Một cách tiếp cận khi theo dõi những vụ án nghi phạm tội danh về An ninh Quốc gia

  • Bởi Khách
    12/11/2010
    1 phản hồi

    Jony Bắp

    Do đó, trong các vụ luật sư bào chữa cho thân chủ mà Viện kiểm sát buộc tội danh về An ninh Quốc gia ở Việt Nam thường không mấy hiệu quả, thì ngoài lý do vai trò vị trí của Luật sư trong Tố tụng ở Việt Nam còn chưa cao do hạn chế của nền tư pháp chưa tiến bộ, về mặt bằng chung trình độ của Luật sư trong nước, nói đa số là như thế, thì còn một lý do nữa là sự củng cố vững chắc về chứng cứ ( đã đưa ra trước công luận hay chưa đưa ra ) của hệ thống đồ sộ và hiệu quả của cơ quan phòng chống tội phạm đã tiến hành liên tục từ rất lâu, đồng bộ nhịp nhàng các biện pháp công tác đặc biệt thu thập chứng cứ, kích động đối tượng bọc lộ hành vi phạm pháp được luật pháp cho phép đối với Cảnh sát, An ninh ( ở các nước Tam quyền phân lập thì phần lớn Tổng thống công khai biện pháp ra Nghị viện ).

    Thông thường, ở những Quốc gia nói chung là yên ổn, hay tạm gọi là yên ổn, trong đó có Việt Nam, án hình sự không phải khi nào cũng có để mà xử, vậy nên các bộ phận An ninh, Cảnh sát chuyên trách về chống tội phạm biên chế nhân viên không nhiều so với toàn bộ lực lượng An ninh, Cảnh sát.

    Vậy thì số bộ phận, nhân viên phần đông còn lại họ làm gì, nếu không tính số nhân viên hậu cần vật chất, y tế, phục vụ dịch vụ v.v.. thì lượng còn lại này sẽ làm nốt công việc ngoài công việc của số chuyên tránh chống tội phạm. Đó là những khâu như tuyên truyền (trực tiếp, lồng ghép vào loại hình giải trí hay thông qua dịch vụ thông tin), rồi khâu tư vấn, Hành chính (đăng ký và theo dõi về mặt sổ sách), điệp báo (hay còn gọi là cài cắm, trinh sát các kiểu...), khâu vũ trang bạo lực (hạn chế dùng, chỉ dùng khi cần thiết ).

    Khâu điều tra thì của lực lượng chuyện trách chống tội phạm.

    Trong các khâu nói trên, ly kỳ nghệ thuật nhất là khâu điệp báo (cài cắm, trinh sát..), nó được tiến hành thường xuyên liên tục, tất cả mọi nơi được pháp luật cho phép (hay Tổng thống ký sắc lệnh), kể cả đối với những người không hề có dấu hiệu phạm tội cho đến có dấu hiệu phạm tội, những việc không hề có dấu hiệu tội phạm hay có dấu hiệu tội phạm. Nghĩa là, chỉ cần đánh giá được ở môi trường nào, với những điều kiện gì làm cho con người ta có thể (có thể thôi) vì đó mà dẫn đến phạm pháp hay bị lợi dụng phạm pháp thì đều bị "cài cắm, trinh sát" cả.

    "Cài cắm" thường được làm bởi ba dạng, thứ nhất là những người được cho là tốt, hoặc không tốt không xấu, có quan hệ ít nhiều với "mục tiêu", tiếp cận "mục tiêu", có thể hàng năm trời. Dạng hai là những người là "phe của đối tượng", thân cận và đáng tin của đối tượng. Và dạng ba là trực tiếp các nhân viên An ninh, Cảnh sát ngụy trang.

    "Trinh sát" bao hàm nghĩa cài cắm, nhưng không đồng nghĩa chỉ đơn thuần là theo dõi, hay công nghệ thông tin, do thám, mà có khi lại chính là một khâu quan trọng vừa hư vừa thực, là một công đoạn quan trọng "đóng kịch" trong toàn bộ công đoạn của người hay nhóm, tổ chức đang bị An ninh, Cảnh sát theo dõi; "công đoạn đóng kịch" có thể chỉ để moi tin, hay ngăn ngừa tội phạm xảy ra, hay thậm chí chính nó xúi dục tội phạm bộc lộ hành vi phạm pháp ra mặc dù ý định có thể chưa muốn, nhằm thuận đường cho thu thập chứng cứ buộc tội.

    Hầu hết các nước trên thế giới, không như Cảnh sát mỗi khi bắt thường "trưng" chứng cứ hết ra viện Công tố (hay Viện kiểm sát) nhằm lấy thành tích buộc tội nghi phạm, đối với lực lượng bảo vệ An ninh quốc gia của mỗi nước thì ngược lại, chứng cứ luôn dè sẻn, chỉ "trưng" ra đủ để khởi tố, đề nghị truy tố, xét xử về một tội danh nào đó gọi là có.

    Nếu nghị phạm tội danh An ninh quốc gia là công dân nước khác, thì việc có "trưng" tiếp chứng cứ ra nữa hay không còn tuỳ thuộc qua kênh ngoại giao giữa hai nước (nước bắt và nước có công dân bị bắt, như vụ Võ Đại Tôn về Việt Nam, cuối thế kỷ trước).

    Nếu nghi phạm là công dân của quốc gia bắt, thì cũng không cần phải "trưng" hết chứng cứ ra, vì liên quan nhiều chuyện, chẳng hạn thái độ của các nước là đối tác kinh tế, đối tác về chính trị, hoặc một mặt để còn "dục cầm cố túng" (muốn bắt phải thả) ai đó, hay cũng có thể để thành khẩn hối cải, bằng không sẽ cứng rắn.

    Điều đó lý giải tại sao các vụ về An ninh quốc gia ở Việt Nam năm ngoái, khi bị bắt chỉ với nghi can tội danh "tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam", nhưng sau lại bị khởi tố về tội "Tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân". Không phải bởi "bị tra tấn nên khai" (quan niệm này ngây thơ chính trị), mà do lý do nêu trên.

    Vậy nên, khi ai đó bị bắt vì nghi phạm thuộc lĩnh vực quy định trong luật hiện hành là An ninh Quốc gia, nên thẩm quyền khởi tố, điều tra là của cơ quan An ninh điều tra. Và như đã nêu ở trên, thì không chỉ là việc của riêng Cơ quan điều tra, mà thực chất là việc của nhiều cơ quan, bộ phận khác nữa trước đó rât lâu đã tiến hành đồng bộ rồi; khâu bắt nghi phạm, khởi tố, điều tra chỉ là một công đoạn rất hẹp so với toàn bộ quy mô khối lượng công việc của Cảnh sát, An ninh.

    Do đó, trong các vụ luật sư bào chữa cho thân chủ mà Viện kiểm sát buộc tội danh về An ninh Quốc gia ở Việt Nam thường không mấy hiệu quả, thì ngoài lý do vai trò vị trí của Luật sư trong Tố tụng ở Việt Nam còn chưa cao do hạn chế của nền tư pháp chưa tiến bộ, về mặt bằng chung trình độ của Luật sư trong nước, nói đa số là như thế, thì còn một lý do nữa là sự củng cố vững chắc về chứng cứ (đã đưa ra trước công luận hay chưa đưa ra) của hệ thống đồ sộ và hiệu quả của cơ quan phòng chống tội phạm đã tiến hành liên tục từ rất lâu, đồng bộ nhịp nhàng các biện pháp công tác đặc biệt thu thập chứng cứ, kích động đối tượng bọc lộ hành vi phạm pháp được luật pháp cho phép đối với Cảnh sát, An ninh (ở các nước Tam quyền phân lập thì phần lớn Tổng thống công khai biện pháp ra Nghị viện).

    Trong quá trình điều tra, nếu tuỳ theo đó thái độ hợp tác hay thiếu hợp tác của nghi phạm, hay ý đồ "dùng người" của cơ quan Cảnh sát, An ninh, hay ý đồ Chính trị, ngoại giao của Chính quyền, mà sẽ "trưng" ra chứng cứ nhiều hay ít.

    Bởi vấn đề An ninh nó là như vậy, nên nếu là thiết chế Tam quyền phân lập, thì khâu "điệp báo" người ta không giao cho Cảnh sát nhiều, mà lập một cơ quan Tình báo riêng biệt không có quyền như Cảnh sát (bắt và vũ trang công khai) để hạn chế "lạm quyền". Còn các nước theo hệ thống Xã hội Chủ nghĩa trước đây thì cả An ninh lẫn Cảnh sát đều được sử dụng các "biện pháp công tác cá biệt" trong việc nắm tình hình, thu thập thông tin, chứng cứ, kích động bộc lộ ý đồ, bắt người v.v....

    Về vấn đề khiếu nại Hành chính, khiếu kiện Dân sự, Hình sự liên quan đến nghi phạm, cần phải hiểu là vai trò của Luật gia, Luật sư, bào chữa viên nhân dân v.v... thì trình độ nghiên cứu khoa học pháp lý hoàn toàn không đồng nghĩa với trình độ Điều tra tội phạm hiểu theo toàn bộ quy trình như đã trình bày, nên việc trợ giúp pháp lý cho thân chủ trong vị án hay các vụ việc nảy sinh thường ở thế yếu hơn.

    Nếu Việt Nam mà có nghề Thám tử được Luật cho phép và hoạt động rộng rãi, thì cho dù thế mạnh luôn về phía cơ quan Công quyền, song giới Luật sư cũng gỡ gạc được phần nào.

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    1 phản hồi

    Có điểm tôi không đồng ý với tác giả: Những vụ án xâm phạm an ninh quốc gia ở Việt Nam, bị cáo và luật sư thường thua thiệt không phải vì cơ quan an ninh thu thập được nhiều chứng cứ; mà vì họ không có quyền biện hộ theo đúng nghĩa của quyền này, và quan tòa có thái độ đứng về phía Viện Kiểm Sát rất rõ ràng. Tôi đồng ý với nhận xét của LS Trần Đình Triển: "Tôi sẽ thua... Còn trường hợp của ah Hà Vũ, phiên tòa xử kín, thì lời bào chữa của tôi hay nghìn lần thì cũng chỉ trong 4 bức tường thôi." Khi người ta nắm trong tay tất cả hệ thống chính trị, từ tư pháp, lập pháp đến hành pháp, kèm theo cả báo chí; thì cũng chả cần những chứng cứ thuyết phục để buộc tội một con người.