đặc biệt là đầu cơ, không liên quan gì đến mức phát triển kinh tế và nhu cầu thanh toán. Nó lại biến nhà nước bất cứ nơi đâu thành nạn nhân tế thần của các lực ngoại biên, và triệt tiêu khả năng làm chủ chính sách tiền tệ của nhà nước.

    Vàng trở về đúng vị trí quý kim của nó từ thời Tổng thống Mỹ Nixon, khi ông ta quyết định xóa bỏ việc bảo đảm giá trị đồng đô-la Mỹ bằng vàng. Chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa trở về đúng vị trí của nó là chính sách mà nhà nước (qua ngân hàng trung ương và chi tiêu ngân sách) có thể dùng để quản lý nền kinh tế, mà không bị trói buộc bởi những yếu tố nằm ngoài nó. Trong quá khứ, lạm phát đã từng xảy ra chỉ vì đào được nhiều vàng, hoặc có khi ngược lại sự phát triển kinh tế bị hạn chế lại vì thiếu thanh khoản do không thể tăng được lượng vàng lên. Ngày nay, tăng cung hay hạn chế cung tiền có thể nằm trong tay nhà nước. Thí dụ các nhà kinh tế hiện đại đều biết rằng cung tiền thái quá sẽ tạo ra lạm phát nhưng nhà chính trị thì có thể lại quá nôn nóng hoặc chủ quan muốn thực hiện điều gì đó mà cố tình quên đi nguyên lý này. Do đó mà lạm phát hay ổn định tiền tệ là kết quả của chính chính sách kinh tế mà nhà cầm quyền đưa ra, và do đó phải hoàn toàn chịu trách nhiệm về chúng.

    Già vàng tăng trên thị trường thế giới

    Giá vàng tăng trên thị trường thế giới vì nền kinh tế thế giới bất ổn. Sự bất ổn này là do chính sách sai lầm của hai cường quốc Mỹ và Anh, mở cửa tự do cho tư bản tài chính, cho phép phát hành các công cụ tài chính phái sinh, mà không có thế chấp, nhằm đầu cơ vào thị trường chứng khoán và thị trường nhà đất, đẩy giá lên tưởng như không có chỗ dừng. Nhưng rồi bong bóng ảo tưởng vỡ vì giá cả vượt ngoài khả năng chi trả của người lao động. Giá xuống đã đẩy hàng loạt các nhà đầu cơ phá sản, trong đó phần lớn là những người đầu tư cá nhân nhỏ lẻ, chạy theo kiểu bầy đàn.

    Để cứu nguy, các nền kinh tế phải bội chi ngân sách, phát hành thêm tín dụng để chặn đứng khủng hoảng. Giới đầu cơ trục lợi, rồi cả những người bình thường, cho rằng như thế lạm phát toàn thế giới sẽ tăng và cổ động mua vàng. Giá vàng đã tăng vùn vụt.

    Tình hình hiện nay ở Mỹ, cũng không khác gì tình hình đã từng xảy ra ở Nhật, là doanh nghiệp chưa dám đầu tư vì phải cố gắng giảm tỷ lệ nợ quá lớn do trước đây đã chạy theo bong bóng. Ở Mỹ hiện nay, mặc dù lãi suất rất thấp, thanh khoản tràn đầy nhưng ít ai dùng nên khả năng lạm phát ở Mỹ trong thời gian tới là rất thấp, hay có thể nói không có. Thời gian này có thể kéo dài tới 5-6 năm. Ở đây, với tốc độ tăng việc làm khoảng 150 000 người một tháng thì cũng cần 6 năm để giải quyết việc 15 triệu người thất nghiệp, đưa tỷ lệ thất nghiệp từ 10 % xuống 3 %. Giá vàng lên chỉ vì người ta nghĩ rằng lạm phát sẽ tăng mạnh. Nhưng nếu lạm phát không xảy ra thì giá đầu cơ hiện nay sẽ xuống. Khó có thể đoán là trong thời gian tới khi nào giá vàng sẽ xuống nhưng nó sẽ xuống, giống như sự lao dốc của giá nhà đất và chứng khoán ở Mỹ.

    Tấn công và tháo chạy của tư bản nước ngoài

    Các quốc gia châu Á đã học được bài học năm 1997. Đó là cần làm chủ phương tiện thanh toán của mình. Tài chính nước ngoài ồ ạt chảy vào các nước châu Á, đầu cơ vào thị trường địa ốc và chứng khoán, giá lên đến mức tưởng như châu Á mãi mãi là trung tâm thịnh vượng của thế giới. Chi tiêu ồ ạt. Cán cân thanh toán thiếu hụt. Chính sách của hầu hết mọi nước ở đây là chính quyền quyết định tỷ giá đồng bạc. Tình huống trên đã cho phép giới đầu cơ tài chính mở cuộc tấn công vào nội tệ ; họ bán nội tệ, mua ngoại tệ, tạo ra một cuộc tháo chạy của giới tài chính đầu cơ. Giá nhà, giá chứng khoán xuống. Ngoại tệ tháo chạy đưa đến việc chính quyền các nước này phải huỷ bỏ tỷ giá cứng. Chính sách tự do dòng chảy tư bản mà IMF cổ võ, kể cả ép buộc các nước thành viên thực hiện, đã hoàn toàn thất bại. Suharto ở Indonesia sụp đổ. Chỉ có Malaysia, chống lại IMF, ra lệnh cấm rồi hạn chế cuộc bán tống tháo chạy trên mà nền kinh tế đỡ bị ảnh hưởng nhất. Mở cửa hoàn toàn cho dòng chảy tư bản chính là tự làm mất quyền và khả năng kiểm soát lượng cung tiền qua chính sách tiền tệ của mình.

    Để vàng và đô la Mỹ trở thành phương tiện thanh toán cũng là tự hy sinh quyền kiểm soát chính sách tiền tệ.

    Việt Nam: vẫn tiếp tục cuộc chạy đua đạt tốc độ bất kể chất lượng và ổn định

    Năm 2007 mở đầu cho sự kiện Việt Nam vào WTO với dòng tư bản ồ ạt chảy vào. Chứng khoán và giá nhà lên tận mây. Ai nấy đều kỳ vọng mức phát triển cao với tốc độ 9-10 %. Vinashin và hàng loạt các dự án tiền tỷ khác được đặt lên bệ phóng, quên mất tác dụng của chúng mang đến cho ngân sách và tiền tệ. Vay mượn tăng, dòng chảy tư bản nước ngoài đổ vào, tín dụng tăng, chi tiêu nhà nước tăng. Lạm phát nhanh chóng tăng, đạt mức 28 % vào năm 2008. Thiếu hụt cán cân thanh toán tăng. Và sau đó ngòi nổ xẹp vì kinh tế thế giới khủng hoảng. May là có khủng hoảng, cắt đứt dòng chảy tư bản vào Việt Nam nếu không tác hại của dòng vốn này còn cao hơn nữa.

    Vấn đề là Việt Nam vẫn đặt các chỉ tiêu tăng trưởng cao, tiếp tục chi tiêu quá mức, lần này là với lý do nhằm làm giảm ảnh hưởng tiêu cực từ khủng hoảng kinh tế thế giới. Tất nhiên bội chi ngân sách tăng rất cao. Theo kế hoạch năm 2010, thiếu hụt ngân sách được quyết định là 6,2 % GDP, nhưng theo IMF, có thể lên tới 9 % nếu tính cả chi tiêu ngoài ngân sách. Nợ công tăng nhanh, năm 2009 tăng 9 % và năm 2010 tăng 12 % năm, do đó tỷ lệ nợ công trên GDP đã nhanh chóng vượt quá 50 % GDP, có lẽ là 57 %.

    Nhập siêu vẫn tiếp tục lớn, năm 2009 là 12,2 tỷ đô-la, năm 2010 dự báo cũng sẽ tương tự, ít nhất là trên 12 tỷ đô-la. Nợ nước ngoài vì vậy tăng nhanh, hiện nay là khoảng 28 tỷ đô-la, bằng khoảng 40 % GDP.

    Tình hình như thế nhưng không giống như bất cứ nước nào trên thế giới là có lạm phát rất thấp, Việt Nam lại vẫn lạm phát cao ; vào năm 2010 sẽ ở mức gần đạt hai con số. Khó có thể chấp nhận mức lạm phát như thế vì trong năm năm qua, kể từ năm 2006, lạm phát đã làm giảm sức mua gần 57 % và như thế khiến đời sống người lao động ngày càng khó khăn thêm. Hiện nay lạm phát lại đang trong đà tăng tốc ; đây là những dấu hiệu đáng cảnh báo nhất.

    Tất cả chỉ là vì các nhà làm chính sách ở cả trung ương và địa phương vẫn chạy đua nhằm đạt tốc độ tăng GDP cao, thậm chí tất cả mọi tỉnh đều báo cáo đạt mức tăng trên dưới 10 % GDP, trong khi cả nước chỉ tăng 6 %. Vì đặt chỉ tiêu tốc độ tăng GDP cao, bất chấp thực tế và các hệ luỵ của nó, mà chúng ta đã thấy tỷ lệ đầu tư tăng nhanh từ 33 % GDP năm 2006 lên 42 % GDP hiện nay và ngay năm 2011 sắp tới, chỉ tiêu vẫn ở mức 42 % và tốc độ phát triển là 7-8 %.

    Tỷ lệ đầu tư ở Việt Nam hiện nay là cao nhất thế giới. Mà càng đầu tư cao, càng cần vốn, cần tín dụng, và vì không thể tăng năng suất do đó mà lạm phát. Đầu tư cao, đặc biệt tập trung ở các doanh nghiệp và tập đoàn nhà nước, là tăng cường cho cơ hội tham nhũng cho các nhóm lợi ích, chính vì thế mà từ trung ương đến địa phương nơi nào cũng muốn có đầu tư cao. Đầu tư ở Việt Nam rất khác Trung Quốc. Họ nhập công nghệ mới, để tự tạo ra máy móc, sản xuất ra sản phẩm xuất khẩu có sức cạnh tranh với nước ngoài. Ngược lại, Việt Nam là nhập máy móc, nhập nguyên liệu, làm gia công để bán tài nguyên thiên nhiên và lao động rẻ tiền. Có lẽ các nhà làm chính sách hài lòng vì có tốc độ tăng GDP coi được. Nhưng đây là kinh tế ảo, vì về mặt thống kê học, khi có đầu tư thì giá trị đầu tư làm tăng GDP vì nó được tính trực tiếp vào GDP. Mặt trái của đầu tư cao, như trường hợp Vinashin, là tăng nhập siêu và nếu không bán được hàng thì phá sản, đưa đến công nợ không trả được. Nhu cầu ngoại tệ đang tăng cao để nhập máy móc, nhập nguyên liệu và trả nợ nước ngoài. Dự trữ ngoại tệ trước đây là trên 25 tỷ đô-la, mới đây theo IMF chỉ còn 15 tỷ đô-la. Rất tiếc là không có thông tin về dự trữ ngoại tệ hiện nay, nhưng có lẽ còn xuống thấp hơn nữa.

    Tình hình hiện nay: vấn đề vàng và đô la Mỹ

    Có thể nói một nền kinh tế bình thường là nền kinh tế ở đó nhà nước có thể kiểm soát được phương tiện thanh toán. Khi phương tiện thanh toán vượt ngoài tầm hoạt động của mình thì rõ ràng là có vấn đề. Để làm chủ được nền kinh tế, tất cả mọi nước đều cố gắng làm chủ được phương tiện thanh toán, qua đó điều hành chính sách tiền tệ. Tất nhiên điều hành sai hay đúng là chuyện khác nhưng phải đặt nó trong tầm tay của mình.

    Ngày trước, đã có lúc người Việt chỉ có tin vàng và đô la Mỹ. Sau cải cách từ năm 1989, giá trị của đồng tiền Việt đã trở lại.

    Từ năm 2008, giá trị đồng tiền Việt giảm đều, vàng và đô la lại trở thành phương tiện thanh toán trong nước, tước bỏ đi một phần quan trọng khả năng điều hành kinh tế của nhà nước. Tất nhiên, lý do cơ bản là lạm phát, mà lạm phát là kết quả của chính sách chạy theo tốc độ GDP, bỏ tiền cho doanh nghiệp quốc doanh đầu tư vô tội vạ.

    Để ổn định tình hình nhà nước cần điều chỉnh chính sách phát triển chạy theo chỉ tiêu số lượng như hiện nay, tức là phải giảm mức đầu tư, và như vậy phải tăng lãi suất nhằm thu hút tiền vào ngân hàng, và đồng thời tăng giá tín dụng mà nhà đầu tư phải trả. Về mặt tiền tệ, dù là trong ngắn hạn, mọi biện pháp cần thiết là triệt tiêu việc biến vàng và đô la thành phương tiện thanh toán trong nền kinh tế, chứ không phải cổ võ việc dùng chúng là tiền.

    Nhưng các nhà chính sách Việt Nam đang làm ngược lại. Ngân hàng Nhà nước giữ giá đồng đô la, làm lợi cho những người có thể vay dễ dàng (như các tập đoàn) và tạo thêm nhu cầu giả tạo, không phải nhằm đầu tư mà nhằm đầu cơ. Thiên hạ, những người không thể tiếp cận đô la, phải đổ xô mua vàng. Ngân hàng Nhà nước lại cho phép nhập vàng để giảm giá vàng. Mà ổn định giá vàng đâu có phải là nhiệm vụ của Ngân hàng Nhà nước. Tất nhiên là tuyên bố như thế thì hy vọng sẽ tạo ra tâm lý giảm giá vàng. Nhưng nếu nhập thì sẽ mất nguồn ngoại tệ, tạo thêm áp lực tăng giá trị của nó. Rồi lại có những “kinh tế gia” đề nghị tạo ra tài khoản tiết kiệm vàng và trả lãi cho nó. Đây là hành động của thời bao cấp trước đây. Chứ hiện nay là phải làm sao có biện pháp xóa bỏ vàng như một phương tiện thanh toán. Và để làm điều này dễ nhất là đánh thuế nhập hay xuất vàng. Giống như đánh thuế các cuộc tháo chạy tư bản nhằm ngăn chặn ảnh hưởng của chúng đối với nền kinh tế mà nhiều nước đã làm.

    Quan trọng hơn, cần thay đổi cách suy nghĩ theo hướng chạy đua đạt tốc độ GDP, từ đó đầu tư cao mà thiếu hiệu quả, bội chi ngân sách, đẩy mạnh cung tiền để tài trợ bội chi, đưa đến lạm phát và sự mất giá của đồng bạc. Mọi tiêu cực đang phát triển hiện nay là do cách tư duy này và các chính sách hiện nay.

    Thông tin mới nhất từ báo chí là quyết định bù lỗ xăng dầu để chống tăng giá. Kinh nghiệm cho thấy chính sách này sẽ không thành công vì lạm phát đâu có thể bù lỗ để giảm. Nguyên nhân của chúng nằm trong chính sách tài khoá và tiền tệ dễ dàng để đẩy mạnh đầu tư các tập đoàn và doanh nghiệp nhà nước. Chính sách đang đi về đâu đây? Phải chăng đang chờ đón một cuộc khủng hoảng toàn diện, bắt đầu từ khủng hoảng thiếu ngoại tệ?

    Vũ Quang Việt

    Chủ đề: Kinh tế

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    4 phản hồi

    IMF, WB "can" Việt Nam đánh đổi ổn định lấy tăng trưởng

    (VEF) - "Tập trung ổn định vĩ mô, tái điều chỉnh chiến lược theo hướng tăng trưởng bền vững, thì chẳng có lý do gì Việt Nam không đạt được tăng trưởng như 20 năm qua", đại diện IMF bình luận trong cuộc bàn tròn trực tuyến hôm 12/11 trên VEF.

    LTS: Tăng trưởng kinh tế Việt Nam năm 2010, lựa chọn nào trong chính sách điều hành năm tới đã được đại diện WB, IMF và Viện Kinh tế Việt Nam mổ xẻ, phân tích trong cuộc bàn tròn với chủ đề "Điểm nghẽn nào cản trở kinh tế Việt Nam" hôm 12/11, do Diễn đàn Kinh tế Việt Nam - báo VietNamNet thực hiện.

    Trong phần 1 đã được đăng tải hôm 15/11, ông Benedict Bingham, đại diện thường trú cao cấp của Quỹ tiền tệ quốc tế tại Việt Nam, đã "mổ xẻ" nguyên nhân dẫn tới sự mất giá của tiền đồng. Theo ông, Chính phủ phải nỗ lực hơn nữa để đưa ra những chính sách mạnh nhằm hồi phục lại niềm tin của những người tiết kiệm tiền đồng.

    phần 2 của bàn tròn, bà Victoria Kwakwa, Giám đốc World Bank Việt Nam, đã cắt nghĩa việc Việt Nam quá tập trung vào con số tăng trưởng, không phải do áp lực từ phía WB mà do truyền thống từ lịch sử nền kinh tế tập trung của Việt Nam, một nền kinh tế quá tập trung vào kế hoạch, vào mục tiêu, vào thành tích.

    Diễn đàn Kinh tế Việt Nam trân trọng giới thiệu tiếp tới bạn đọc phần 2 với nội dung chính xoay quanh câu chuyện tăng trưởng của Việt Nam.

    Nhà báo Việt Lâm: Thưa ông Trần Đình Thiên, là nhà tư vấn kinh tế cho chính phủ, ông nhận thấy tư duy từ bỏ việc chạy theo tăng trưởng bằng mọi giá đã có hay chưa?

    Ông Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện kinh tế Việt Nam:

    Với câu hỏi này là tôi muốn bổ sung vào cách trả lời của bà Victoria. Thực tế mà nói, nước nào cũng muốn tăng trưởng cao cả, nhưng vấn đề là tăng trưởng tốn bao nhiêu nguồn lực, câu hỏi này bà Victoria đã trả lời.

    Thực tiễn cho thấy rằng, Việt Nam chúng ta tăng trưởng khá tốn vốn, vì 8, 9 đồng bỏ ra mới được 1 đồng tăng trưởng. Cái thứ hai là rất tốn tài nguyên, cái thứ ba là rất tốn lao động rẻ tiền.

    Như vậy, làm thế nào để thay đổi tăng trưởng. Tại sao lại ưu tiên tốc độ tăng trưởng mà không ưu tiên cái khác, nền kinh tế cần tăng trưởng cao nhưng nhà nước với tư cách điều hành thì ưu tiên cái nào là chính, hay tốc độ cao có phải là ưu tiên của Chính phủ không.

    Chúng ta thấy chính phủ VN hay ưu tiên tăng trưởng, khi nào thấy bất ổn thì lại ưu tiên ổn định vĩ mô. Khi tăng trưởng thấp chính phủ lại đổ tiền ra ưu tiên tăng trưởng, lúc ấy chính phủ đã hy sinh, đánh đổi cái ổn định bằng cái tăng trưởng, coi tăng trưởng làm mục tiêu trực tiếp.

    Tôi thấy nền kinh tế vẫn cần tăng trưởng cao, nhưng để thực hiện mục tiêu đó nhà nước phải ưu tiên cho ổn định vĩ mô chứ không phải ưu tiên việc đổ tiền ra để đạt được mục tiêu tăng trưởng.

    Khi nhà nước giúp cho ổn định vĩ mô, lòng tin sẽ tốt và doanh nghiệp sẽ đầu tư nhiều, lúc đó nền kinh tế sẽ tăng trưởng cao.

    Nếu nhà nước không lo ổn định mà cứ lo tăng trưởng thì cũng giống như nhiều trường hợp làm đường rất nhiều nhưng mấy ngày sau có cái hố, ô tô đi gặp phải đổ nhào ngay.

    Như vậy cách tư duy về mục tiêu của nền kinh tế đến mục tiêu gắn với chức năng của Nhà nước không phải hoàn toàn đồng nhất. Trong nền kinh tế nhiều bộ phận chức năng, mỗi ông làm một việc để cho nền kinh tế đạt được mục tiêu tăng trưởng cao một cách hợp lý, khi đó phân bổ nguồn lực mới hợp lý được, phân bổ vai vế khi đó mới hợp lý được.

    Ai đóng vai anh hề là anh hề, ai đóng vai vua là vua, ai đóng vai quan là quan, ai dân là dân chứ nếu không ai cũng thích vai vua cả thì không được.

    Tôi cho điều này là không khó thực hiện, vấn đề là nhà nước làm đúng chức năng của mình trong nền kinh tế thị trường.

    Nhưng cái khó là ở chỗ Nhà nước có đủ năng lực để làm việc đó tốt không? Thì đúng như vị đại diện IMF nói, khi Việt Nam vào WTO cái là mọi thứ phức tạp hơn, mình phải rèn luyện, ngày nào cũng phải tập thể dục thì mới khỏe được chứ!

    Phải nâng cao năng lực thường xuyên chứ cứ nghĩ rằng như thế là ổn rồi thì sẽ rất khó. Nền kinh tế thế giới bây giờ ngày càng phức tạp, nền kinh tế mở của Việt Nam cũng ngày càng phức tạp, vì vậy năng lực quản trị của Nhà nước cũng phải được nâng lên.

    Đó là vấn đề hiện nay đang đặt ra và tôi nghĩ rằng khi chúng ta xác định thay đổi mô hình tăng trưởng, thay đổi vai trò của các khu vực kinh tế thì điều này cũng đã hàm ý rằng sẽ có một sự chuyển dịch cơ bản để đáp ứng câu trả lời chất lượng hay tốc độ.

    Chúng ta không được phép bỏ cái nào cả, nếu bỏ tốc độ thì làm sao đuổi kịp thể giới được.

    Bà KwaKwa, Giám đốc Ngân hàng thế giới tại Việt Nam:

    Tôi muốn bổ sung thêm một điểm nhận định những điều mà ông Trần Đình Thiên vừa nêu, đó là về sự hy sinh như ông nói, đánh đổi ổn định để tăng trưởng có vẻ chỉ được áp dụng trong ngắn hạn thôi, còn về dài hạn, chính sự ổn định của nền kinh tế mới là tạo nền tảng cho tăng trưởng.

    Vậy nên nếu chúng ta tập trung vào các yêu cầu và những vấn đề cơ bản để ổn định vĩ mô, cuối cùng, chúng ta sẽ đạt được mục tiêu tăng trưởng.

    Những bất ổn vĩ mô về mặt lâu dài sẽ tạo ra tác dụng tiêu cực lên tăng trưởng.

    Theo cách đó, nếu chúng ta xử lý một số vấn đề mang tính cơ cấu giúp mang lại chất lượng cho tăng trưởng, có thể sẽ rất khó trong ngắn hạn nhưng trong dài hạn, chính điều ấy mới nuôi dưỡng tăng trưởng nhanh hơn trong thời gian dài hơn.

    Tôi muốn nhấn mạnh rằng chúng ta cần phải có những hành động ngay từ bây giờ.

    Có thể ngay bây giờ làm không dễ dàng nhưng đó là sự đầu tư dài hạn cho tương lai.

    Nhà báo Việt Lâm: Thưa ông Trần Đình Thiên, ông nghĩ sao về các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô vừa được Quốc hội thông qua, liệu có gì mâu thuẫn giữa việc chúng ta đặt ra mục tiêu tăng trưởng 7,5 % và lạm phát dưới 7%, trong khi theo nhận định của các chuyên gia kinh tế thì đối với các nước khác, lạm phát 7% là một vấn đề rất lớn, ông bình luận gì?

    Ông Trần Đình Thiên:

    Các mục tiêu này dự kiến cho một nhiệm vụ cho nên phải căn cứ vào thực tiễn năm nay để đặt ra cho năm nay.

    Tôi thấy Việt Nam muốn tăng trưởng cao không khó, Việt Nam chắc muốn tăng trưởng 10% cũng được, cho nên theo tôi hiện nay đà tăng trưởng của Việt Nam rất tốt.

    Chúng ta xuống đáy vào tháng 1/2009, từ đó đến nay hết năm 2010, cứ tháng sau tăng hơn tháng trước, đà tăng rất tốt nên việc đạt được mức tăng 7,5% là không khó cho nên ta mới cần tập trung vào những việc khó. Chứ nếu cứ tập trung vào việc dễ rồi việc khó bỏ đó là nguy hiểm.

    Việc khó bây giờ là ổn định vĩ mô, kiềm chế lạm phát.

    Câu chuyện là thế này, Tôi vẫn nói cái quan trọng nhất để tăng trưởng chính là lòng tin, mà lòng tin trực tiếp ngay ở chỉ số CPI.

    Cho nên để làm được việc tăng trưởng tốt trong dài hạn chứ không phải chỉ một năm rồi sau đó vất vả tốn bao nhiêu tiền để chống lạm phát, mục tiêu sang năm là cố gắng kéo lạm phát xuống thấp hơn nữa.

    Ở đây tôi muốn nói hai vấn đề.

    Thứ nhất là Việt Nam hiện nay chỉ quan tâm đến mỗi chỉ số CPI, tôi cho rằng về mặt ổn định vĩ mô cần quan tâm đến giá của các tài sản như giá chứng khoán, giá đất đai, giá vàng... những cái này là giá vốn, ta rất ít để ý nhưng thực ra nó rất bất ổn, còn đang bất ổn hơn cả CPI nhưng chưa được quan tâm đúng mức.

    Vì vậy để ổn định vĩ mô không chỉ quan tâm đến chỉ số CPI rồi kéo nó xuống mà còn phải ổn định giá của các loại tài sản.

    Điểm thứ hai tôi muốn nói là nếu đặt mục tiêu kéo lạm phát xuống 5% có khó không, đương nhiên là khó nhưng phải cố để làm được việc ấy.

    Câu hỏi là cơ sở nào để làm được việc ấy?

    Tôi nói có hai yếu tố giúp Việt Nam mà nếu quyết tâm làm thì vẫn có thể ổn định được:

    Thứ nhất là hãy bớt chi tiêu ngân sách đi! Tức là không thể duy trì mức chi tiêu ngân sách năm nào cũng 42, 43% GDP, chúng ta phải quyết tâm hạ chi tiêu ngân sách xuống.

    Ngoài ra còn phải cắt giảm các hạng mục đầu tư công để quản trị hiệu quả. Làm cái này bằng cách để các chi tiêu ấy có thể kiểm soát được. Hiện nay chúng ta chi tiêu quá nhiều dự án, nên không quản trị được, vừa kém hiệu quả vừa tốn kém. Đó chính là dư địa chính sách lớn nhất để chúng ta kéo lạm phát xuống.

    Cái thứ hai là chúng ta nên bớt tham vọng tăng trưởng, chúng ta nén nó lại, nén chưa chắc đã thấp nhưng chúng ta không cần cố mục tiêu tăng trưởng cao. Chúng ta phải cố ổn đinh, lúc đó tăng trưởng 5 hoặc 6% vẫn tốt. Nếu ổn định thì sang năm nó sẽ tăng trưởng tốt hơn vì lòng tin tốt.

    Tức là chuyển hướng mục tiêu ưu tiên của Chính phủ, lúc đó chúng ta sẽ có những thay đổi rất mạnh trong tương quan tăng trưởng nhanh và ổn định.

    Giống như yêu cô nào nhưng nhìn cô ấy ít thôi, nhìn cô khác nhiều hơn thì lập tức cô ấy dễ tán hơn.

    Ông Bernedict Bingham, Đại diện thường trú cao cấp của IMF tại Việt Nam

    Tôi cũng đồng ý với nhận định của ông Trần Đình Thiên ở chỗ là nếu như chúng ta có thể chuyển đổi được ưu tiên giữa tăng trưởng và chất lượng, chúng ta tập trung vào việc điều hành thì mục tiêu tăng trưởng của chúng ta hoàn toàn có thể đạt được. Vấn đề không phải ở thiếu vốn, thách thức là tạo ra một môi trường vĩ mô ổn định cho các nhà đầu tư..

    Còn về lạm phát thì tôi đồng ý mục tiêu 7% là vẫn quá cao, Chính phủ Việt Nan cần có mục tiêu tham vọng hơn, phải gửi tới các nhà đầu tư thông điệp rằng chính phủ cam kết quyết liệt hơn trong việc giảm lạm phát xuống bằng mức trung bình với các nước trong khu vực Châu Á là 3 hoặc 4%.

    Không những thế tôi nghĩ Chính phủ Việt Nam cần phải quyết liệt hơn nữa đối với việc chi tiêu cho các Doanh nghiệp nhà nước, cần phải gây sức ép cho họ để giảm lạm phát hơn nữa thì mới có thể tạo dựng được lòng tin trong nhà đầu tư và nhân dân.

    Về thâm hụt công, một mục tiêu tham vọng hơn cũng là cần thiết. Chính phủ cũng phải gửi thêm một thông điệp nữa cho nhà đầu tư rằng Việt Nam cam kết giảm thâm hụt công, Tôi đồng ý với ông Thiên rằng kỷ luật trong chi tiêu ngân sách sẽ giúp giảm thâm hụt nhà nước một cách đáng kể.

    Vơi việc tập trung nhiều hơn vào ổn định vĩ mô, tái điều chỉnh chiến lược theo hướng tăng trưởng bền vững hơn là tăng trưởng bằng con số trên giấy, tôi cho rằng chẳng có lý do gì Việt Nam không đạt được tăng trưởng như 20 năm qua.

    Nhà báo Việt Lâm: Trở lại với đầu tư công, đã bao giờ Ngân hàng thế giới nói với Chính Phủ Việt Nam là chúng tôi thấy các ông chi tiêu chưa hiệu quả, có cần phải vay thêm nhiều tiền như thế từ World Bank hay không?

    Bà Victoria KwaKwa, Giám đốc Ngân hàng thế giới tại Việt Nam:

    Chúng tôi vẫn làm việc với Chính Phủ Việt Nam về thương thảo các khoản vay, các chính sách của chúng tôi phụ thuộc vào bản thân các dự án cải cách của chính phủ. Chúng tôi luôn bàn thảo với chính phủ xem chương trình cải cách của họ như thế nào, đưa ra biện pháp nào là hợp lý. Chúng tôi cố gắng gây ảnh hưởng bằng cách đối thoại với chính phủ, tư vấn và phân tích chính sách. Đương nhiên, vấn đề hiệu quả trong đầu tư và chi tiêu công là vấn đề lớn trong các đối thoại của chúng tôi.

    Trong những năm gần đây chúng tôi tiến hành nhiều hoạt động như chương trình cải cách đầu tư công, trong đó chúng tôi hỗ trợ chương trình kích thích kinh tế của chính phủ. Hoạt động này tập trung rất mạnh vào việc cải thiện tính hiệu quả của đầu tư công. Chúng tôi đã làm xong phần 1 và chuẩn bị thực hiện phần 2 cuối năm nay.

    Các bạn thấy Ngân hàng thế giới đã và đang làm việc với chính phủ Việt Nam về đầu tư công và tính hiệu quả của chi tiêu công. Chúng tôi còn làm việc cả về quản lý tài chính công nữa.

    Chúng tôi thảo luận với chính phủ những nguyên tắc đang được sử dụng trên phạm vi toàn cầu để đánh giá chất lượng của quản trị chi tiêu công. Chính phủ tự đánh giá phương diện quản trị tài chính công của mình trên tương quan với các nước khác. Chúng tôi còn phối hợp với chính phủ thực hiện các Đánh giá tài chính tổng quan. Ngân hàng có nhiều công cụ để thảo luận với chính phủ Việt Nam trong hai vấn đề đặc biệt quan trọng là tính hiệu quả của đầu tư và chi tiêu công.

    Nhà báo Việt Lâm: Nếu Chính phủ Việt Nam đề nghị World Bank cấp khoản vay cho đường sắt cao tốc thì bà nghĩ sao?

    Bà Victoria KwaKwa, Giám đốc Ngân hàng thế giới tại Việt Nam:

    Chúng tôi sẽ xem liệu dự án lớn này có nhận được sự đồng thuận trong xã hội hay không. Để dự án được thông qua ở cấp lãnh đạo, nó phải nhận được sự ủng hộ của đông đảo nhân dân.

    Bên cạnh sự đồng thuận đó, chúng tôi cũng sẽ tự mình chủ động đưa ra những phân tích về mặt kinh tế: xem việc đầu tư này có hiệu quả hay không, chúng ta có đủ nguồn lực để đầu tư cho dự án hết sức lớn và tốn kém này hay không

    Dự án đường sắt cao tốc sẽ tiêu tốn rất nhiều tiền trong khi chúng ta còn rất nhiều lĩnh vực khác phải quan tâm như giáo dục, y tế. Chúng ta phải cân nhắc xem liệu có nên đánh đổi như thế hay không.

    Nhưng điều quan trọng hơn cả vẫn là những đánh giá và phân tích kinh tế, liệu dự án này có mang lại lợi nhuận kinh tế hay không.

    Hầu hết các dự án chúng tôi đang hỗ trợ ở Việt Nam hiện nay như các dự án cơ sở hạ tầng, chúng tôi đặt ra tiêu chuẩn ít nhất phải thu được 12% lợi nhuận. Nếu bắt tay vào dự án này, mức lợi nhuận của nó cũng phải đạt được như trên.

    Và vấn đề đặt ra là nếu đem tiền đầu tư cho dự án này thì có lẽ sẽ chẳng còn nhiều tiền để đầu tư cho các dự án khác nữa, nên chúng tôi sẽ phải hết sức cân nhắc cẩn trọng xem có nên đổ hết tiền hết vào một dự án lớn như vậy hay không.

    Nguồn: http://vef.vn/2010-11-17-imf-wb-can-viet-nam-danh-doi-on-dinh-lay-tang-truong

    Cảm ơn tác giả Vũ Quang Việt đã có bài phân tích hay về tình hình KT Việt Nam.
    Tôi chỉ nhấn mạnh thêm một điểm nữa là hiệu quả đồng vốn thấp, dẫn đến việc nhâp siêu cao nhưng tăng trưởng không đủ cao so với đồng vốn vay mượn. Đây là một vấn đề nan giải vì ai cũng chỉ tính ngắn, chỉ lo cho cá nhân mình trước. Nhu cầu "Tăng trưởng cao"chỉ là một phần nhỏ của căn bệnh 'thành tích', một bệnh phổ biến ở VN hiện nay.

    Tôi cho rằng khủng hoảng đang xảy ra và sẽ trầm trọng thêm. Vấn đề là nhà cầm quyền chống đỡ bằng cách nào? Các biện pháp như tìm sự hổ trợ của IWF (với giám sát gắt gao của họ) sẽ làm mất mặt đảng, làm thêm mất lòng tin vào chế độ. Lối thoát duy nhất mà họ sẵn sàng thực hiện là tìm kiếm thêm hổ trợ từ "nước lạ" với những đánh đổi bí mật có tính nguy hại đến an ninh và toàn vẹn lãnh thổ hơn nữa. Khi họ đã có ý làm thì không mảy may "giựt con mắt" vì bản chất của kẻ cầm quyền hiện nay là như thế.

    Kính thưa ông,
    ..."Nhập siêu vẫn tiếp tục lớn, năm 2009 là 12,2 tỷ đô-la, năm 2010 dự báo cũng sẽ tương tự, ít nhất là trên 12 tỷ đô-la. Nợ nước ngoài vì vậy tăng nhanh, hiện nay là khoảng 28 tỷ đô-la, bằng khoảng 40 % GDP. "...

    Ai sẽ trả món nợ này đây ? Đảng CSVN hay là nhân dân Việt nam ?
    Tôi mong muốn được biết câu trả lời của vấn đề này ?

    Nay kính
    Bà Quả Phụ Phùng thị.