Tiến Sĩ George Boeree - Giới thiệu căn bản về Tâm lý học Xã Hội (2)

  • Bởi Admin
    21/10/2010
    0 phản hồi

    Minh Ên lược dịch

    Tương tác Xã hội

    Những điều nói trên có tính tổng quát [cho các ngành tâm lý học nói chung], không phải chỉ đúng với tâm lý học xã hội [xã hội ở đây được hiểu là một nhóm nhiều hơn một người]. Trong vô vàn sự kiện mà ta gán ghép ý nghĩa cho có cả những con người -- đó là những "sự kiện" rất quan trọng. Không ít lần ta đối xử với sự kiện "con người" y hệt như đối xử với những sự kiện vô tri vô giác khác: lạm dụng, bỏ lơ, xem thường... Chắc bạn cũng từng cảm nhận điều ấy: chắc trong đời bạn cũng đã từng thấy có người ngoi mình như một đồ vật, chứ không phải con người. Nhưng thường thì ta đối xử với con người như cái gì đó cao quý hơn: ta đối xử với họ như những tạo vật mang ý nghĩa như chính ta, như CON NGƯỜI. Đó là tương tác xã hội.

    Điều này có nghĩa là gì: Tôi không chỉ phải hoạt động trong "hệ thống các ý nghĩa" của chính tôi, mà còn trong hệ thống của bạn; và bạn cũng phải hoạt động trong "hệ thống các ý nghĩa" của tôi. Ví dụ, để giao tiếp được với bạn, tôi phải biết một chút về ý của bạn cũng như ý của chính tôi; và bạn phải biết một chút về ý của tôi. Bạn chắc chắn đã gặp qua tình huống phải thăm dò người đối thoại nghĩ gì, phải không?

    Nếu bạn muốn có một định nghĩa, thì hãy nhớ rằng các nhà Tâm lý học hiếm khi đồng ý về chuyện gì, kể cả về định nghĩa cho Tâm lý học. Nhưng nếu ta có thể đồng ý Tâm lý học là ngành nghiên cứu về cư xử và kinh nghiệm, thì Tâm lý xã hội là ngành nghiên cứu về cư xử và kinh nghiệm xã hội.

    Cần phải bổ sung một điểm nữa khi định nghĩa Tâm lý xã hội: bởi vì ta gán ý nghĩa cho thế giới, cho nên khi thích hợp ta có thể nhân cách hóa thế giới, gán cho các sự kiện không phải con người những ý nghĩa xã hội. Nghĩa là ta nhập cuộc vào tương tác xã hội trong sự vắng mặt của những người khác! Để rõ hơn, hãy để ý một số lớn chúng ta tuân theo dấu hiệu đèn giao thông trên đường vắng giữa đêm khuya không người; ta cười hoặc khóc với những nhân vật trong sách hay phim ảnh; ta đáp ứng với các tác phẩm của các nghệ sĩ đã qua đời hàng trăm năm... Nói cách khác, tương tác xã hội bao gồm cư xử và kinh nghiệm, không chỉ khi có sự hiện diện thật sự của người khác, mà còn cả khi chỉ có những ám chỉ hay biểu tượng về sự hiện diện đó.

    Ta có thể tiếp tục thêm bớt và sắp xếp lại các từ ngữ để tìm ra một định nghĩa hoàn hảo. Thay vì vậy, ta hãy đi tiếp và để cho nội dung tập tài liệu này làm công việc định nghĩa ấy.

    1.2 Cảm xúc có ý thức

    Cho tới đây, lý thuyết của ta có vẻ lạnh lùng và máy móc. Thế còn tình cảm thì sao? Vâng, tình cảm hiện hữu cũng có hiện hữu, dù ít dù nhiều trong mọi tương tác.

    Hãy tưởng tượng chuyện này: Giữa khuya trời nóng bức, bạn đang nằm trong phòng nội trú, cảm thấy khát và bạn bước khỏi giường đi lấy nước đá. Căn phòng tối đen nhưng bạn biết rõ lối đi nên không mở đèn; bạn dự đoán tủ lạnh đang ở cuối phòng và bước đến đó. Còn 1 mét nữa là xong... nhưng "bịch!" bạn tông vào một cái gì đó rất to lớn. Một điều bất ngờ ngoài dự đoán!

    Lúc ấy bạn có cảm giác thế nào? Có lẽ là sợ hãi, ngạc nhiên, kinh khủng. Bất cứ thế nào nó cũng đều khó chịu. Ta hãy gọi đấy là phiền muộn.

    Cùng một lúc, bạn vừa bận rộn "dự liệu" trong đầu, cố lý giải xem con quái vật mà bạn vừa va phải là cái gì, vừa hành động để giải thoát nỗi sợ của mình, đó là nhảy đến công tắc điện. Ánh sáng bật lên, bạn trông đợi sẽ nhìn thấy một tên giết người ghê rợn... Và hết chỗ nói, đó là cái tủ lạnh! Lúc chiều bạn đã quét dọn phía sau nó và chưa đẩy nó về chỗ cũ. Giờ đây, biết được việc gì đang xảy ra, bạn cảm thấy thế nào?

    Có lẽ bạn thấy đỡ hơn, một cảm giác thoát nạn vui sướng. Bạn thở phào và có lẽ cười to. Mọi việc trở lại hợp lý; sinh hoạt trở lại bình thường. Ta hãy gọi đấy là hân hoan.

    (Ghi chú rằng sau khi thấy đỡ hơn, có lẽ bạn vẫn còn một chút cảm giác tiêu cực -- như bực bội vì mình ngu ngốc. Vấn đề này sẽ được đề cập đến ở phía sau!)

    Ta hãy trình bày chính xác hơn: Khi tương tác mang tính tiêu cực, ta có cảm giác phiền muộn. Lấy ví dụ, ta trở nên phiền muộn khi:

    (1) Khi ta dự đoán sai một việc gì -- như tông vào tủ lạnh trái với dự đoán trong ví dụ trên.

    (2) Khi ta dự đoán nhiều hơn một việc cùng một lúc nhưng các dự đoán ấy xung đột nhau. Như trong ví dụ trên, ai trong các bạn cùng phòng là người cao lớn bạn tông vào? Lần tới nếu ngồi riêng với một trong các người ấy, bạn không biết có nên cảm thấy an tâm hay không. [nghĩa là phiền muộn]

    (3) Khi ta đối diện với sự bất định chung chung. Ví dụ như con chuột hay con rắn sẽ bò qua hướng nào kế tiếp? Có lẽ đây là gốc rễ của sự sợ hãi thông thường về những con vật nhỏ bé ấy [chúng có chuyển động rất bất định làm cho ta sợ, một mức độ của phiền muộn].

    Phiền muộn có thể nhẹ nhàng như bực bội hay bất mãn, ví dụ khi cây bút hết mực trong lúc đang viết bài. Nó có thể nặng nề hơn như thất vọng khi xe bị hỏng máy; sợ hãi khi xe mất tay lái; ghê tởm khi khám phá ai đó cắn đứt đầu con gà sống.

    Hân hoan là sự hóa giải các vấn đề phiền muộn. Thật ra, khi ta cảm thấy hân hoan chính là ta đang phát triển hay chi tiết hóa sự hiểu biết về thế gian. Hân hoan là khía cạnh tình cảm của sự thích nghi, và của sự học hỏi [nghĩa là của sự phát triển những hiểu biết về thế gian]

    Tương tự, hân hoan có thể nhẹ nhàng như cảm giác vui sướng khi giải xong một bài toán hay thắng một ván cờ. Hoặc nó có thể cao độ hơn như khi trúng tuyển vào đại học, khi thắng một trận chiến.

    Để ý rằng, bởi vì việc giải quyết một vấn đề đòi hỏi phải có vấn đề, cho nên sự hân hoan lại phụ thuộc vào sự phiền muộn. Ngay cả các vui thú vật chất có vẻ cũng theo cách ấy: Bạn cảm thấy hứng thú với nó nhiều hơn sau khi không đụng đến nó trong một thời gian dài [và cảm thấy thiếu thốn], dù đó là thực phẩm hay tình dục! Nhiều và thường xuyên quá sẽ không tạo thỏa mãn cao. (Chú ý rằng đáp ứng của con người khi gặp trường hợp này là... cố thưởng thức nó nhiều hơn nữa! Từ đó dẫn đến những thái độ tâm lý [ghiền, nghiện] của ta đối với tình dục, thực phẩm, cờ bạc, v.v...)

    Việc đối diện với một vấn đề không gây ra phiền muộn -- sự phiền muộn chỉ là khía cạnh cảm giác của tình huống. Quan điểm tương tự có thể áp dụng với sự hân hoan. Hân hoan không được tạo ra do giải quyết xong vấn đề, hân hoan chính là cảm giác khi ta giải quyết xong vấn đề. Cả phiền muộn lẫn hân hoan đều không phải lý do khiến ta đi tìm giải pháp; nói cách khác chúng không phải là "động lực".

    Nhưng rõ ràng là trong tương lai bạn sẽ tìm cách tránh xa những tình huống có thể tạo cho bạn phiền muộn. Hoặc bạn sẽ cố tạo ra cho mình tình huống mà bạn cảm thấy hân hoan. Nhưng ở đó, sự dự liệu về phiền muộn hay hân hoan mới là động lực thúc đẩy bạn.

    Lo âu là dự liệu về sự phiền muộn. Do kinh nghiệm, bạn tin tưởng rằng tình huống trước mặt sẽ là khó chịu. Sự tin tưởng này chính nó là khó chịu, bởi vì nó xung khắc với mong muốn của bạn là được sống vui sướng và không phải bận tâm. Do đó thường thì bạn cố tránh tình huống này.

    Hy vọng là dự liệu về sự hân hoan. Do kinh nghiệm, vấn đề trước mặt bạn sẽ được giải quyết, và đây là một ý nghĩ đầy vui sướng. Tùy vào các chi tiết và mức độ, ta cũng có thể gọi đây là "sự hăng hái" hay "sự phấn khởi".

    Về căn bản, phiền muộn và hân hoan thường không diễn ra đồng thời - vì một bên là vấn đề, một bên là giải pháp cho vấn đề. Nhưng sự dự liệu về phiền muộn và hân hoan (tức là lo âu và hy vọng), lại thường xảy ra cùng lúc. Ta gọi đó là "cảm xúc lẫn lộn" hoặc "cảm xúc pha trộn".

    Ví dụ, bạn chuẩn bị đi lướt sóng. Bạn thích trò lướt sóng, nhưng không thích vùng nước sâu và tốc độ ca-nô quá cao. Như vậy, cùng một sự kiện, nhưng bạn có cả hai trạng thái lo âu và hăng hái. Quyết định cuối cùng, rằng bạn có xuống nước chơi trò lướt sóng hay không, phụ thuộc vào hai trạng thái kia cân bằng như thế nào đối với bạn. Xin lưu ý cụm từ "đối với bạn". Quyết định như thế rất nặng về chủ quan, dựa vào những cái gì làm bạn lo âu và hăng hái.

    Sự dự đoán cũng có thể giúp ta hiểu rõ hơn các cảm xúc khác như:

    Giận dữ là sự phiền muộn trong sự trông đợi về sự thay đổi bên ngoài. Vấn đề nằm "ở phía bên ngoài" và giận dữ là sự lớn dần của năng lực cần có để giải quyết vấn đề đó. Hãy thử giữ chặt một đứa trẻ không cho em bò quanh thì bạn sẽ thấy sự giận dữ lớn dần như thế nào.

    Buồn rầu là phiền muộn trong sự trông đợi về những thay đổi bên trong. Vấn đề bây giờ nằm "ở trong ta" và ta nhận ra rằng mình phải thích nghi với nó. Đau thương [khi mất đi người thân] là một ví dụ rõ nhất: Bạn không thể nào làm họ sống trở lại; bạn chỉ có thể học cách để sống trong sự thiếu vắng họ. Nhiều kinh nghiệm học hỏi quan trọng trong đời chúng ta liên quan đến sự buồn rầu, như khi hiểu được những giới hạn của ta, hay giới hạn của những người ta yêu.

    Lưu ý rằng giận dữ có tính hy vọng hơn một chút; buồn rầu thì khó chấp nhận hơn. Ta có khuynh hướng giận dữ với các sự việc trước khi chúng ta đi đến kết luận rằng các sự việc đó không thể thay đổi được. Điều này nói lên điều rất quan trọng về chúng ta: Ta có xu hướng phản kháng lại những thay đổi lớn trong cái tôi; và nếu có thể, ta cố làm cho thế giới phù hợp với những trông đợi [dự liệu] của mình [xin đọc đoạn kế tiếp sẽ rõ hơn]

    Đôi khi những trạng thái cảm xúc ấy được kéo dài. Nếu một người luôn cố làm cho thế gian -- nhất là làm cho những người khác -- phải phù hợp với dự liệu của mình thì người ấy được xem là lấn tới và mang trạng thái cảm xúc "thù nghịch". Thông thường, điều người ấy thật sự cần làm là thay đổi chính mình, nghĩa là thích nghi với thế giới. Nhưng vì lý do nào đó -- ví dụ như do nền văn hóa -- sự nhân nhượng là điều cấm kỵ [làm cho anh ta nhất quyết phải thử thay đổi thế giới bên ngoài sao cho nó phù hợp với dự liệu của mình]. Giống như trường hợp những vui thú vật chất, khi sự trông đợi không mang đến kết quả, ta làm những gì ta thường làm, nghĩa là làm nhiều hơn nữa [giống như việc nghiện cờ bạc đã nói trong một phần trước, ở đây nếu người ấy cố làm thế giới phù hợp với dự liệu của mình, nhưng thất bại, thì người ấy càng cố]

    Ngược lại, những ai cố gắng làm cho mình phù hợp với thế giới bên ngoài -- và nhất là phù hợp với trông đợi của người khác -- thì người ấy được xem là nhân nhượng và thường mang trạng thái cảm xúc "chịu sức ép". Người ấy luôn cố tự điều chỉnh mình cho hợp với người khác, trong khi thông thường điều cần làm là trở nên giận dữ.

    Trong xã hội, ta thấy vài sự khác biệt giữa người nam và người nữ trong lãnh vực này: người nam thường được dạy từ nhỏ rằng nhân nhượng là xấu; người nữ được dạy rằng gây sức ép cho người khác là xấu. Do đó đàn ông thường đi với hình mẫu "lấn tới", và phụ nữ với hình mẫu "nhân nhượng". Dĩ nhiên không ai phải như vậy, đôi khi có những ví dụ ngược. Nhưng lý tưởng nhất là tất cả chúng ta, đàn ông cũng như phụ nữ, cần phải "lấn tới" hay "nhân nhượng" tùy theo tình huống thích hợp.

    Nhưng thường thấy hơn cả là sự tránh né: Khi thấy một vấn đề đang xảy ra, ta đầu hàng trước cảm giác lo âu và bỏ chạy, về thể xác hay về tâm lý. Với sự tránh né, ta muốn cố thoát khỏi tình huống đầy cảm xúc và chuyển đến trạng thái yên ấm. Nhưng thật không may, khi bạn tránh né các vấn đề và sự phiền muộn, thì đồng nghĩa với việc bạn cũng không bao giờ gặp niềm hân hoan khi giải quyết xong vấn đề. Hãy ngẫm về cách "tâm lý" thông thường mà chúng ta dùng để tránh né các vấn đề cuộc sống: Rượu, thuốc lá, tivi... Mục tiêu của sự tránh né là làm sao mất cảm xúc, hay ít nhất là mất cảm xúc với vấn đề xảy ra với mình.

    Ba thái độ này -- lấn tới, nhượng bộ, và tránh né -- rất thường gặp. Chúng có lẽ một phần do di truyền, cho nên một số người sẽ có khuynh hướng đương đầu với vấn đề của mình bằng cách lấn tới, một số khác bằng cách nhượng bộ, và còn một số nữa bằng cách tránh né.

    Những người trưởng thành hơn sẽ có khuynh hướng đương đầu với vấn đề bằng thái độ nhắm vào việc giải quyết cho xong: Họ đối diện với phiền muộn và lo âu nhờ vào hy vọng và hăng hái.

    Điều này cần một chút gì đó -- một khả năng tập chú vào mục đích và bỏ qua sự đau đớn trong tiến trình nhằm đến đích. Người ta thường gọi đấy là "sức mạnh ý chí", "tự kỷ luật", "cần thành đạt", và "trì hoãn sự thỏa mãn". Nhưng ta chỉ gọi ngắn gọn là "ý chí". Về sau ta sẽ trở lại với ý tưởng này.

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    0 phản hồi