Tại sao Singapore giàu hơn Việt Nam?

  • Bởi Admin
    16/11/2010
    4 phản hồi

    Vo Vu

    Bạn tôi có hỏi tôi câu hỏi như trên!

    Tôi thật thà trả lời rằng: Tại vì ông Lý Quang Diệu, người sáng lập ra đất nước Singapore đã có thời gian du học ở Anh và ông ta cùng những cộng sự của mình đã xây dựng đất nước theo những gì ông ấy đã được học và đã được thấy ở những đất nước phát triển.

    Bạn tôi lại hỏi lại: Thế ngày xưa bác Hồ cũng đi nước ngoài sống và học tập thế sao không xây dựng được đất nước như họ?

    Tôi mới trả lời rằng: Bác Hồ ngày xưa được ra nước ngoài là quý, nhưng bác chỉ là một anh thợ kim hoàn thôi. Tuy điều đáng quý của bác là đã tranh thủ vừa rửa chén vừa học tập, nhưng những gì bác thu thập không phải để xây dựng một đất nước phát triển, mà để giành chính quyền.

    Một Lý Quang Diệu thành lập nhà nước Singapore bằng con đường thương thảo khác rất xa với một Hồ Chủ Tịch và Đảng Cộng Sản cũng như các chính đảng khác lúc bấy giờ giành chính quyền bằng bạo lực chính trị.

    Ngoài ra điều quan trọng là bộ máy nhà nước của Singapore khi được thành lập thì nội các hầu như là những người bạn học chung trường với Lý Quang Diệu bên Anh. Những người được đào tạo bài bản và được hấp thụ nền văn hóa tiên tiến. Một điều rất khác xa với Hồ chủ tịch là người duy nhất được du ngoạn bên trời Tây với một mớ kiến thức tự học là chính. Và nếu nhìn vào nội các lúc thành lập chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa lúc bấy giờ thì hầu như chẳng có ai được đi du học bài bản. Cho nên một đất nước mới thành lập với những tư tưởng ấu trĩ và áp dụng rập khuôn chủ nghĩa Max-Lenin cũng chẳng có gì là ngạc nhiên.

    Ở đây tôi không phải đề cao cái việc du học ở trời Tây nhưng công bằng mà nói thì cách đây 100 năm thì trình độ khoa học, và trí thức của Phương Tây đã quá cách biệt với một Á Đông nặng mùi vua chúa.

    Một Nguyễn Trường Tộ chỉ đi nhìn cái phát triển của người ta thì về có nói thế nào cũng chẳng thể thuyết phục được Vua!!!

    Trích thông tin về Lý Quang Diệu trên Wikipedia:

    Thiếu thời

    Lý Quang Diệu theo học tại trường tiểu học Telok Kurau, Học viện Raffles và Đại học Raffles. Ông phải bỏ dở việc học khi Nhật Bản chiếm đóng Singapore suốt những năm 1942-1945 trong Đệ nhị thế chiến. Trong thời kỳ chiếm đóng, ông vận hành hiệu quả những thương vụ chợ đen tiêu thụ một loại keo tapioca gọi là Stikfas.[1] Bắt đầu học tiếng Hán và tiếng Nhật từ năm 1942, ông làm việc với người Nhật trong công việc của một người ghi chép những bức điện báo của phe Đồng Minh, cũng như biên tập bản tiếng Anh cho tờ Hodobu (報道部 — thuộc ban thông tin tuyên truyền của người Nhật) từ năm 1943 đến năm 1944.[2][3]

    Sau chiến tranh, ông theo học luật tại Đại học Fitzwilliam, Đại học Cambridge tại Anh Quốc, và trong một thời gian ngắn, theo học tại Trường Kinh tế Luân Đôn. Năm 1949, Lý Quang Diệu trở về Singapore và hành nghề luật sư tại Laycock và Ong, một công ty luật của John Laycock, một nhà tiên phong trong các hoạt động đa chủng tộc, người cùng với A.P. Rajah và C.C. Tan, thành lập câu lạc đa chủng đầu tiên tại Singapore, thâu nhận người châu Á.

    Sự nghiệp chính trị (1951–1959)

    Trước thời kỳ Đảng Hành động Nhân dân

    Kinh nghiệm đầu tiên của Lý Quang Diệu trên chính trường Singapore là vai trò một nhân viên vận động bầu cử cho ông chủ John Laycock dưới ngọn cờ của Đảng Tiến bộ (Progressive Party) thân Anh, trong cuộc bầu cử hội đồng lập pháp năm 1951. Song, Lý Quang Diệu dần dần nhận ra hậu vận đen tối của chính đảng này do thiếu sự ủng hộ của quần chúng, nhất là của giới lao động thuộc cộng đồng nói tiếng Hoa. Nhân tố này là đặc biệt quan trọng khi ủy ban Rendel, vào năm 1953, quyết định mở rộng quyền bầu cử cho tất cả người dân sinh tại địa phương, làm gia tăng đáng kể số cử tri người Hoa. Lý Quang Diệu tiến đến ngả rẽ chính trị của mình khi ông tham gia tư vấn pháp lý cho các nghiệp đoàn thương mại và sinh viên. Các nghiệp đoàn này cung cấp cho ông mối quan hệ với giới công nhân nói tiếng Hoa (về sau, đảng Hành động Nhân dân của ông sử dụng mối quan hệ lịch sử này như là một công cụ đàm phán trong các tranh chấp công nghiệp).

    Thành lập Đảng Hành động Nhân dân

    Ngày 21 tháng 11 năm 1954, Lý Quang Diệu cùng với một nhóm bạn hữu thuộc giai cấp trung lưu có học vấn Anh, những người mà ông miêu tả là "những tay tư sản nghiện bia", thành lập Đảng Hành động Nhân dân (PAP - 人民行动党) có khuynh hướng xã hội và liên minh với các nghiệp đoàn theo chủ nghĩa cộng sản. Một hội nghị sáng lập được tổ chức tại Victoria Memorial Hall, sảnh đường đầy cứng với 1.500 người ủng hộ và thành viên nghiệp đoàn. Lý Quang Diệu trở thành Tổng thư ký, chức vụ mà ông nắm giữ cho đến năm 1992, ngoại trừ một thời gian ngắn trong năm 1957. Tunku Abdul Rahman của Đảng UMNO và Tan Cheng Lock của MCA được mời làm quan khách nhằm tăng uy tín cho đảng vừa mới ra đời.

    Đối lập

    Lý Quang Diệu ra tranh cử và giành được chiếc ghế đại diện cho Tanjong Pagar trong cuộc tuyển cử năm 1955. Ông trở nên nhà lãnh đạo phe đối lập, chống lại chính phủ liên hiệp dưới sự lãnh đạo của Mặt trận Lao động của David Saul Marshall. Ông cũng là một trong số hai đại diện của PAP đến tham dự những cuộc thương thảo về hiến pháp tổ chức tại Luân Đôn; cuộc thương thảo lần thứ nhất đặt dưới sự hướng dẫn của Marshall, lần thứ hai của Lim Yew Hock. Chính trong giai đoạn này Lý Quang Diệu phải đấu tranh với các đối thủ cả trong lẫn ngoài đảng PAP.

    Thủ tướng, trước khi độc lập (1959–1965)

    Chính phủ tự trị (1959-1963)

    Trong cuộc bầu cử toàn quốc ngày 1 tháng 6 năm 1959, PAP giành được 43 trong tổng số 51 ghế trong hội đồng lập pháp. Singapore dành quyền tự trị trong mọi lĩnh vực của đất nước ngoại trừ quốc phòng và ngoại giao, Lý Quang Diệu trở thành thủ tướng đầu tiên của quốc gia này vào ngày 3 tháng 6 năm 1959, thay thế thủ tướng Lim Yew Hock. Trước khi nhậm chức ông yêu cầu trả tự do cho Lim Chin Siong và Devan Nair, hai người này đã bị giam giữ bởi chính phủ Lim Yew Hock.

    Sau khi giành được quyền tự trị từ tay người Anh, Singapore phải đối diện với nhiều vấn đề xã hội như giáo dục, nhà ở và tình trạng thất nghiệp. Lý Quang Diệu cho thành lập Ban phát triển gia cư để bắt đầu chương trình xây dựng chung cư hầu làm giảm nhẹ sự thiếu hụt nhà ở.

    Sáp nhập rồi tách khỏi Malaysia (1963–1965)

    Sau khi thủ tướng của Malaya, Tunku Abdul Rahman, đưa ra đề nghị thành lập một liên bang bao gồm Mã Lai, Singapore, Sabah, Sarawak và Brunei vào năm 1961, Lý Quang Diệu khởi phát chiến dịch đòi sáp nhập với Malaysia với mục đích chấm dứt sự cai trị của người Anh. Sử dụng những kết quả thu được từ cuộc trưng cầu dân ý tổ chức ngày 1 tháng 9 năm 1962, theo đó có đến 70% lá phiếu ủng hộ đề nghị của mình, Lý Quang Diệu tuyên bố nhân dân đứng về phía ông. Suốt trong chiến dịch Coldstore, Lý Quang Diệu tìm cách loại bỏ những thành phần chống đối kế hoạch sáp nhập.

    Ngày 16 tháng 9 năm 1963, Singapore trở nên một phần của Liên bang Malaysia. Tuy nhiên, liên bang này không tồn tại được lâu. Chính quyền trung ương Malaysia, dưới sự lãnh đạo của Tổ chức Liên hiệp Dân tộc Mã Lai (UMNO), tỏ ra quan ngại về thành phần đa số của người Hoa ở Singapore cũng như những thách thức chính trị của PAP tại Malaysia. Lý Quang Diệu công khai chống lại chủ trương dân tộc cực đoan Mã Lai (bumiputra). Mối quan hệ giữa PAP và UMNO trở nên căng thẳng gay gắt. Một số người trong UMNO muốn bắt giữ ông.

    Bạo động chủng tộc bùng nổ sau đó gần Kallang Gasworks vào dịp sinh nhật tiên tri Mohamet (ngày 21 tháng 6 năm 1964), có 25 người thiệt mạng khi người Hoa và người Mã Lai tấn công lẫn nhau. Đến nay vẫn còn tranh cãi về nguyên nhân của cuộc bạo động này, có người cho rằng một người Hoa đã ném chai lọ vào đám đông người Mã Lai trong khi có người nghĩ ngược lại, cho rằng một người Mã Lai đã làm điều này. Thêm những vụ bạo động bùng nổ trong tháng 9 năm 1964, khi đám đông cướp phá xe hơi và các cửa hiệu, khiến cả Tunku Abdul Rahman và Lý Quang Diệu phải xuất hiện trước công chúng nhằm xoa dịu tình hình. Trong lúc này giá thực phẩm tăng cao do tắc nghẽn giao thông, làm cho tình hình càng xấu hơn.

    Không tìm ra phương cách giải quyết cuộc khủng hoảng, Tunku Abdul Rahman chọn lấy quyết định trục xuất Singapore ra khỏi Malyasia, "cắt đứt mọi quan hệ với chính quyền của một tiểu bang đã không đưa ra bất cứ biện pháp nào chứng tỏ lòng trung thành với chính quyền trung ương". Lý Quang Diệu cố gắng xoay sở để tìm ra một thỏa hiệp nhưng không thành công. Sau đó, do sự thuyết phục của Ngô Khánh Thụy (Goh Keng Swee), ông nhận ra rằng ly khai là điều không thể tránh khỏi. Ngày 7 tháng 8 năm 1965, Lý Quang Diệu ký thoả ước ly khai, trong đó có bàn về mối quan hệ sau ly khai với Malaysia hầu có thể tiếp tục duy trì sự hợp tác trong những lãnh vực như thương mại và quốc phòng.

    Đây là một đòn nặng đánh vào Lý Quang Diệu, vì ông tin rằng sự hợp nhất là yếu tố căn cốt cho sự tồn vong của Singapore. Trong cuộc họp báo được truyền hình trực tiếp, oà vỡ trong xúc cảm, Lý Quang Diệu thông báo với dân chúng về quyết định ly khai:

    Đối với tôi, đây là một khoảnh khắc đau thương. Suốt cuộc đời tôi, suốt cuộc đời trưởng thành của tôi, tôi luôn tin tưởng vào sự kết hợp và thống nhất của hai vùng lãnh thổ... Ngay lúc này, tôi, Lý Quang Diệu, Thủ tướng Singapore, nhân danh nhân dân và chính quyền Singapore, tuyên bố rằng kể từ hôm nay, ngày 9 tháng 8 năm 1965, Singapore sẽ vĩnh viễn là một quốc gia độc lập, dân chủ với đầy đủ chủ quyền, lập nền trên những nguyên lý của quyền tự do và công bằng hầu mưu tìm phúc lợi và hạnh phúc cho nhân dân đang sinh sống trong một xã hội tối hảo, công bằng và bình đẳng.

    Cũng trong ngày ấy, 9 tháng 8 năm 1965, Quốc hội Malaysia biểu quyết thông qua nghị quyết cắt đứt quan hệ với tiểu bang Singapore, như vậy nước Cộng hoà Singapore được hình thành. Tân quốc không có tài nguyên thiên nhiên, không có nguồn nước và khả năng quốc phòng thì hết sức nhỏ bé. Nay Lý Quang Diệu phải đứng ra gánh vác trọng trách xây dựng đảo quốc mới vừa được khai sinh này.

    Thủ tướng, sau độc lập (1965–1990)

    Trong quyển hồi ký của mình, Lý Quang Diệu nói rằng ông không thể ngủ ngon và ngã bệnh sau ngày Singapore độc lập. Sau khi nghe Cao uỷ John Robb tường trình về hoàn cảnh của Lý Quang Diệu, Thủ tướng Anh Harold Wilson bày tỏ những quan ngại của mình và nhận được phúc đáp của Lý Quang Diệu:

    Đừng lo cho Singapore. Đồng sự của tôi và tôi là những người tỉnh táo và chừng mực, ngay cả trong thời điểm đau buồn này. Chúng tôi sẽ cân nhắc mọi hệ lụy có thể xảy ra khi quyết định cho bất cứ động thái nào trên bàn cờ chính trị...

    Lý Quang Diệu khởi sự tìm kiếm sự công nhận của quốc tế cho quốc gia Singapore độc lập. Ngày 21 tháng 9 năm 1965, Singapore gia nhập Liên Hiệp Quốc, và ngày 8 tháng 8 năm 1967, gia nhập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN). Ngày 25 tháng 5 năm 1973, Lý Quang Diệu chính thức viếng thăm Indonesia, chỉ vài năm sau chính sách đối đầu (Konfrontasi) dưới chế độ của Sukarno. Quan hệ giữa Singapore và Indonesia có những bước cải thiện căn bản nhờ những cuộc viếng thăm qua lại sau đó giữa hai nước.

    Vì Singapore chưa bao giờ có một nền văn hoá chủ đạo để dân nhập cư có thể hoà nhập, cũng không có một ngôn ngữ chung, trong hai thập niên 1970 và 1980, cùng với các nỗ lực từ chính phủ và đảng cầm quyền, Lý Quang Diệu cố gắng kiến tạo một bản sắc chung cho Singapore.

    Lý Quang Diệu và chính quyền luôn nhấn mạnh đến tầm quan trọng của chủ trương bao dung tôn giáo và hoà hợp chủng tộc, sẵn sàng sử dụng luật pháp để chống lại bất kỳ hiểm hoạ nào có thể kích hoạt bạo động tôn giáo và chủng tộc. Điển hình, Lý Quang Diệu đã cảnh cáo "việc truyền bá phúc âm cách thiếu nhạy cảm" khi đề cập đến những trường hợp các tín hữu Cơ Đốc chia sẻ đức tin của mình cho người Mã Lai (tuyệt đại đa số theo Hồi giáo). Năm 1974, chính phủ khuyến cáo Thánh Kinh Hội Singapore nên ngưng xuất bản các ấn phẩm tôn giáo bằng tiếng Mã Lai.[4]

    Chính sách

    Trong cương vị lãnh đạo quốc gia suốt trong thời kỳ hậu độc lập, ông Lý có ba mối quan tâm chính: an ninh quốc gia, kinh tế và những vấn đề xã hội.

    An ninh quốc gia

    Tính dễ bị tổn thương của Singapore luôn được cảm nhận sâu sắc khi xảy ra các mối đe doạ từ nhiều phía khác nhau, trong đó có Indonesia (với chính sách đối đầu), cũng như thành phần cực đoan trong đảng UMNO, những người này muốn đem Singapore trở về với Malaysia. Ngay khi Singapore được gia nhập Liên Hiệp Quốc, Lý Quang Diệu vội vàng tìm kiếm sự công nhận của quốc tế dành cho nước Singapore độc lập. Theo gương Thuỵ Sĩ, ông tuyên bố chính sách trung lập và không liên kết. Cùng lúc, ông giao cho Ngô Khánh Thụy trọng trách xây dựng Lực lượng vũ trang Singapore và xin trợ giúp từ các quốc gia khác trong các lãnh vực tư vấn, huấn luyện và cung ứng quân dụng.

    Năm 1967, khi người Anh tỏ ý cắt giảm hoặc triệt thoái quân đội khỏi Singapore và Malaysia, Lý Quang Diệu và Goh đưa ra chương trình quân dịch National Service nhằm phát triển một lực lượng trừ bị qui mô có thể huy động trong một thời gian ngắn. Tháng 1 năm 1968, ông mua một ít xe tăng AMX-13 do Pháp chế tạo, đến năm 1972, tổng số xe tăng tân trang được mua là 72 chiếc.

    Sau này, Singapore thiết lập quan hệ quân sự với các quốc gia thành viên của ASEAN, với Hiệp ước Phòng thủ Ngũ Cường (Five-Powers Defense Agreement, FPDA) và các nước khác, giúp phục hồi nền an ninh quốc gia sau cuộc triệt thoái ngày 31 tháng 10 năm 1971 của quân đội Anh.

    Kinh tế

    Tách rời khỏi Malaysia có nghĩa là mất luôn thị trường chung và thị trường nội địa. Khó khăn càng chồng chất khi quân đội Anh triệt thoái làm mất thêm 50.000 chỗ làm. Mặc dù người Anh ủng hộ những cam kết trước đó duy trì các căn cứ quân sự cho đến năm 1975, Lý Quang Diệu không muốn làm căng thẳng mối quan hệ với Luân Đôn. Ông tìm cách thuyết phục Harold Wilson cho phép chuyển đổi các cơ sở quân sự (như xưởng sửa chữa và đóng tàu của hải quân) cho các mục đích dân sự, thay vì phá huỷ chúng như theo luật của nước Anh. Với sự tư vấn của Tiến sĩ Albert Winsemius, Lý Quang Diệu dẫn đưa Singapore vào con đường công nghiệp hoá. Năm 1961, Ban Phát triển Kinh tế được thành lập với nhiệm vụ thu hút đầu tư nước ngoài, đưa ra những ưu đãi thuế hấp dẫn và xây dựng một lực lượng lao động lương thấp nhưng có kỷ luật lao động và tay nghề cao. Đồng thời chính phủ duy trì biện pháp kiểm soát chặt chẽ nền kinh tế, ban hành những qui định về phân phối đất đai, lao động và nguồn vốn. Tiến hành xây dựng hạ tầng cơ sở hiện đại như phi trường, hải cảng, đường sá và mạng lưới truyền thông. Ban Xúc tiến Du lịch cũng được thành lập để phát triển du lịch và tạo thêm việc làm. Trong vai trò lãnh đạo công cuộc xây dựng và phát triển nền kinh tế Singapore, Lý Quang Diệu nhận được sự hỗ trợ từ những bộ trưởng tài năng nhất, đặc biệt là Goh Keng Swee và Hon Sui sen. Họ cố xoay sở để hạ giảm tỷ lệ người thất nghiệp từ 14% trong năm 1965 xuống còn 4,5% vào năm 1973.
    [sửa] Ấn định ngôn ngữ chính thức

    Lý Quang Diệu chọn Anh ngữ là ngôn ngữ công sở và ngôn ngữ chung cho các chủng tộc khác nhau, trong khi vẫn công nhận tiếng Mã Lai, tiếng Trung Hoa và tiếng Tamil là ngôn ngữ chính thức. Hầu hết trường học đều sử dụng tiếng Anh như là chuyển ngữ cho học tập, mặc dù tiếng mẹ đẻ vẫn được dạy trong trường học.

    Lý Quang Diệu khuyến khích người dân ngưng sử dụng các phương ngữ của tiếng Hoa, và phát triển tiếng Phổ thông (Standard Mandarin) như một ngôn ngữ thay thế, chiếm lấy vị trí "tiếng mẹ đẻ" với mục tiêu xây dựng một ngôn ngữ giao tiếp chung cho cộng đồng người Hoa. Năm 1979, Lý Quang Diệu chính thức phát động phong trào nói tiếng Hoa phổ thông. Ông cho hủy bỏ tất cả chương trình truyền hình bằng tiếng địa phương, ngoại trừ các chương trình tin tức và nhạc kịch (phục vụ cho người lớn tuổi). Biện pháp này đã làm suy tàn các phương ngữ của tiếng Hoa; ngày nay người ta nhận ra rằng giới trẻ Singapore gốc Hoa không còn thông thạo khi sử dụng phương ngữ tiếng Hoa, vì vậy họ gặp nhiều khó khăn khi tiếp xúc với ông bà của họ là những người chỉ biết nói tiếng Hoa địa phương.

    Trong thập kỷ 1970, sinh viên tốt nghiệp từ Đại học Nanyang nói tiếng Hoa gặp trở ngại khi kiếm việc làm vì không thông thạo tiếng Anh, ngôn ngữ cần có tại chỗ làm, đặc biệt là trong khu vực công. Lý Quang Diệu phải sử dụng biện pháp triệt để bằng cách sáp nhập Đại học Nanyang vào Đại học Singapore để trở thành Đại học Quốc gia Singapore. Động thái này gây ảnh hưởng lớn trên các giáo sư nói tiếng Hoa vì họ buộc phải dạy bằng tiếng Anh. Những người có công xây dựng Đại học Nanyang cũng lên tiếng chống đối vì những tình cảm ràng buộc với trường này.

    Qui chế chính phủ

    Giống các quốc gia châu Á khác, Singapore cũng không miễn nhiễm đối với nạn tham nhũng. Lý Quang Diệu nhận thức rõ rằng tham nhũng là một trong những nguyên do dẫn đến sự sụp đổ của chính quyền Trung Hoa Dân quốc tại Trung Hoa. Ông ban hành những luật lệ cần thiết dành cho Văn phòng Điều tra Tham nhũng (Corrupt Practices Investigation Bureau, CPIB) nhiều quyền hạn hơn để bắt giữ, lục soát, triệu tập nhân chứng, điều tra các tài khoản ngân hàng và các khoản hoàn trả thuế lợi tức của những cá nhân bị tình nghi cùng với gia đình của họ. Với sự ủng hộ của Lý Quang Diệu, CPIB được giao thẩm quyền tiến hành các cuộc điều tra đối với bất kỳ viên chức hoặc bộ trưởng nào. Trong thực tế, sau đó đã có vài bộ trưởng bị cáo buộc tham nhũng.

    Lý Quang Diệu tin rằng các bộ trưởng nên được trả lương cao để duy trì một chính quyền sạch và chân thật. Năm 1994, ông đề nghị nối kết mức lương của bộ trưởng, thẩm phán và viên chức công quyền cao cấp với mức lương của giới chuyên nghiệp hàng đầu trong khu vực tư, vì ông cho rằng như thế sẽ giúp tuyển mộ và duy trì nhiều tài năng phục vụ trong khu vực công.

    Năm 1983, Lý Quang Diệu gây ra nhiều tranh cãi gay gắt về hôn nhân khi ông lên tiếng khuyến khích nam giới Singapore kết hôn với phụ nữ thuộc thành phần học thức. Ông bày tỏ mối quan ngại khi hiện có nhiều phụ nữ đã tốt nghiệp đại học vẫn chưa lập gia đình. Một số nhóm dân cư, trong đó có những phụ nữ tốt nghiệp đại học, tỏ ra giận dữ vì quan điểm này. Dù vậy, một cơ quan môi giới hôn nhân, Social Development Unit, đã được thành lập nhằm tạo điều kiện giao tiếp cho những người tốt nghiệp đại học của cả hai giới. Ông cũng đưa ra những biện pháp khuyến khích các bà mẹ học thức có ba hoặc bốn con, đảo ngược chiến dịch kế hoạch hoá gia đình "chỉ nên có hai con" trong hai thập niên 1960 và 1970.

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    4 phản hồi

    Tôi lại gặp Mr Tèo ở đây.Tôi chỉ có thể đồng ý với Mr Tèo một nửa thôi.Đó là chúng ta dính quá nhiều vào chiến tranh. Cũng bên cạnh chúng ta, người Thailan khéo léo, chèo con thuyền độc lập mà không phải huy động đến chiến tranh. Cần học ở họ.
    Biển Đông thì thật khó.Để cho TQ chiếm Hoàng sa 1974 và Trường sa 1988 là sai lầm quá lớn mà việc đòi lại khó khăn vô cùng.Đành phải mời Hoa kỳ vào cuộc. Nhưng Hoa kỳ có quyền lợi riêng của họ. Họ sẽ không vì HS-TS mà hi sinh quyền lợi của mình.Người TQ thì thật khéo nhử lợi . Anh, Pháp đang làm ăn lớn với TQ.Hoa kỳ có quá nhiều quyền lợi đan chéo với TQ.
    Hoa kỳ và các học giả nổi tiếng đều kêu gọi giải quyết hòa bình vấn đề Biển Đông.Vấn đề ở chỗ: Tình hình Biển Đông ổn định là có lợi cho họ, nhưng Việt nam không được lợi : HS-TS vẫn ở trong tay TQ.Giả sử HS-TS là của Hoa kỳ và TQ chiếm đoạt. Tôi tin rằng Hoa kỳ đã hải chiến giành lại từ lâu rồi.Do vậy theo tôi, vẫn phải chuẩn bị phương án họng súng. Trước hết VN cần tổ chức thật nhiều các hội nghị thế giới trình bầy tính hợp pháp chủ quyền của VN với 2 quần đảo này.Cần thiết phải sang cả TQ tuyên truyền về tính hợp pháp chủ quyền của VN.Phải đưa ra các tòa án quốc tế để có các phán chứng rõ ràng.Tuy vậy nếu TQ bất chấp tất cả, không trả lại cho VN thì sao? Tôi vẫn muốn nghe tin Hải quân Việt nam cộng hòa hồi sinh và lớn mạnh.Tạo điều kiện để họ phục hồi danh dự là điều nên làm.

    Tuy nhiên phải nhìn nhận một điều rằng: chũng ta dính quá nhiều chiến tranh góp phần rất lớn giúp Thái, Phi, Sing và Nhật giàu lên trông thấy. Khi cỗ máy phát động chiến tranh của Mỹ vận hành thì cũng đồng nghĩa các dịch vụ hậu cần ở các nước đồng mình này đắc lợi, chính Lý đã từng tuyên bố "Chiến tranh Đông Dương có lợi cho chúng tôi".
    Cái này chúng ta phải nghiên cứu, và phải thật khéo léo để cuộc đối đầu trên Biển Đông thì Việt Nam không ở thế đứng mũi chịu sào. Hiện tại, rõ ràng Hoa Kỳ đang khéo léo lôi kéo chủ nghĩa dân tộc hút vào cái mà chúng ta gần như trăm đường đều thiệt.
    Tôi vãn thấy, nguy cơ rất lớn từ chính quyền Hà Nội: họ không biết cách đẩy quả bóng sang Phi Nhật Tân mà là ngược lại; Manila đắc lợi trên bàn đàm phán song phương với Trung Nam Hải.
    Một loạt bắt bớ gần đây trong sự phản ứng yếu ớt từ Nhà Trắng là vì cái gì? Hẳn không nằm khỏi lộ trình Ba Lan châu Á của thế kỷ XXI ư!

    Theo tôi thì câu trả lời cho câu hỏi "Tại sao Singapore giàu hơn Việt Nam?" là:
    Lý Quang Diêu đã không mơ hồ về Chủ nghĩa cộng sản và không du nhập CNCS , không thành lập ĐCS mà là đảng Hành động nhân dân liên minh với các nghiệp đoàn theo chủ nghĩa cộng sản. Như vậy đảng của ông cùng lắm có xu hướng tả, thiên về đấu tranh cho công bằng xã hội.Tức là không có đấu tranh giai cấp , không có chuyên chính vô sản, không có chủ nghĩa quốc tế vô sản...những luận điểm gây chia rẽ , bất hòa trong dân tộc.
    Nguyễn Ái Quốc của Việt nam thì khi đọc luận cương của Lênin về các vấn đề thuộc địa đã khóc ở trong phòng và hét to: hỡi đồng bào bị đọa đầy đau khổ , đây là con đường giải phóng cho các người.
    Lý Quang Diệu đã xây dựng được một Singapor giầu có, văn minh.
    Hồ Chí Minh đã để lại cho dân tộc một lớp học trò mà khả năng xây dựng đất nước của họ không làm cho dân tộc Việt nam có lý do để tự hào về trí tuệ.Đến ngày hôm nay Việt nam vẫn là một nước nghèo trên thế giới.

    Tôi có đặt hàng bác Kami, người có nhiều hiểu biết về Vương Quốc Thái Lan, viết một bài so sánh nước Thái, triều đại Chakri của Thái với triều Nguyễn của Việt Nam vào khoảng thế kỷ 17-18, để rút tỉa kinh nghiệm cho Việt Nam ngày nay. Nhưng rất tiếc là hình như bác Kami bận chưa làm được. Nếu độc giả Dân Luận nào có thể viết một bài phân tích sự khác biệt giữa đôi bên thì tốt quá.

    Theo tôi tìm hiểu sơ bộ thì vua đầu tiên của triều Nguyễn ra nước ngoài là Khải Định, và đó là năm 1922. Chuyến đi của ông đã khiến nhiều người Việt, trong đó có cả Phan Chu Trinh, bất bình. Quan lại dưới triều Nguyễn ra nước ngoài sớm hơn một chút, gồm có Nguyễn Trường Tộ năm 1858, Phan Thanh Giản đi sứ Pháp năm 1863. Nhưng những gì hai ông này nhìn thấy và kể lại đã bị triều đình bỏ ngoài tai. Phan Thanh Giản cảm thán bằng những vần thơ:

    Từ ngày đi sứ tới Tây kinh
    Thấy việc Âu Châu phải giật mình
    Kêu tỉnh đồng bang mau kíp bước
    Hết lòng năn nỉ chẳng ai tin...

    Ngược lại, vua Thái đầu tiên ra nước ngoài là Chulalongkorn (Rama V) vào năm 1870. Ông ghé thăm Singapore, Java rồi qua Anh Quốc, Ấn Độ tìm hiểu về cách các quốc gia này quản lý đất nước. Chuyến đi 2 năm này đã trở thành nguồn cảm hứng để ông cai trị đất nước Thái sau này. Sau đó ông còn ghé thăm Châu Âu 2 lần, năm 1897 and 1907. Con của Chulalongkorn là Vajiravudh (Rama VI) được gửi đi học đại học ở Anh năm 1891. Prajadhipok (Rama VII) cũng đi du học Anh Quốc năm 1906, trước khi Khải Định sang Pháp lần đầu tiên là... 16 năm. Với tầng lớp lãnh đạo "có học" và "có viễn kiến" như vậy, sự chênh lệch giữa Thái Lan và Việt Nam không phải là điều lạ.