Hà Văn Thịnh - Tịch hiệp thiên hà tẩy chiến trần

  • Bởi Admin
    24/10/2010
    0 phản hồi

    Hà Văn Thịnh - Đại học Khoa học Huế

    Năm 1289, trong bài thơ tặng Lý Tư Diễn, sứ thần Nguyên Mông, Trần Nhân Tông (TNT) viết: Tịch hiệp thiên hà tẩy chiến trần. Kéo cả dải ngân hà về để rửa sạch mọi oán hờn, khổ đau và mâu thuẫn từ chiến tranh. Có lẽ, đây là câu thơ hay nhất, đúng nhất đối với “tâm trạng của một dân tộc” mà hàng ngàn năm qua, thời gian lầm than, tiến hành chiến chinh giữ nước bao giờ cũng dài lâu hơn phần lịch sử dựng nước.

    1. Câu chuyện đáng bàn thứ nhất là việc TNT tha hết những kẻ hàng giặc bằng cách cho đốt hết mọi lá thư đầu hàng để xoá bỏ nghi kị, lo sợ. Không ít ý kiến băn khoăn - kể cả người đang viết những dòng này, rằng làm như thế có khác gì tha hết cho mọi điều giả trá, làm sao phân định nổi đúng sai? Nói nhanh, cách làm của TNT đã xoá nhoà mọi sự trắng đen khiến cho người ngay phiền lòng, kẻ gian dối nhát hèn hí hửng!

    Uẩn khúc này suốt 700 năm qua luôn là một trong những đầu mối của thị phi, nhức nhối. Chúng ta đồng tình với vế thứ nhất của sự băn khoăn đó của lịch sử. Nhưng còn vế thứ hai, thứ ba liên quan đến chiến cuộc, thế thời, lòng người là điều nên hiểu và phân tích một cách kỹ càng.

    Ai cũng biết chiến tranh luôn là “kẻ tội đồ” khủng khiếp nhất của một dân tộc bởi nó đảo lộn mọi giá trị, nó có thể dìm chết cả một hệ thống hoặc phức thể nhân cách trong những phút giây yếu đuối, ngã lòng; thậm chí, nó có thể tàn hại nhiều cuộc đời một cách tàn nhẫn. Thêm nữa, TNT đã làm cái việc ít ai làm nên mong muốn đồng thuận là điều cực khó. Số người đã hành xử như TNT trong lịch sử chỉ đếm được trên đầu ngón tay. Xin đưa ra một dẫn chứng.

    Tháng 4.1863, trận chiến khủng khiếp ở Gettysburg trong cuộc nội chiến của Mỹ (1861-1865) đã làm chết 7.000 người của cả hai phe cách mạng và phản cách mạng. TT Abraham Lincohn đã làm điều chưa hề có tiền lệ trong lịch sử là ông cho chiêu tập thi hài của cả hai phe để xây dựng thành Nghĩa trang Quốc gia. Tháng 6.1863, A. Lincohn đã đọc bài diễn văn khánh thành nghĩa trang nổi tiếng: Chúng ta có mặt ở đây để đoan quyết rằng cái chết không bao giờ là vô ích; rằng dân tộc này, ơn Chúa, sẽ hồi sinh bởi tự do; rằng sẽ có một chính quyền của dân, do dân và vì dân sẽ tồn tại mãi mãi trên trái đất này.

    Xét về nghĩa tổng thể của lịch sử nhân loại, hành động của TT Mỹ chỉ là tiếp nối điều mà TNT đã làm, 600 năm sau! TT Mỹ đã tha thứ cho tất cả mọi lỗi lầm của những kẻ lầm lạc bởi ông biết đó là cách tốt nhất để xoá bỏ hận thù, hàn gắn những vết thương chiến tranh để cho nỗi đau của dân tộc mau lành, sự chia rẽ chóng được hàn gắn vì mục tiêu thống nhất, mạnh giàu. Quan niệm đó sẽ còn được Lincohn tiếp tục khi 20 vạn tù binh miền Nam đầu hàng đã được ông tha bổng và, không cho binh sĩ tổ chức ăn mừng chiến thắng bởi Những người bại trận là đồng bào của chúng ta đó. Tổng tư lệnh quân đội miền Bắc, tướng Ulysses S. Grant đã nói với binh lính như thế khi họ đòi phải nổ đại bác để ăn mừng(!)

    Cách nhau 600 năm sống, nửa vòng trái đất, tại sao TNT và TT Mỹ lại “tìm” được sự “đồng cảm” mà 5.000 năm lịch sử điêu tàn, vinh quang của nhân loại hầu như không còn có ai dám hành động tương tự? Phải chăng khi chúng ta phê phán, ta đã xem xét trái tim của các bậc vĩ nhân bằng cách nghĩ cạn nông và thiển cận của chính mình? Cả TNT và Lincohn đều biết rất rõ rằng không thể nào xoá tan được mây đen của hận thù nếu người chiến thắng cứ “sỉ nhục” kẻ chiến bại theo cách này hay cách khác. Trong tác phẩm nổi tiếng “Thằng Ngốc” của Đốt, nhân vật chính chỉ trở thành kẻ ngu ngốc khi cứ cố tình nhìn thấy sai lầm của người khác - một tiểu thư con nhà quyền quý làm đổ ly nước trà, vấy bẩn khăn bàn. Xem ra, dù là làm đổ một ly nước trà hay tội ác trong chiến tranh, cách nhìn của người thắng, người đúng là giống nhau: Có muốn nhìn thấy nữa hay không sai lầm khó tha thứ của kẻ ngu dốt, lầm lạc? Đó là chưa muốn nói rằng, trong cuộc đời, có thể tha thứ cho một sai lầm, nhưng không thể quên...

    2. Quan niệm vì cái chung, vì xã tắc, sơn hà; phải gác lại mọi tình riêng, bon chen lợi phàm ích kỷ là Tư tưởng xuyên suốt của TNT. Với cách quan niệm này, TNT đã “tịch hiệp thiên hà” ngay cả trong thời bình. Sau khi từ giã ngai vàng cao sang, về xem lại cuốn sổ phong quan của vua con Trần Anh Tông, TNT đã đau đớn và phẫn uất mà thét lên rằng Đất nước bé bằng bàn tay, quan nhiều như thế, dân làm sao sống nổi? Tiếng kêu ai oán phẫn bách đó, 700 năm có lẻ rồi, lịch sử vẫn còn đau.

    TNT biết không thể tịch hiệp một cách chung chung. Dân vi quý, quân vi khinh là điều người xưa đã dạy. Đất nước điêu linh, tương tàn, dân đen khổ lắm. Nếu các vị quan lớn, quan to và cả vua nữa không nhìn thấy hết lẽ đời khổ tận, vất vả thì làm sao có thể hoà đồng cùng dân? Xét từ góc độ của Hội nghị Diên Hồng thì cách mà vua con đã làm là đã chà đạp lên những giá trị đồng lòng mà TNT đã cam kết, thề nguyện với bô lão cả nước. Làm sao có thể thăng quan, tiến chức thật nhiều cho một tầng lớp đặc quyền với không ít kẻ ngu dốt trong khi dân vẫn còn bữa đói nhiều hơn bữa no? Thành quả từ chiến thắng, người dân phải có quyền hưởng chứ không thể là vinh quang, đặc quyền của bất cứ tầng lớp nào. Nếu như trong việc đốt thư hàng giặc, TNT đã “vi phạm nguyên tắc” của hiếu, của trung thì trong trường hợp thứ hai này, ông đã đề cao nó lên đến mức tận cùng. Nếu ta cho rằng quan niệm ấy thiếu nhất quán là đã thật sự sai lầm. Cả hai cách làm ấy tuy khác nhau nhưng đều vì một lẽ đương nhiên là nghĩ rộng, nghĩ sâu đến dân, đến nước. Tìm trong các thư tịch cổ, biện giải trên là hoàn toàn chính xác. Ngô Thì Sĩ chép rằng: Vua đi chơi... răn bảo những người ấy (vệ sỹ) không được quát mắng các gia nô. Tại sao một vị vua mà lại hiểu rất rõ rằng ngay cả vệ sỹ thôi, vẫn có thể hành dân đủ cách, đủ đường huống chi là quan? Nếu có răn đe quan lại thì cách răn đe của TNT là diệu tuyệt của lòng nhân. Không phải tự nhiên mà TNT lấy pháp danh là Điều Ngự Đầu Đà - người đời gọi là Điều Ngự Giác Hoàng (Người theo hạnh đầu đà điều hoà và chế ngự được tâm. Đầu Đà, tức Dhuta = rũ sạch: ba loại tham về áo quần, nơi ở, thức ăn). Điều Ngự hay Giác Hoàng là những tên gọi khác nhau của Phật. Mang tên ấy phải là người thường mặc quần áo bằng thứ vải người ta vất đi (phẩn tảo y); chỉ ăn cơm trong (một) bát của chính mình; ngủ trên đồng cỏ, không cần cả bóng cây, mỗi ngày ăn một bữa trước chính ngọ...

    3. Duyên nợ “Tịch hiệp” của TNT là cái duyên đau đáu của muôn đời. Ở đây ta lại gặp thêm một “mâu thuẫn” nữa khi biết TNT sau khi đã thành bậc đại sư, bôn ba hoành dương phật pháp ở phương Nam xa xôi nhưng lại còn “đóng” thêm vai... ông mai, ông mối(!) Cái lẽ thường tình buộc chúng ta dễ dàng đồng ý với nhau rằng đã xuất gia thì phải lánh tuyệt bụi trần, nhất là vướng luỵ (dẫu đó là chuyện của con gái mình) lửa dục, mà Đức Bodhidharma thường vẫn ngầm ngụ ý rằng nó “nóng nhất” trên thế gian này! Thế nhưng TNT chẳng hề sợ hãi, chẳng chút băn khoăn.

    Trước hết, ta thấy rằng TNT đã đạt đến độ thượng thừa như Thiền sư Tuệ Trung (tên thật là Trần Trung, con trưởng An Sinh Vương Trần Liễu, anh cả của Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn). Có lần, Hoàng Thái Hậu Nguyên Thánh Thiện Cảm, vợ vua Trần Thánh Tông, mẹ của Nhân Tông mời Tuệ Trung dự tiệc có cả chay và mặn. Tuệ Trung ăn món mặn ngon lành(!) Được hỏi vì sao lại thế, Thiền sư trả lời: Phật là anh. Anh là Phật. Phật ở trong tâm. Tâm là Phật.

    Quan niệm đó là tông phái đặc trưng của Trúc Lâm Yên Tử. Dẫu sống ở trong trần ai mà vẫn thanh cao thư thái (Cư trần lạc đạo). Phải đem Phật tính ra để giứp đời vì Dù xây chín bậc phù đồ. Không bằng làm phúc cứu cho một người.

    TNT không chỉ cứu một người mà còn cứu cả dân tộc, cứu cả sự vĩnh hằng của giang sơn, Tổ Quốc Việt Nam. Không có ai hiểu hơn TNT vùng phên dậu phương Nam quan trọng đến mức nào. Kẻ thù bao giờ cũng mượn cớ đánh vào láng giềng phía Nam để diệt Đại Việt. Có lẽ không có gì là quá khi khẳng định rằng TNT là người hiểu rõ nhất câu thành ngữ Việt điểu sào nam chi. Con chim khôn của Nước Việt phải biết tìm cành phương Nam mà làm tổ. Tránh càng xa cái gió lạnh phương Bắc rét căm rét cảy càng tốt. Càng đi xa về phương Nam để có thêm đất, thêm thế và lực bao nhiêu, non sông càng vững bền bấy nhiêu.

    TNT chỉ có một người con gái duy nhất thôi. Vậy mà, vì xã tắc muôn đời, ông sẵn sàng chịu để cho người đời chê trách. Ông có nghe câu Tiếc thay cây Quế giữa rừng. Để cho thằng mán nó mừng, nó leo? Tôi nghĩ là có. Nhưng, cũng giống như tu tự tâm, giải thoát (moksha) rồi, ăn mặn hay ăn chay thì có khác gì nhau đâu? Ông biết nhưng ông tin cuộc đời sẽ hiểu. Con cháu sau này sẽ mãi tri ân.

    “Tịch hiệp” trong trái tim TNT là thống nhất cả giống nòi, cả quá khứ lẫn mai sau, cả thành công và lỗi lầm... Trong ông không có sự chia tách bắc – nam, đúng như ông đã từng nói Con người thì có nam có bắc còn Phật tánh không phân biệt bắc nam..

    Đọc đến đây ta chợt bừng tỉnh như vừa được một luồng gió mát tươi mới thổi ào qua cả trái tim và khối óc của mình. Ồ. Phải rồi. Phải chăng một trong những nguyên do TNT đến với Phật Tâm từ rất sớm là bởi ông biết rất rõ rằng trong một nước có 54 dân tộc, biết bao thù hận từ chiến tranh, biết bao bất đồng từ quá khứ, biết bao giằng xé về quyền lợi, biết bao sự lận lầm chân lý, thật giả nhiễu nhương..., thì con đường duy nhất để “tịch hiệp” để cố kết, đồng lòng là con đường đến với chữ tâm mà chỉ có Phật tính là diệu vợi không cùng. TNT quả là một trong những con người vĩ tuyệt nhất của thế gian này. Ông sinh ra trong một dòng tộc quyền quý, tất nhiên ông hiểu cái minh triết của thức nhận từ trái tim và trí tuệ mẫn tiệp, siêu quần. Cõi Phật vào thời của TNT là Lý Tưởng, là chân lý đích thực mà không một hệ tư tưởng nào có thể thay thế được, kể cả Nho gia. Nho gia không thể liên kết được toàn thể giống nòi bởi dưới con mắt Rồng của Khổng Phu Tử, thiên hạ đầy những kẻ tiểu nhân(!) Cởi Hoàng bào và khoác vào mình cái áo nâu sồng, TNT chỉ cần có một bước là đã đến với nhân quần!...

    Viết về TNT khi tôi cứ tự đếm bước mình trên những đường phố mang tên ông, nhỏ hẹp và ngắn ngủi. Cho dẫu cuộc đời có ai đó đã từng nghĩ thế thì trong dòng máu thẳm sâu khắc khoải của hồn Việt, trí tuệ Việt; TNT rạng ngời và vĩ đại vô cùng. Những lẫn lầm vẫn có đó, nơi ông. Âu cũng là lẽ thường tình bởi ông là một con người thật nhất trong thế giới của loài người. Tich hiệp cả dải ngân hà để cho cháu con đồng lòng, cho Tổ Quốc vững bền đến muôn thuở là tâm nguyện của ông. Số đời một màn kéo / Tình người đôi mắt ngân là tiếng hát của trái tim biết yêu thương cùng đất nước giống nòi từng phút, tùng giây. Giang sơn nghìn thuở vững âu vàng là câu thơ được tinh chiết từ khí núi, hồn sông; là sự khẳng định ngắn và đầy đủ nhất niềm tự hào, bất khuất của nòi giống, con dân Việt. Tịch hiệp thiên hà tẩy chiến trần là nỗi khắc khoải dài lâu nhất của dân tộc Việt Nam. Và, Gia trung hữu bảo vưu tầm mịch (của báu có sẵn trong nhà chớ tìm đâu xa nữa) là lời nhắn nhủ tâm huyết sắc sâu, ý vị đến muôn đời...

    Huế, tháng 10.2010. Tel: 0914.079.210.

    Chủ đề: Lịch sử

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    0 phản hồi