Trung Quốc tiến thoái lưỡng nan (2)

  • Bởi Admin
    09/11/2010
    1 phản hồi

    George J. Gilboy và Eric Heginbotham<br />
    Mai Việt Tú chuyển ngữ

    Xã hội Trung Quốc đã thay đổi, và nhà nước đảng trị Trung Quốc cũng thay đổi. Để còn tiếp tục nắm quyền, Đảng Cộng Sản Trung Quốc đã phải biết thích ứng hơn, và họ đã thực thi một số cải cách ấn tượng. Những cải cách này bao gồm cải cách trong nội bộ đảng, cũng như là hệ thống pháp luật và hành chính quản trị. Những thay đổi ấy chưa đủ để đưa Trung Quốc vào con đường dân chủ theo kiểu Tây phương, nhưng nó thể hiện một cuộc chơi mặc cả giữa nhà nước và xã hội: một xã hội với giới hạn lớn hơn trong việc sử dụng quyền lực tùy tiện của nhà nước, tự do cá nhân nhiều hơn, và gia tăng không gian cho những tác động xã hôi.

    Từ năm 1999, khi lãnh đạo Trung Quốc thay đổi hiến pháp cho phép bảo vệ tài sản cá nhân và cho phép những nhà tư bản tham gia vào Đảng Cộng Sản Trung Quốc, Đảng Cộng Sản Trung Quốc đã bắt đầu một chương trình cải tổ chính trị nội bộ. Họ đã củng cố thêm quá trình ra quyết định của tập thể, đặt nền tảng cho sự cân bằng quyền lợi phe phái, xây dựng luật lệ cho sự lựa chọn những người lãnh đạo kế vị trong đảng, và cải thiện hệ thống thăng quan tiến chức để năng lực được xét đến bên cạnh yếu tố chính trị. Mặc dù Đảng Cộng Sản Trung Quốc cấm những phê bình từ ngoài đảng, nó lại cho phép đảng viên tranh luận về tương lai chính trị một cách cởi mở, đặc biệt là trong Trường Đảng Trung Ương nơi huấn luyện những lãnh đạo tương lai.

    Trong quá trình cải tổ trong đảng, các quan chức Đảng Cộng Sản Trung Quốc đã phải chú trọng hơn đến việc thu thập sự ủng hộ trong nội bộ đảng và từ ngoài xã hội, nếu muốn tiếp tục nắm quyền. Tranh đua tìm kiếm ủng hộ rộng rãi hơn đã khuyến khích một số cán bộ chấp nhận qui định thử nghiệm cải tổ chính trị tại địa phương, nhưng những cải tổ làm gia tăng sự cạnh tranh và sự công khai cũng mang theo những rủi ro. Những cá nhân tìm cách dành được sự tán thành chính trị và xã hội (và tranh cãi sự khác biệt thực sự về chính sách) có thể gây mất đoàn kết trong Đảng Cộng Sản Trung Quốc. Hậu quả như thế có thể dẫn đến tự do hóa rộng rãi hơn, những cũng có thể dẫn đến xung đột. Hơn nữa, nhu cầu cạnh tranh có thể làm một số lãnh đạo dè dặt hơn để phấn đấu vào những vị trí có khuynh hướng cải tổ chính trị.

    Từ năm 2001, Trung Quốc cũng đã cải tổ sâu rộng hệ thống pháp luật, nâng cấp luật thương mại, bảo vệ tài sản tư nhân, bảo vệ quyền công dân, nâng cao nghiệp vụ của hệ thống tòa án. Khoảng 20.000 người ra trường cử nhân luật mỗi năm, Trung Quốc hiện tại có khoảng 170.000 luật sư, hơn 13.000 văn phòng luật, hàng ngàn giáo sư luật, và mấy chục ngàn những người làm việc về ngành luật pháp. Rất nhiều người thuộc nhóm này ủng hộ phong trào bảo vệ các quyền con người đang phát triển ngày càng lớn.

    Tác động đầy đủ của những cải tổ hiến pháp và luật pháp có thể mất nhiều năm để thấy được. Từ những năm đầu của thập niên 2000, những người dân sống ở thành thị đã sử dụng những quyền được xác định trong Bộ Luật Xây Dựng 1994 để tham gia quản lý khu vực họ sống. Năm 2008, một số công dân đã xử dụng Bộ Luật Dân Cử 2000 để kiến nghị lên Quốc Hội cứu xét lại chính sách thu thuế của Bộ Tài Chánh. Những cải tổ khác đã tạo ra nhiều kết quả hơn trông thấy ngay: năm 2010, tòa án Trung Quốc thấy gần 400.000 ca mới về khiếu kiện bất bình lao động trong nước (khoảng gấp hai lần rưỡi so với tổng số cho năm 2007), nhờ có Bộ Luật Lao Động 2008.

    Mặc dù có những tiến bộ, những cải tổ luật pháp non nớt của Trung Quốc vẫn đi kèm với các trường hợp quan chức lạm quyền, bao gồm cả việc hình sự hóa những vụ bày tỏ chính kiến chính trị ôn hòa. Trong những năm gần đây, chẳng hạn, Trung Quốc đã cầm tù một số nhà trí thức và hoạt động chính trị nổi tiếng vì những tội chính trị -- bao gồm luật sư Chen Guancheng, nhà hoạt động nhân quyền Hu Jia, và luật sư Gao Shisheng. Bắc Kinh đã cầm tù nhiều người khác, kể cả nhà địa chất người Mỹ Xue Feng, về tội phá hoại “bí mật quốc gia”.

    Các cải tổ hành chính và quản trị gần đây đã cải thiện nền hành chính ở Trung Quốc, và những khảo sát doanh nghiệp trong và ngoài nước như chỉ số Global Competitiveness Report (đo mức độ cạnh tranh của các nền kinh tế trên thế giới) của World Economic Forum năm 2010-2011 đã khẳng định điều này. Nhưng cho dù các cuộc thực nghiệm cho phép thôn xã bầu người lãnh đạo phần nào đã cải thiện được mức độ giám sát và nâng cao trách nhiệm của cấp cơ sở, Đảng Cộng Sản Trung Quốc vẫn từ chối đem các thử nghiệm này áp dụng vào cấp tỉnh thành và quốc gia. Tương tự, các thử nghiệm với sự tham gia của công chúng vào các quyết định chính trị ở cấp tỉnh thành, ví dụ duyệt chi ngân sách, cũng bị giới hạn.

    Những thay đổi nói trên sẽ đưa Trung Quốc đi đến đâu? Một số người ở Trung Quốc (và ngay cả ở phương Tây) tin rằng Trung Quốc không cần tiếp tục cải tổ. Bắc Kinh, nói cho cùng, đã duy trì được sự phát triển kinh tế và ổn định xã hội cơ bản. Nhưng một số lãnh đạo Trung Quốc trông thấy những nguy cơ nếu duy trì tình trạng hiện tại, mà diễn văn của ông Ôn Gia Bảo tháng Tám năm 2010 là một bằng chứng. Nhiều con đường có thể dẫn Trung Quốc hướng về một tương lai chính trị tự do hơn, nhưng không con đường nào giúp họ chuyển tiếp nhanh và không đau đớn đến với nền dân chủ kiểu phương Tây. Đài Loan cũng có một văn hóa chính trị kiểu Trung Quốc và cung cấp một thí dụ tích cực làm sao chuyển từ một nhà nước độc đảng Lê-nin-nít sang một hệ thống dân chủ hơn. Những con đường khác có thể bao gồm những cải tổ theo sau một cuộc đảo chính mềm, tương tự như những trường hợp thấy tại Nam Tư, Nga hay Mexico.

    Lãnh đạo Trung Quốc cuối cùng có thể quyết định rằng cải tổ hệ thống quá rủi ro và có thể không muốn đi bước kế tiếp – hợp thức hóa những tổ chức xã hội độc lập, tăng cường sự cách biệt giữa đảng và nhà nước, và mở cửa hệ thống chính trị hơn nữa để đón nhận phê bình và giám sát từ xã hội. Tuy nhiên, chúng ta có thể chắc chắn rằng, những cải cách từng bước nhỏ sẽ được tiếp tục, trong khi Đảng Cộng Sản Trung Quốc tìm cách thoát khỏi tình trạng tiến thoái lưỡng nan xảy ra khi xã hội Trung Quốc phát triển. Những thay đổi từng bước nhỏ trong quá khứ đã chứng minh rằng những cải cách tự do hóa sẽ thành công trong tương lai, nếu chúng thực sự được thử nghiệm. Dĩ nhiên, mỗi thay đổi này cũng đem lại những nguy cơ cho Đảng Cộng Sản Trung Quốc, ví dụ như sự xuất hiện của một giai cấp trung lưu thành thị tích cực hoạt động chính trị hơn, hoặc khả năng chia tách đến từ nội bộ đảng.

    Ngay cả tự do hóa chính trị thành công đi chăng nữa, không ai có thể đảm bảo rằng Trung Quốc sẽ trở nên hòa bình hoặc chia sẻ nhiều lợi ích với Hoa Kỳ hơn. Trên thực tế, mặt trái của gia tăng tự do và cởi mở đã được phơi bầy. Một số tướng lãnh đang dùng báo chí để chất vấn chính sách ngoại giao của Bắc Kinh và lôi kéo công chúng ủng hộ cho quân đội. Nhiều giới trẻ có học thức, sử dụng thông thạo mạng thông tin, lại ủng hộ một thứ chủ nghĩa dân tộc bài ngoại tại Trung Quốc. Và công chúng Trung Quốc (có lẽ được ủng hộ ngầm của chính quyền) đang những xung đột giữa Trung Quốc với các nước láng giềng trở nên tệ hơn, như trong vụ tranh cãi với Nhật Bản tại biển Đông Trung Hoa. Dù sao, việc Trung Quốc tiếp tục theo đuổi con đường tự do hóa vẫn nằm trong lợi ích của Hoa Kỳ -- và không chỉ vì đó là một thành tựu đáng kể của loài người. Một Trung Quốc cải tổ chính trị sẽ là một thí dụ mang tính khuyến khích cho những quốc gia khác tại Á Châu và rộng hơn. Nếu được củng cố vững chắc, một chế độ Trung Quốc tự do sẽ thịnh vượng và ổn định, và hệ thống chính trị có thể tốt hơn trong việc điều chỉnh những lỗi lầm trong chính sách ngoại giao nếu có xảy ra.

    Khi chúng tôi viết vào năm 2001, các quan chức Hoa Kỳ lúc đó đã gọi Trung Quốc là một “kẻ cạnh tranh chiến lược”. Chúng tôi lập luận rằng, ở vị thế của một cường quốc lớn mạnh hơn, Hoa Kỳ có lựa chọn để không dùng những lời lẽ không hay như thế và tránh sự cạnh tranh an ninh thái quá với Trung Quốc. Tuy nhiên, một thập niên sau, sự lựa chọn để tránh né đối đầu giữa các cường quốc không còn đơn độc nằm trong tay của Hoa Thịnh Đốn. Với sự lớn mạnh tương đối về quân sự và kinh tế, Bắc Kinh bây giờ mang trách nhiệm tương đương [với Hoa Kỳ] trong việc tránh xung đột. Sự gia tăng quân sự của Trung Quốc tại eo biển Đài Loan, sự phát triển các tên lửa chống tàu sân bay và hệ thống tàu ngầm mới của Trung Quốc, những đòi hỏi mở rộng chủ quyền biển đảo tại khu vực biển Đông và Nam Trung Hoa, cách diễn giải khái quát của họ về quyền của Trung Quốc trong những vùng kinh tế đặc quyền mang tính khiêu khích và ngày càng gia tăng kể từ 2001.

    Do đó, Hoa Kỳ sẽ phải dành một thế cân bằng khó khăn hơn. Hoa Thịnh Đốn nên tiếp tục xây dựng khả năng an ninh (quân sự) của họ tại Á Châu nhưng cũng tìm kiếm (giải pháp) để tránh né những khiêu khích không cần thiết, kiềm hãm sự phô trương đối với Trung Quốc, theo đuổi sự liên lạc thẳng giữa quân sự đôi bên, Hoa Kỳ nên bền bỉ tìm kiếm giải pháp chung cho những vấn đề như là năng lượng, tài chánh và thương mại toàn cầu, và an ninh khu vực trong khi ấy tiếp tục đảm bảo với Bắc Kinh rằng là Hoa Kỳ không chống đối sự tăng trưởng của một Trung Quốc hòa bình. Nếu Trung Quốc không hiểu rằng mình cũng có trách nhiệm giữ kiềm chế, thì Hoa Kỳ cũng phải cứng rắn đáp lại bất kỳ hành động cố chấp nào của Trung Quốc. Nếu không làm được thế là sẽ khuyến khích chủ nghĩa phiêu lưu trong chính sách ngoại giao của Trung Quốc, mà sẽ làm Trung Quốc sao lãng thách thức thật sự của quốc gia này: Đó là cải cách chính trị nội tại.

    Chủ đề: Thế giới

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    1 phản hồi

    Chiến tranh thế giới thứ 3 :

     Lịch sử đứng đầu thế giới của Mỹ 130 năm qua :

    là chặn đường đấu tranh tiêu diệt các đối thủ hạng nhì của thế giới , những quốc gia giàu mạnh đứng nhì thế giới mà muốn dành vị trí đứng nhất của Mỹ đều bị Mỹ đánh cho suy yếu ,vỡ ra từng mảnh.
    1) Từ năm 1880 GDP Mỹ vượt qua Anh ,và đứng nhất thế giới .
    Đến 2010 Mỹ đứng nhất đã được 130 năm .
    2) 1918 chiến tranh thế giới thứ I nổ ra : (tiêu nước Anh đang hạng nhì thế giới)
    Mỹ xúi Đức (Đức hạng tư thế giới) và Áo đánh Anh và Pháp ,gây nên chiến tranh thế giới thứ nhất I . Sau chiến tranh thế giới thứ I , Anh suy yếu , Nước Nga ngôi lên đứng nhì thế giới .
    3) 1939 chiến tranh thế giới thứ II nổ ra : (tiêu nước Nga đang hạng nhì thế giới)
    Mỹ xúi Đức đánh Nga , gây nên chiến tranh thế giới thứ II . Sau chiến tranh thế giới thứ II , Nga suy yếu , Nước Trung Quốc ngôi lên đứng nhì thế giới dưới sự lãnh đạo của Tưởng Giới Thạch đi theo con đường Tư Bản Chủ Nghĩa.
    4) thập niên 1950 cộng sản hóa Trung Quốc : (tiêu nước Trung Quốc đang hạng nhì thế giới).
    Mỹ đưa bom nguyên tử cho Mao Trạch Đông , giúp Mao đánh bại Tưởng Giới Thạch , cộng sản hóa toàn nước Trung Quốc , gây nên 1 Trung Quốc kiệt quệ về kinh tế . Trung Quốc cộng sản suy yếu . Liên Xô gượng dậy sau thế chiến , ngôi lên đứng nhì thế giới .
    5) 1991 Mỹ đánh Liên Xô vỡ ra từng mảnh: (tiêu nước Liên Xô đang hạng nhì thế giới)
    Lần đầu tiên Mỹ diệt 1 quốc gia hạng nhì , mà không cần dùng đến hành động quân sự ( như Tổng Thống Kennedy tuyên bố : muốn diệt Cộng Sản ,không cần tốn 1 viên đạn ). Mỹ dùng chiến tranh kinh tế để tiêu diệt Liên Xô vỡ ra từng mảnh . Nước Trung Quốc ngôi lên đứng nhì thế giới .

    6) 2010 đến 2020 Mỹ đánh Trung Quốc vỡ ra từng mảnh: (tiêu nước Trung Quốc đang hạng nhì thế giới).

    **********************

    Tại sao Mỹ phải đánh Trung Quốc vỡ ra từng mảnh trong 10 năm tới ?

    Theo các nhà phân tích : năm 2020 nếu Trung Quốc vẫn duy trì được đà phát triển như hiện nay ,GDP Trung Quốc sẽ vượt qua Mỹ ,và đứng nhất thế giới .
    Nếu Mỹ không đánh gục Trung Quốc trước năm 2020 ,thì Mỹ sẽ xuống vị trí thứ hai , Mỹ sẽ chịu kiếp Quốc Gia hạng hai ,như các bạn đã thấy kiếp quốc gia hạng hai như Trung Quốc ,Liên Xô ,…. Chẳng nước nào coi trọng , nói chẳng ai nghe , đồng tiền chẳng ai thèm xài , dân nghèo ,nước lạc hậu , …Vì bị nước hạng nhất (Mỹ) dùng sức mạnh kinh tế ,quân sự ,chính trị vượt trội :quật qua ,quật lại , nắm đầu quay như con dế như sau:
    • Dùng sức mạnh đồng USD: chuyển USD vào nhiều thì hình thành bong bóng tài sản ,đợi giá thật cao bán sạch , rút USD ra thật nhanh làm bể bong bóng ,gây khủng hoảng kinh tế .( khủng hoảng kinh tế thế giới 2008 – thị trường chứng khoán Trung Quốc và Nga giảm giá trị 4 lần , 4 đồng còn 1 đồng) .
    • 8-2008 Mỹ ra lệnh cho Georgia đánh 2 vùng li khai , cho Nga tham chiến , để Nga không được Georgia ủng hộ vào WTO . Nga đứng trước tương lai chậm được vào WTO trong nhiều năm ,làm các nhà đầu tư rút vốn khỏi nước Nga , Stock Nga rớt 4 lần .

    Nếu Mỹ đánh vỡ được Trung Quốc ra từng mảnh ,thì Mỹ sẽ giữ được vị trí quốc gia hạng nhất cả 100 năm nữa . Vì không còn nước nào dành vị trí nhất thế giới với Mỹ:

     Trung Quốc bị nội loạn vỡ ra, Tây Tạng và 1 vài tỉnh tách ra ,làm cho diện tích Trung Quốc chỉ còn 1/2 của Mỹ , Mỹ sẽ kềm kẹp Trung quốc giống như kềm kẹp kinh tế Nga bây giờ ,không cho phát triển .
     Quốc gia hạng ba là Ấn Độ có dân số gấp 3 lần Mỹ ,nhưng có diện tích 1/2 của Mỹ ,và là xứ nhiệt đới nóng bức không thuận lợi cho những người sử dụng trí não nhiều ,nên sẽ thiếu nhân tài để phát triển quốc gia . Nên cả 100 năm nữa Ấn Độ mới đe dọa vị trí đứng nhất của Mỹ.
     Còn Nga thì diện tích lớn hơn Mỹ 1 ít mà không hữu dụng ,quanh năm tuyết phủ . Dân số phân nửa Mỹ . Nên không bao giờ qua mặt Mỹ được .
     Brazil thì còn thua Ấn Độ nữa ….

    Nếu Mỹ đánh vỡ Trung Quốc ,Mỹ được 100 năm vinh quang, hoặc mãi mãi đứng nhất thế giới nữa .
    Nếu Mỹ không đánh Trung Quốc ,Mỹ chỉ còn 10 năm vinh quang . Sau đó như Anh, Pháp bây giờ ,phải ôm chân Mỹ cùng hưởng giàu sang . Chống Mỹ thì nghèo đói như Nga ,Trung Quốc . Nghĩa là Mỹ phải ôm chân quốc gia đứng nhất là Trung Quốc , Trung Quốc nói gì cũng phải nghe .

    Vậy chỉ còn con đường duy nhất là Mỹ phải đánh Trung quốc trong 10 năm tới .

    ***************

    Trước tiên Mỹ đánh Trung Quốc bằng chiến tranh kinh tế và bằng chính trị (giống như đánh vỡ Liên Xô năm 1991) như sau :

    • Mỹ tố Trung Quốc là "nước thao túng tiền tệ" , tạo cớ để Mỹ đánh thuế nhập khẩu lên hàng Trung Quốc 30 % chỉ trong 6 tháng. Tất cả các hãng Trung Quốc sẽ phá sản ,vì nền sản xuất Trung Quốc tồn tại chính yếu dựa vào thị trường tiêu thụ Mỹ . Không bán được hàng ,tất cả các hãng Trung Quốc sẽ phá sản . Còn Mỹ mua hàng các nước khác mắc hơn 10 % không sao cả.
    • Mỹ tố Trung Quốc giữ giá trị đồng tiền thấp ,để tạo ra phong trào trên toàn cầu áp thuế chống bán phá giá lên hàng Trung Quốc , để hàng Trung Quốc khó tiêu thụ trên toàn thế giới .
    • Áp thuế phá giá 30 % lên từng ngành hàng của Trung Quốc thay phiên nhau,gây phá sản lần lượt từng ngành sản xuất của Trung Quốc.
    • Nếu Trung Quốc nghe lời Mỹ tăng giá trị đồng tiền so với USD, thì Mỹ sẽ nâng giá đồng USD vừa đủ cho kinh tế Mỹ phát triển ổn định ,còn đồng tiền Trung Quốc tăng giá vượt qua tốc độ tăng của USD sẽ ngăn cản sự tăng trưởng của kinh tế Trung Quốc ,kinh tế Trung Quốc sẽ đi xuống ,các nhà đầu tư sẽ rút ra khỏi Trung Quốc , Trung Quốc sẽ gặp khủng hoảng .( Như khủng hoảng kinh tế Trung Quốc năm 2008, Stock Trung Quốc xuống 4 lần)
    • Còn nếu Trung Quốc hạ giá đồng tiền so với USD . Các nhà đầu tư Mỹ sẽ rút đầu tư ra khỏi Trung Quốc ,vì đầu tư vào nơi có đồng tiền xuống giá sẽ lỗ , gây khủng hoảng kinh tế Trung Quốc .
    • Mỹ đánh Iran ,mượn cớ chiến tranh cản đường vận chuyển dầu đến Trung Quốc trong 6 tháng , nền kinh tế Trung Quốc sẽ phá sản vì không có dầu để sản xuất ,để công nhân di chuyển đến sở làm , hãng xưởng sẽ phá sản hàng loạt .
    • Ra lệnh cho các nước có mâu thuẫn biên giới với Trung Quốc,kiếm chuyện cho Trung Quốc tấn công (giống như Nga tấn công Georgia) . Mỹ tố Trung Quốc chiếm nước khác bất hợp pháp ,tuyên bố cấm vận Trung Quốc , kinh tế Trung Quốc tan hoang.
    • V…v……….

    **************************

    Chiến tranh thế giới thứ 3 :

    Nếu đánh bằng kinh tế mà Trung Quốc chưa vỡ ,thì bắt buộc Mỹ phải đánh bằng nước cờ cuối cùng ,đánh bằng quân sự :

    Mỹ đánh Irắc để có nguồn cung cấp dầu bảo đảm, trong lúc chiến sự xảy ra giữa Mỹ với Trung Quốc . Mỹ đánh Afghanistan để đưa quân Mỹ sát biên giới Trung Quốc . Mỹ bán và dàn trận các tên lửa chống hỏa tiễn SM3 khắp Trung Đông, để bảo vệ các mỏ dầu chống hỏa tiễn Trung Quốc , bảo đảm nguồn cung cấp dầu. Bán hỏa tiễn SM3 cho các nước có biên giới giáp Trung Quốc , kể cả Việt Nam nếu chịu đứng chung chiến tuyến với Mỹ đánh Trung Quốc . Mỹ thuê căn cứ Manas ở Kyrgyzstan giáp biên giới phía Tây của Trung Quốc. Mỹ đặt căn cứ quân sự trên đảo của Tây Ban Nha gần Venezuela ,nhầm cản Venezuela vận chuyển dầu cứu Trung Quốc . Mỹ triễn khai máy bay 747 trang bị vũ khí Laser ,bắn hạ các hỏa tiễn nguyên tử của Trung Quốc bắn lên.
    Mỹ sẽ ra lệnh cho các quốc gia đệ tử Mỹ , xung quanh Trung Quốc ,khiêu khích cho Trung Quốc ra tay, ví dụ như :

    Đài Loan bắn chìm 1 chiếc tàu của Trung Quốc .Việt Nam tấn chiếm lại Hoàng Sa Trường Sa. Nhật đánh chiếm mỏ dầu của Trung Quốc trong vùng biển tranh chấp. Ấn Độ đánh Trung Quốc trên biên giới Ấn Hoa tố Trung Quốc xâm phạm biên giới. Tạo điều kiện cho Bắc Hàn bắn chìm 1 tàu chiến Mỹ , Mỹ đánh chiếm Bắc Hàn ,Trung Quốc tham chiến. v.v….… Mỹ mượn cớ đó cùng với các nước đánh Trung Quốc tứ phía. Kể cả đánh bằng nguyên tử.

     Phía Đông Bắc có Nhật , Nam Triều Tiên .
     Phía Đông có Đài Loan.
     Phía Đông Nam có Philipines , Thái lan ,có thể có Việt Nam vì Việt Nam cần chiếm lại Hoàng Sa ,Trường Sa . Mỹ đang ve vãng Việt Nam và Miến Điện .
     Phía Nam có Ấn Độ .
     Phía Tây có quân đội Mỹ và NATO ở Afghanistan. Trung Quốc bắn vào quân Mỹ ở Afghanistan sẽ trúng quân NATO , Các nước NATO cùng nhau tấn công Trung Quốc .

    Kết quả nước Trung Quốc tan hoang ,vỡ ra từng mảnh vụng , mỗi nước chiếm 1 miếng , Việt Nam chiếm 1 miếng , Nhật chiếm 1 miếng , Ấn Độ chiếm 1 miếng , Tây tạng độc lập , hình thành nhiều quốc gia theo sau sự mâu thuẫn giữa các tôn giáo , các dân tộc thiểu số với Cộng Sản như : quốc gia Hồi Giáo , quốc gia Thiên Chúa Giáo , các quốc gia của các dân tộc thiểu số : Duy Ngô Nhỉ, Quảng Đông ,Tiều ,Quang Thoại,.…
    Nam Hàn thống nhất Nam Bắc Hàn.
    Việt Nam sẽ giống như các nước Đông Âu : Ba Lan , Rumani,… .sau 1991.
    Giải phóng Iran ,Venezuela, Cuba , Việt Nam , Bắc Hàn , Miến Điện ,… sẽ được bầu cử tự do giống như Irac ,có sự kiểm tra của Liên Hiệp Quốc .

    Tất cả các quốc gia trên thế giới đều nằm trong lòng bàn tay của Mỹ , Mỹ muốn nước đó sống thì sống ,mà muốn chết thì chết .

    Hy vọng rằng sẽ không có thế chiến thứ III , mà Trung Quốc vẫn vỡ ra , đó là ước mong lớn nhất của những nhà lãnh đạo Mỹ .

    *******************************************

    Tại sao có cuộc chiến tranh Việt Nam?

    Trong cuộc chiến Việt Nam , Mỹ là người chiến thắng .

    Vì mục đích của việc Mỹ đổ quân vào Việt Nam là nhằm ngăn cản Trung Quốc thực hiện chủ nghĩa Đại Hán, chiếm Đông Nam Á sáp nhập vào Trung Quốc ,đưa Trung Quốc thành quốc qia đứng nhất thế giới , Trung Quốc sẽ dành chức Đế Quốc của Mỹ .

    Sau khi Mỹ âm thầm giao Việt Nam cho Liên Xô (Việt Nam muốn đánh với Mỹ phải cần vũ khí Liên Xô ,nên Việt Nam sẽ dựa hẳn vào Liên Xô ) . Mỹ an tâm là Trung Quốc không thể chiếm Đông Nam Á sáp nhập vào Trung Quốc . Trung Quốc muốn chiếm Đông Nam Á thì phải chiếm Việt Nam trước đã ,phải đánh nhau với Liên Xô ( Trung Quốc đánh với Liên Xô trên chiến trường Việt Nam năm 1979).

    Liên Xô đóng quân ở Cam Ranh-Việt Nam cùng với Mỹ đóng quân ở căn cứ Subic-Philippines ngăn cản Trung Quốc chiếm Đông Nam Á , thực hiện chủ nghĩa Đại Hán.

    Mục đích của Mỹ đã đạt nên Mỹ rút đi năm 1973 . chức Đế Quốc của Mỹ đứng nhất thế giới vẫn còn giữ được cho đến ngày nay .

    CLINTON DO - 25 February 2010