The Wall Streets Journal: Rủi ro đối với tăng trưởng của Việt Nam

  • Bởi Admin
    26/10/2010
    0 phản hồi

    DON PHAN<br />
    Người dịch: Phạm Hữu

    Lạm phát quá mức có thể khiến Đảng Cộng sản phải lui bước tự do hoá kinh tế.

    Việt Nam đôi khi có được lòng yêu mến của các nhà đầu tư quốc tế, và giờ đây, sự lãng mạn không thường xuyên ấy có vẻ trở lại lần nữa. Tuy nhiên, duy trì được điều đó sẽ là một vấn đề khác. Tất cả đều không tốt, khi nước này nếm trải tình trạng bong bóng tín dụng đang loang rộng và lạm phát ngày một gia tăng. Nó làm tăng nguy cơ, rằng tại Đại hội toàn quốc của Đảng Cộng sản diễn ra tháng 1, Hà Nội có thể phải rút lui khỏi những cải cách thị trường.

    “Câu chuyện” với các nhà đầu tư quốc tế bao gồm tốc độ tăng trưởng cao đi đôi với một con số người dân hoạt động kinh doanh. Đầu tư nước ngoài đổ vào các tiện ích, sản xuất và bất động sản với hy vọng phục vụ tầng lớp trung lưu đang phát triển của Việt Nam. Đầu tư trực tiếp nước ngoài trong năm nay là 12,2 tỉ USD khi nước này đang dần dần thu hút lại các nhà đầu tư mà họ để mất trong cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu.

    Tuy nhiên, câu chuyện tăng trưởng này đi kèm với những cảnh báo. Rõ ràng nhất là lạm phát. Ước tính tỉ giá hiện tại năm nay tăng lên gần 9% so với năm trước, sau khi tiêu dùng ở Việt Nam đã được phục hồi từ mức lạm phát tới 27% vào cuối năm 2008. Tại hai thành phố lớn nhất, Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, giá cả tăng tới 1% chỉ riêng trong tháng 9.

    Vấn đề cơ bản là Hà Nội đã cố gắng sử dụng tín dụng ngân hàng siêu rẻ để kích thích tăng trưởng, một chiến lược làm bùng nổ lạm phát. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã giữ các tỉ lệ lãi suất thực tế trong phạm vi âm bằng cách thiết lập tỉ lệ tái cấp vốn ở mức 8% và tỉ lệ chiết khấu là 6%. Trong khi đó, tín dụng mới lên tới 37% GDP năm 2007, 20% năm 2008 và 35% năm ngoái. Chính phủ đặt mục tiêu mở rộng tín dụng với tỉ lệ khác là 25% GDP năm nay trong nỗ lực kích thích tăng trưởng.

    Tự do hoá không đủ nhanh chóng để tạo ra lợi nhuận mới cho việc sử dụng tiền mặt. Thay vào đó, rất nhiều tiền đổ vào các doanh nghiệp nhà nước lớn và không hiệu quả. Các chủ doanh nghiệp nhỏ thường than phiền về việc không thể có được những khoản vay từ các ngân hàng thương mại Việt Nam. Ngân hàng thay vào đó đã mở rộng số lượng tín dụng cho những công ty như Vinashin, một tập đoàn đóng tàu gần phá sản và cũng là một trong những doanh nghiệp nhà nước lớn nhất của Việt Nam. Công ty này ước tính gánh một khoản nợ tới 4,7 tỉ USD và là một con nợ lớn nhất với rất nhiều ngân hàng Việt Nam.

    Một hậu quả của chính sách mở rộng tín dụng là toàn bộ dòng tiền mới không được cung cấp cho đầu tư sản xuất, mà thay vào đó là tạo ra mức lạm phát nhanh chóng. Hậu quả khác là các ngân hàng đã tự lâm vào tình trạng khấu hao cực lớn do hoá đơn tổng của Vinashin đáo hạn. Khi Fitch hạ mức đánh giá tỉ lệ tín dụng của Việt Nam xuống BB- từ B+ trong tháng 7, họ nhấn mạnh rằng, nếu các ngân hàng Việt Nam sử dụng các quy chuẩn kế toán quốc tế, tỉ lệ nợ xấu sẽ cao gấp 3-5 lần so với những gì được báo cáo theo quy chuẩn của Việt Nam. Văn phòng Thanh tra Chính phủ tuần trước đã phát hiện ra rằng, năm ngân hàng thương mại đã vi phạm các thủ tục bằng cách cấp các khoản vay ngắn hạn mà họ không nên có.

    Các vấn đề còn bị làm cho tồi tệ hơn, ở đây là nguy cơ rình rập của một cuộc khủng hoảng cán cân thanh toán. Tháng trước, Quỹ Tiền tệ Quốc tế thông báo, dự trữ ngoại tệ của Việt Nam trong nửa đầu năm nay đã giảm xuống chỉ còn bằng giá trị của bảy tuần xuất khẩu, thấp hơn mức ba tháng theo chỉ dẫn được đề nghị để tránh một cuộc khủng hoảng cán cân thanh toán.

    Một lượng lớn ngoại tệ từ giao dịch quốc tế và tiền chuyển từ nước ngoài đổ vào kinh tế Việt Nam, nhưng có một dòng tiền lớn và không nhận biết được không kết thúc trong hệ thống ngân hàng. Các chủ doanh nghiệp Việt Nam, những người tồn tại qua thời kỳ chiến tranh, đói khổ và siêu lạm phát, đã trở nên quen thuộc hơn với việc nắm giữ đô la và vàng hơn là tiền đồng bất ổn định. Không chắc là cảm tình với tiền đồng có đủ để thay đổi hành vi từ tích trữ đô la sang bán đô la cho các ngân hàng.

    Ngân hàng trung ương không phải không nhận thấy tất cả những nguy cơ này. Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Nguyễn Văn Giàu đã cố gắng kiềm chế lạm phát bằng cách thắt chặt chính sách tiền tệ. Trong tháng này, ông đã nâng tỷ lệ an toàn vốn lên 9% từ mức 8% trong một nỗ lực buộc các ngân hàng nắm giữ tiền mặt nhiều hơn trong các mảng cân đối của họ thay vì cho vay.

    Nhưng ở đây, những yếu tố chính trị đã bước vào cuộc chơi này, và đặc biệt là sự xô đẩy tìm kiếm vị trí trước kỳ Đại hội tháng 1. Các nhà quản lý điều hành các doanh nghiệp nhà nước lớn của Việt Nam liên quan tới chính trị nắm giữ ảnh hưởng đáng kể trong Quốc hội sắp tới, nên các quan chức đảng tham vọng đã phớt lờ nhu cầu tín dụng giá rẻ vào thời điểm nguy hiểm của chính họ. Kết quả là, không một quan chức chính phủ nào đặt ra yêu cầu nâng tỉ lệ vốn sớm hơn ông Giàu để ép ngân hàng trung ương đưa ra mức lãi suất cho vay thấp hơn nữa. Ông Giàu sẽ dường như không có toàn quyền hành động để chế ngự lạm phát cho tới sau tháng 1.

    Thay vào đó, các quan chức đảng dường như bắt đầu gia tăng quy kết cho tất cả những lo lắng không phải vì sự quản lý kinh tế yếu kém của họ, hay vì không thực hiện những cải cách sâu hơn, mà là vì chính những cải cách họ đã làm. Một dấu hiệu là chính phủ đã dùng đến các biện pháp kiểm soát giá kiểu cũ hơn là dựa trên cơ chế thị trường như điều chỉnh lãi suất để cố gắng kiểm soát lạm phát.

    Đó là kết quả tồi tệ nhất. Việt Nam cần cải tổ nhiều hơn theo định hướng thị trường, chứ không phải ít hơn, để tạo các kênh sản xuất đầu tư vốn dài hạn. Nó bao gồm việc tạo ra quy mô lớn hơn để các ngân hàng cho các công ty, doanh nghiệp nhỏ vay vốn. Nó cũng có nghĩa là tránh các biện pháp như kiểm soát giá cả làm cản trở các nhà đầu tư nước ngoài dài hạn, trong khi lại khuyến khích đầu cơ ngắn hạn – những người đặt cược vào động thái chính sách hơn là tăng trưởng dài hạn.

    Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã được coi là một nhà cải cách thị trường, nhưng ngày càng rõ ràng là người bảo thủ đến cùng các thói quen mệnh lệnh và kiểm soát. Các nhà đầu tư sẽ theo dõi sát sao Đại hội tháng 1 để xem liệu Hà Nội vẫn hiểu tự do hoá là con đường dẫn tới tăng trưởng hay Việt Nam sẽ trở lại những con đường cũ của mình.

    Ông Phan là một nhà nghiên cứu kinh tế tại New York.

    Người dịch: Phạm Hữu

    Chủ đề: Kinh tế

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    0 phản hồi