Đình Hiếu - Tội nghiệp Vinashin

  • Bởi Admin
    19/10/2010
    5 phản hồi

    Đình Hiếu

    Có tờ báo ngay trang đầu, nửa bên này thì viết bài lên án Vinashin là đầu tư ra ngoài ngành gây thua lỗ và nợ hàng chục ngàn tỉ đồng, nửa bên kia lại viết bài ca ngợi một DN khác là Tổng công ty Xây dựng công trình giao thông 5 (Cienco5) năng động biết đầu tư ra ngoài chức năng của DN như làm đường, chuyển sang kinh doanh bất động sản. Không biết giữa 2 DN có sự phân biệt gì không nhỉ, vì nếu đem số nợ của họ ra so sánh thì chưa chắc ai nợ nhiều hơn ai. Thật tội nghiệp cho Vinashin.

    Những ngày này, người ta đang ra sức săn lùng người tài để đứng ra điều hành tập đoàn kinh tế Vinashin. Những người có công xây dựng nên một Vinashin hôm nay thì đã lần lượt dắt nhau vào trại giam. Chỉ trong một thời gian ngắn, 3 tổng giám đốc, 3 chủ tịch HĐQT thay nhau nắm quyền. Rồi người thì vào trại, người thì bị thay giữa chừng. Các uỷ viên HĐQT thì chẳng còn đầu óc đâu để làm việc. Vừa làm việc, họp hành, vừa nơm nớp lo sợ vì không biết ngày mai đã đến lượt mình nhập trại chưa? Một cơ đồ với hàng chục ngàn con người cùng các trang thiết bị hiện đại, có thể đóng những con tàu cả trăm ngàn tấn, đang có nguy cơ trở thành đống sắt vụn. Bây giờ thì nó như đứa con bị ruồng bỏ. Tội thế!

    Ở đất nước chủ yếu là nông nghiệp, nền công nghiệp sau hơn nửa thế kỷ chưa sản xuất hoàn chỉnh nổi một chiếc xe đạp, nên nghị quyết nào cũng coi phát triển công nghiệp là ưu tiên hàng đầu. Muốn xây dựng đất nước giàu mạnh, không thể cứ trông vào hạt lúa củ khoai, mà phải đầu tư phát triển công nghiệp, rõ rồi. Ngoài các ngành con cưng của chính quyền (là các ngành độc quyền như điện, dầu khí, than, khoáng sản…) thì mũi nhọn được xác định là công nghiệp đóng tàu. Phải ghi nhận những lãnh đạo tiền nhiệm của Vinashin đã có công xây dựng nên một nền công nghiệp đóng tàu thực sự. Những con tàu 53 ngàn tấn, tàu chở ôtô, chở dầu… đã được hạ thuỷ và được các đối tác đánh giá cao. Ai cũng biết, muốn theo kịp nền công nghiệp đóng tàu của thế giới thì phải đầu tư, nhưng tiền đâu ra? Phải vay ngân hàng trong và ngoài nước, nhà nước mình nghèo có thương con, muốn đầu tư cho nó thì cũng làm gì có? Đành hỗ trợ bằng cơ chế, bảo lãnh vay nước ngoài. Nếu thuận buồm xuôi gió thì chắc cũng trả được nợ và phát triển. Nhưng mọi tính toán của lãnh đạo Vinashin đã bị cơn bão khủng hoảng tài chính thế giới nhấn chìm. Khách hàng các nước đặt hàng và đặt cọc để Vinashin đóng các con tàu lớn cả trăm triệu USD, giờ bỏ của chạy lấy người. Những con tàu không giao được nằm đắp chiếu, làm cháy lòng các công ty đóng tàu và các ngân hàng, cộng với việc bung ra đầu tư vào các ngành khác như bảo hiểm, ngân hàng, điện năng… rồi khi tập đoàn này mua chiếc tàu chở khách Hoa Sen với số vốn cả ngàn tỉ đồng, sau mấy chuyến chạy tuyến Nam – Bắc lỗ quá đành đưa về Cam Ranh neo tại nhà máy đóng tàu cho đỡ phải trả tiền bến bãi. Thế là mọi mũi dùi đều hướng về Vinashin. Sau khi UB kiểm tra TW ra thông báo: Tập đoàn đang nợ hơn 80.000 tỉ đồng thì dư luận phẫn nộ. Sau đó là những ngày đen tối của Tập đoàn kinh tế này. Khi kinh tế thế giới có biến động, tàu không bán được, nợ chồng lên nợ, thế là Vinashin trở thành tội đồ, những người trước kia tung hô ca ngợi Vinashin như một hiện tượng trên bầu trời kinh tế Việt Nam, giờ quay lưng lại và kết tội Vinashin.

    Thật tội nghiệp cho tập đoàn này vì họ chẳng có thế mạnh gì cả, chỉ có các khoản nợ đang ngày một chồng chất. Họ không thể độc quyền như các tập đoàn khác để bắt người tiêu dùng phải dùng hàng của họ mà không có sự lựa chọn. Họ không thể đào tài nguyên đất nước để bán rồi trở thành DN con cưng. Họ không thể hút dầu lên bán, hay xây dựng nhà máy lọc dầu, nhà máy phân, nhà máy khí bằng tiền thuế của dân hay tiền bán tài nguyên, rồi bán cho người tiêu dùng với giá đắt ngang hàng nhập khẩu. Năm này qua năm khác ngành dầu khí được sử dụng tiền lãi từ liên doanh ViêtXô Petro mà không phải nộp vào ngân sách một xu, trong khi nhà nước phải đi vay tiền nước ngoài để chi tiêu và đầu tư. Khi các đại biểu Quốc hội phát hiện kiến nghị thu hồi, thì lãnh đạo tập đoàn này lại chạy lên cấp cao hơn để cầu cứu. Thế là một giải pháp dung hoà được đưa ra: Tập đoàn dầu khí nộp 50% vào ngân sách, còn 50% được giữ lại để tái đầu tư. Không biết số tiền này đầu tư vào đâu? Có hiệu quả không? Nền kinh tế và người dân có được hưởng lợi chút nào không? Không ai được biết. Nghe đâu đã có một số vốn được đầu tư sang Venezuela của tổng thống Hugo Chavet bên kia bán cầu, trong khi trong nước đang thiếu vốn. Lãnh đạo Vinashin chắc không thể là tập đoàn con cưng để có thể thay đổi được ý kiến của Quốc hội. Hay như tập đoàn con cưng Than Khoáng Sản, trong khi các nhà máy điện, xi măng đang thiếu than sản xuất, thì tập đoàn này đã làm ngơ cho các công ty con xuất lậu mỗi năm hàng triệu tấn than, gây thất thu cho nhà nước biết bao nhiều tiền thuế và làm mất lòng tin của xã hội. Thế mà lãnh đạo tập đoàn này chỉ bị cảnh cáo rồi hạ cánh an toàn. Lãnh đạo Vinashin chắc không thể có được ân huệ đó. Trong những ngày này, đọc báo càng thấy thương cho Vinashin. Có tờ báo ngay trang đầu, nửa bên này thì viết bài lên án Vinashin là đầu tư ra ngoài ngành gây thua lỗ và nợ hàng chục ngàn tỉ đồng, nửa bên kia lại viết bài ca ngợi một DN khác là Tổng công ty Xây dựng công trình giao thông 5 (Cienco5) năng động biết đầu tư ra ngoài chức năng của DN như làm đường, chuyển sang kinh doanh bất động sản. Không biết giữa 2 DN có sự phân biệt gì không nhỉ, vì nếu đem số nợ của họ ra so sánh thì chưa chắc ai nợ nhiều hơn ai. Thật tội nghiệp cho Vinashin.

    Trong một đất nước, khi chủ nghĩa tư bản thân hữu còn ngự trị, khi các DN nghiệp độc quyền còn có thể thao túng cả chính sách vĩ mô hay luật pháp có lợi cho lợi ích cục bộ của họ, thì sẽ không thể có bình đẳng trong kinh doanh. Hẳn mọi người còn nhớ, khi bộ Công thương công bố lộ trình xoá bỏ độc quyền trong việc sản xuất và mua bán điện, lập tức EVN đã gửi công văn phản bác. Không rõ uy tín của EVN tới đâu, nhưng sau khi EVN gửi công văn đi thì không thấy ai nhắc tới bản lộ tình của bộ Công Thương nữa. Bây giờ thì cả nước đang phải hứng chịu nạn thiếu điện trầm trọng vì chiến lược điện quá tập trung vào thuỷ điện và các nhà thầu Trung Quốc khi họ trúng thầu tới 90% dự án của sơ đồ điện 6. Thế mà chẳng có ai bị kỷ luật hay từ chức cả.

    Điều cấp bách hiện nay là phải tạo ra sự bình đẳng cho mọi thành phần kinh tế, xóa bỏ độc quyền từ các DN con cưng. Các DN này đã tiêu quá nhiều tiền của nhà nước mà đóng góp quá nhỏ bé cho ngân sách. Hãy thôi dùng ý chí áp đặt lên các hoạt động kinh tế, khuyến khích các thành phần kinh tế cạnh tranh bình đẳng, để người được hưởng lợi chính là nhà nước và đông đảo người dân.

    Tin giờ chót: đã tìm được hai ngôi sao là hai phó tổng của tập đoàn dầu khí sang giữ chức Chủ tịch HĐQT và Tổng Giám đốc Vinashin. Chúng ta hãy chờ xem hai ngôi sao này đưa Vinshin thoát khỏi suy thoái bằng cách nào.

    _____________________

    (*) Bài viết riêng cho HuyBom&Sam blog, với lời nhắn: “Em ơi dạo này anh muốn viết. Em đưa lên blog nhé”.

    Chủ đề: Kinh tế

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    5 phản hồi

    Tăng và Giảm Mức Lưu Hoạt

    Việt Long & Nguyễn Xuân Nghĩa, RFA
    2010-10-20

    Đúng một tuần sau khi Uỷ ban Tiền tệ của Ngân hàng Trung ương Hoa Kỳ xác nhận sẽ tiếp tục gia tăng mức lưu hoạt tiền tệ để kích thích kinh tế thì Ngân hàng Trung ương Trung Quốc lại quyết định giảm mức lưu hoạt tiền tệ bằng cách nâng lãi suất huy động và cho vay thêm 25 điểm, tức là 0,25%.
    Biện pháp khá bất ngờ của Bắc Kinh khiến các thị trường tài chính thế giới bị chấn động, cổ phiếu và vàng tuột giá trong khi Mỹ kim lên giá. Hai động thái trái ngược này cho thấy nhiều mâu thuẫn phức tạp của kinh tế thế giới và cũng là bài toán nan giải cho Việt Nam. Diễn đàn Kinh tế kỳ này sẽ tìm hiểu về bài toán đó qua phần trao đổi cùng nhà tư vấn kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa do Việt Long thực hiện sau đây.
    Hiện tượng trái chiều và thế kẹt của kinh tế Đông Á
    Việt Long: Xin kính chào ông Nguyễn Xuân Nghĩa.
    Chúng ta đang chứng kiến hai hiện tượng trái ngược giữa hai bờ Thái bình dương. Tại Hoa Kỳ, kinh tế chưa hoàn toàn phục hồi và khi lãi suất đã hạ tới số không thì Ngân hàng Trung ương chỉ còn biện pháp "gia tăng mức lưu hoạt có định lượng" hay "quantitative easing" mà ông gọi là "in bạc bơm vào kinh tế". Hậu quả là Mỹ kim càng sụt giá nặng khi tư bản đang chảy qua Á châu làm nhiều nước Đông Á bị động vì tiền lên giá và phải can thiệp vào thị trường ngoại hối. Thế rồi Ngân hàng Trung ương Trung Quốc vừa quyết định nâng lãi suất thêm 25 điểm kể từ Thứ Tư 20, nhằm tiết giảm mức lưu hoạt tiền tệ để ngăn lạm phát. Quyết định bất ngờ ấy cũng lại gây chấn động cho các thị trường tài chính thế giới và khiến Mỹ kim lên giá.
    Trong chương trình tuần trước, ông dí dỏm nói đến sự chuyển động của đồng Mỹ kim và đồng Nhân dân tệ Trung Quốc trong bài "Hai Đồng Bạc Múa Đôi". Bây giờ, có lẽ chúng ta cần tìm hiểu xem đồng bạc Việt Nam bị kẹt thế nào trong cái nhịp múa đôi trái chiều đó. Trước hết, xin ông vui lòng trình bày cho bối cảnh của những chuyển động phức tạp này.
    Nguyễn Xuân Nghĩa: - Nói về bối cảnh thì ngẫu nhiên sao hôm Thứ Ba 19, Ngân hàng Thế giới vừa công bố tại Tokyo bản Báo cáo Cập nhật về Kinh tế Đông Á trong đó định chế này nói đến triển vọng hồi phục mạnh mẽ nhưng rủi ro gia tăng tại Đông Á. Đó là khung cảnh chung của các nền kinh tế đang phát triển tại Đông Á. Trong khi ấy, các nền kinh tế đã phát triển là ba khối Âu-Mỹ-Nhật thì chưa sáng sủa. Hậu quả của sự trái chiều này là Hoa Kỳ sẽ còn phải kích thích kinh tế khi lãi suất đã giảm tới sàn và bội chi cùng công trái đều tăng vọt lên trời.
    - Vì Chính quyền Mỹ bị tê liệt khi đã tăng chi ào ạt để kích thích kinh tế mà vô hiệu thì còn lại Ngân hàng
    Đồng đô la và đồng euro
    Đồng đô la và đồng euro. AFP
    Trung ương phải in bạc bơm tiền theo lối bất thường là "quantitative easing" làm Mỹ kim sụt giá. Một số nhà nghiên cứu còn báo động là Mỹ có thể bị "giảm phát" là khi hàng mất giá mà bán không được và thất nghiệp không giảm, thậm chí
    bị rơi vào cái gọi là "bẫy xập thanh khoản", là tiền rẻ và dư dôi mà sản xuất vẫn không tăng. Nhưng, với các nước khác, nạn tiền rẻ và Mỹ kim sụt giá khiến hàng Mỹ thành quá rẻ, dễ bán hơn nên Bộ Ngân khố Mỹ phải giải thích là Mỹ không có chủ ý đánh hạ đồng đô la để cạnh tranh nhờ xuất khẩu rẻ hơn.
    - Trong khi ấy, kinh tế Trung Quốc cũng có vấn đề là kế hoạch kích thích kinh tế bằng tăng chi ngân sách và bơm tín dụng ào ạt trong hai năm 2008-2009 đã nâng mức đầu tư và sản xuất, nhưng lại thổi lên nguy cơ bong bóng và lạm phát. Vì vậy, Bắc Kinh mới tìm cách hút bớt tiển ra khỏi kinh tế khi nâng mức dự trữ pháp định của ngân hàng và phát hành công khố phiếu. Rồi sau cùng thì phải tăng lãi suất vốn đang thực tế ở vào số âm. Nghĩa là trong khi Mỹ tăng mức lưu hoạt để kích thích thì Trung Quốc giảm mức lưu hoạt để giảm nhiệt.
    Việt Long: Đúng là ta đang gặp hiện trượng trái chiều. Ở giữa là các nước Đông Á khác bị kẹt vì đồng Mỹ kim sụt giá thì đồng Nhân dân tệ sụt theo khiến đồng tiền các nước này mới lên giá và người ta đã thấy hậu quả là các nước này phải can thiệp vào thị trường ngoại hối để giảm giá đồng bạc. Nguy cơ của chiến tranh ngoại hối vì vậy mới gia tăng như ông có phân tích kỳ trước.
    Nguyễn Xuân Nghĩa: - Thưa đúng vậy, và trong chuyện này, ta thấy ra hai vấn đề.
    - Thứ nhất là tiền quá rẻ của các nước công nghiệp hoá đã tràn vào các thị trường ta gọi là "tân hưng" để tìm cơ hội kiếm lời; loại tiền gọi là "nóng" ấy làm đồng bạc của các nước này lên giá. Thứ hai, khi đồng bạc lên giá như vậy thì hàng hóa của họ cũng tăng giá và khó bán hơn trong khi Mỹ kim sụt giá và đồng Nguyên của Trung Quốc cũng sụt theo vì ràng vào tiền Mỹ. Cho nên vấn đề ngoại hối đẩy qua vấn đề mậu dịch và nhiều nước đã phải can thiệp hoặc kiểm soát ngoại hối, bằng cách hoặc mua vào ngoai tệ và bán ra nội tệ để giảm giá đồng bạc, hoặc như Thái Lan vừa qua, tăng thuế suất trên đầu tư của nước ngoài để hạ nhiệt loại tư bản nóng ấy.
    - Để sơ kết về bối cảnh, chúng ta thấy các nước Đông Á bị kẹt giữa hai chuyển động ngược của kinh tế Hoa Kỳ và Trung Quốc và gặp bài toán rất khó giải quyết ở ba mặt một lúc. Không phải là bài toán "lưỡng nan" ở hai vế mâu thuẫn mà ở ba vế. Thứ nhất là vẫn phải kích thích sản xuất và xuất khẩu, trong khi vẫn phải canh chừng lạm phát khi tiền chảy vào quá nhiều và quá rẻ, và thứ ba là tránh cho đồng nội tệ khỏi lên giá. Xứ nào áp dụng chế độ tự do ngoại hối, tức là để đồng tiền tự điều chỉnh theo quy luật cung cầu, thì bị thiệt nhất nên họ đành phải can thiệp vào thị trường ngoại hối mặc dù họ đều biết là không thể mãi mãi dùng đồng bạc rẻ để xuất khẩu.
    Bề trái của mức tăng trưởng kinh tế Việt Nam
    Việt Long: Bây giờ, ta mới nói đến trường hợp Việt Nam, một quốc gia cũng cần xuất khẩu và có chế độ kiểm soát ngoại hối, nhưng lại đang lo sợ là đồng bạc mất giá so với Mỹ kim trong khi lạm phát vẫn là nguy cơ rất đáng ngại.
    Nguyễn Xuân Nghĩa: - Việt Nam là một ngoại lệ đáng ngại vì không thuộc vào một diện nào trong các nước Đông Á.
    - Việt Nam không là một nước xuất khẩu nguyên nhiên vật liệu và có lợi nhờ nguyên nhiên vật liệu đang tăng giá như trường hợp một số nước Đông Á khác. Việt Nam có dân số đủ đông để phát triển thị trường nội địa
    Tiền đồng Việt Nam
    Tiền đồng Việt Nam. AFP
    làm lực đẩy cho bộ máy sản xuất nhưng vì hạ
    chưa thể đi vào chiến lược cần thiết đó. Việt Nam chủ yếu vẫn làm gia công, là nhập khẩu nguyên nhiên vật liệu vào chế biến để bán ra và kiếm lời nhờ lao động. Và rất hồ hởi với triển vọng hội nhập sau khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới năm 2007 thì Việt Nam bị lạm phát nặng. Và vừa phải đối mặt với nguy cơ nóng máy bằng cách tăng lãi suất để hạ nhiệt thì kinh tế thế giới lại bị suy trầm năm 2008. Đó là về tình hình chung.
    - Khi kinh tế thế giới bị suy trầm năm 2008-2009, Việt Nam áp dụng bài bản kích thích của Trung Quốc là tăng chi ngân sách, nhất là bơm tín dụng vào hệ thống ngân hàng. Kết quả thì kinh tế đạt mức tăng trưởng cao và trên bề mặt thì có vẻ như đã ra khỏi nạn suy trầm.
    Việt Long: Đó là trên bề mặt, chứ chìm sâu bên dưới thì cũng có nhiều vấn đề phải không?
    Nguyễn Xuân Nghĩa: - Thưa vâng, mà toàn là loại vấn đề nan giải.
    - Trước hết, Việt Nam bị nhập siêu nặng, từ nay nên tính bình quân là mỗi tháng sẽ mua nhiều hơn bán chừng một tỷ đô la, khi mà các thị trường xuất khẩu truyền thống là Âu-Mỹ đều co cụm.
    Cán cân vãng lại bị thiếu hụt nên vừa bào mỏng khối dự trữ ngoại tệ quá ít ỏi của mình vừa gây ra hoài nghi cho dân chúng và thị trường. Họ giữ vàng và Mỹ kim để thủ thế và càng gây sức ép cho trị giá của đồng bạc. Việt Nam đã phá giá ba lần trong vòng một năm qua và sẽ còn phải phá giá nữa vì áp lực của thị trường đang vượt qua biên độ giao dịch chính thức của đồng bạc. Những biến động thăng giảm đột ngột của Mỹ kim và vàng sẽ chỉ gây thêm bất ổn cho thị trường và thách đố khả năng ứng phó của Chính quyền trong thời gian tới.
    - Thứ hai, khi bơm tín dụng để kích thích kinh tế, Việt Nam có gặp vấn đề cũng như Trung Quốc là thổi lên một số nợ xấu, khó đòi và có thể mất. Hệ thống ngân hàng vì vậy đang bị đe dọa nặng và việc nâng mức dự trữ pháp định của ngân hàng để điều tiết khối tiền tệ sẽ lại gây vấn đề nữa. Ta càng nên chú ý đến rủi ro này vì các tập đoàn kinh tế quốc doanh đã chạy theo bơm tiền vào khu vực ngân hàng và bất động sản nên lại thổi lên bong bóng đầu cơ như đã thấy năm 2008.
    - Vấn đề thứ ba, áp lực vật giá đã từng hoành hành tới đầu năm 2008 nay lại trở về, tức là lạm phát lại tăng kể từ cuối năm nay trở đi và là một rủi ro khác. Khi kinh tế đã tạm hồi phục, việc thu hồi các biện pháp kích thích như nâng lãi suất hay dự trữ ngân hàng là điều cần thiết, nhất là với áp lực lạm phát đang tăng, nhưng lại không dễ thi hành trên nền móng bấp bênh hiện nay.
    Việt Long: Ông có nhắc đến việc tiền nóng từ các nước công nghiệp hoá đang chảy về Đông Á. Trong các nước đó có Việt Nam không? Và điều ấy có giảm bớt khó khăn của cán cân vãng lai hay không?
    Nguyễn Xuân Nghĩa: - Cùng với nạn suy trầm 2008-2009, giới đầu tư có thấy ra nhiều bất trắc tại thị trường Trung Quốc và có ý hướng tìm đến các thị trường tân hưng khác để đầu tư. Việt Nam đã phần nào được hưởng một nguồn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài cao hơn năm ngoái và năm nay có thể lên tới tám tỷ đô la. Chính là nguồn đầu tư ấy và một phần là tiêu thụ của tư nhân đã gòp phần kéo kinh tế ra khỏi suy trầm.

    - Nhưng, thị trường Việt Nam chưa đủ vững mạnh và an toàn để tiếp nhận đầu tư tài chính, gọi là "tiền nóng", như các nước kia. Thị trường chứng khoán Việt Nam đã tuột khỏi đỉnh từ năm 2007 và chỉ còn phân nửa giá cũ mà vẫn chưa được chiếu cố dù kinh tế đã có dấu hiệu phục hồi. Chỉ số VN Index ở trong Nam, là thị trường mạnh nhất, thì cũng vẫn xê dịch giữa hai mức 350 tới 450 điểm chứ chưa bung khỏi mức chặn là 500 điểm. Một chỉ dấu khác là Việt Nam vẫn phải mời chào giới đầu tư với phân lời công khố phiếu cao hơn các thị trường chung quanh tới 400 điểm, tức là 4%. Nghĩa là phải trả tiền lời khá đắt để vay tiền thiên hạ mà vẫn ế. Những tai tiếng liên tiếp xày ra cho các tập đoàn kinh tế quốc doanh, điển hình là vụ Vinashin, cho thấy tình trạng thiếu an toàn và thừa rủi ro của thị trường Việt Nam.
    Việt Long: Câu hỏi cuối, thưa ông, hình như là sóng gió và rủi ro đang nổi lên ở khắp nơi, làm sao Việt Nam có thể thoát khỏi những bất trắc này khi mua hàng nhiều nhất là từ Trung Quốc và lại bán hàng nhiều nhất là cho thị trường Hoa Kỳ?
    Nguyễn Xuân Nghĩa: - Trong một kỳ trước, chúng ta có nói đến hoàn cảnh khó khăn đó của Việt Nam khi kẹt giữa hai khối kinh tế đang có mâu thuẫn và sẽ có tranh chấp là Hoa Kỳ và Trung Quốc. Cái thế kẹt ấy không chỉ là chuyện ngoại thương hay mậu dịch và là một bài toán quản lý vĩ mô rất tế nhị, rất khó giải quyết trong năm tới, nhất là trong khung cảnh mờ ảo thiếu thông tin minh bạch như hiện nay.
    - Nhìn vào tương lai dài hạn hơn, tôi thiển nghĩ là Việt Nam phải duyệt lại chiến lược phát triển nhờ xuất khẩu mà mở rộng thị trường nội địa. Thứ hai, Việt Nam còn phải xét lại vai trò, sức đóng góp và nhất là gánh nặng của các tập đoàn kinh tế quốc doanh. Chúng bóp nghẹt tư doanh, gây tham ô lãng phí và là một sự bất công. Nhưng dù có chuẩn bị đại hội cho khóa 11 vào năm tới, đảng Cộng sản Việt Nam vẫn không dám đụng vào chuyện này vì quyền lợi quá lớn của các đảng viên cán bộ ở trên cùng. Cho nên rủi ro thì vẫn còn nguyên vẹn.

    http://www.rfa.org/vietnamese/programs/EconomicForum/Quantitative-Easing-and-Tightening-10202010065406.html

    Còn công trình 1000 năm Thăng Long nữa

    http://www.vietnamnet.vn/tinnhanh/201010/Cong-trinh-mung-dai-le-lien-tiep-sua-chua-943643/

    Dấu hỏi về công trình mừng Đại lễ
    Thứ Năm, 21/10/2010

    Mới chỉ đi vào sử dụng được hơn 10 ngày, công trình Công viên Hòa Bình mừng đại lễ đã có một số dấu hiệu xuống cấp.

    Hôm 19/10, trên báo Đất Việt đăng tải một số hình ảnh của công viên Hòa Bình, cũng là công trình khánh thành đúng dịp Đại lễ để mừng Thủ đô nghìn tuổi, tuy nhiên mới chỉ đi vào sử dụng được hơn 10 ngày, công trình này cũng có một số dấu hiệu xuống cấp.

    Mô tả ảnh.
    Công viên Hòa Bình, công trình mới đưa vào sử dụng, bậc lên xuống đã nham nhở, đá thì bong tróc. (Ảnh: Đất Việt)

    Bà Nguyên Thị Mến, người dân gần công viên cho biết.“Từ ngày công viên này đưa vào sử dụng chiều nào tôi cũng ra đây chơi, hóng mát cùng các cháu nhưng thấy công viên xuống cấp nhanh quá. Chỉ đi trên nền thôi mà đã thấy đá lát bung lên rồi. Không những thế, các bậc lên xuống được lát bằng đá sẻ để dư ra một đoạn chừng 5cm khi người dân đi, chạy, nhảy… hay vô tình va phải vào đó cũng sẽ làm cho đoạn đá lát dư ra bị vỡ nên hầu hết các bậc lên xuống ở công viên này đều bị sứt mẻ nham nhở cả”,

    Vụ Vinashin có gây khó khăn cho nền kinh tế Việt Nam?

    Gia Minh, biên tập viên RFA
    2010-07-20

    Ngân sách bị ít đi

    Tuy nhiên biện pháp chuyển nợ của Vinashin sang cho hai tập đoàn khác là PetroVietnam và Vinalines có thể giúp giải quyết tình hình Vinashin hay có thể gây ra những khó khăn khác cho nền kinh tế Việt Nam?

    Gia Minh nêu vấn đề này ra với tiến sĩ Vũ Quang Việt, cựu chuyên gia Cục Thống Kê Liên hiệp quốc, người luôn theo dõi sát tình hình kinh tế Việt Nam. Trước hết tiến sĩ Vũ Quang Việt nói về biện pháp cứu nguy mà chính phủ Hà Nội đưa ra cho Vinsahin vừa qua.

    Vinashin mất khả năng trả nợ nên phải giao Vinashin cho người khác để người ta trả nợ cho. Cách giao là giao cho PetroVietnam và Vinalines.

    TS Vũ Quang Việt

    TS Vũ Quang Việt: Đó là khả năng tình thế thôi cho trường hợp một ‘người’ nợ nhiều mà không có khả năng trả nợ; đặc biệt là nợ nước ngoài. Toàn bộ hệ thống tài chính của Việt Nam sẽ bị đánh giá thấp đi. Vinashin mất khả năng trả nợ nên phải giao Vinashin cho người khác để người ta trả nợ cho. Cách giao là giao cho PetroVietnam và Vinalines. PetroVietnam không có khả năng đóng tàu nhưng được giao vì có tiền. Hậu quả là ngân sách của Việt Nam lâu nay phần lớn nhờ vào đóng góp của PetroVietnam, nay tiền đó mang đi trả nợ thì ngân sách bị ít đi.

    Trước đây Vinashin mua chứng khoán của Công ty Bảo hiểm, đầu tư vào thị trường chứng khoán, nay bắt những công ty kia phải mua với giá ban đầu; tức phần lỗ của Vinashin đẩy cho các thành phần khác chịu.

    Gia Minh: Đó là một vấn đề còn những vấn đề gì khác nữa?

    Ts Vũ Quang Việt: Việc đẩy những hoạt động không phải chuyên môn cho những công ty khác về lâu về dài sẽ gây khó khăn cho chính những công ty đó. Vấn đề đóng những tàu theo hợp đồng đã ký với nước ngoài chưa chắc thực hiện được. Vinashin không có khả năng cung, nên ‘cầu’ trở nên vấn đề; như vậy về dài lâu có thể phải phá sản cho hết những công ty kia thôi.

    Một vấn đề nữa là nợ của Vinashin cũng có phần từ các ngân hàng Việt Nam. Các ngân hàng không lấy được nợ sẽ khiến cả hệ thống ngân hàng gặp khó khăn. Trừ phi chính phủ lại in tiền thêm, bơm tiền tín dụng cho các ngân hàng sống còn. Từ đó nền kinh tế bị ảnh hưởng khá lớn không phải nhỏ, không khéo có thể đến khủng hoảng kinh tế. Nhiều vấn đề khác nữa.

    Gia Minh: Theo ông sau khi áp dụng giải pháp ‘tình thế’ thì còn có hướng nào khác nữa?

    TS Vũ Quang Việt: Nhìn về dài lâu, nếu cái gì không giải quyết được thì nên cho ‘chết đi’ hay ‘bán đi’. ‘tư nhân hoá’ đi. Nếu tiếp tục sẽ gây thêm vấn đề. Ví dụ Vinashin được giao nhiều đất ở khắp nơi nhưng nay Vinashin không có khả năng trả tiền đất đai nữa; nhiều nơi nông dân không biết làm gì; đất đai không đuợc trả, tiền lại không đuợc trả. Đó là vấn đề xã hội lớn.
    Cơ hội đã qua

    Gia Minh: Lâu nay đã có kế hoạch cổ phần hoá các tập đoàn, doanh nghiệp nhà nước rồi, theo ông cách thức làm lâu nay có theo đúng huớng để các doanh nghiệp tiến đến hoạt động có hiệu quả ?

    TS Vũ Quang Việt: Con đuờng của Nhà nước Việt Nam từ thời ông Nguyễn Tấn Dũng lên mắn chức thủ tướng là tạo ra nhiều tập đoàn, xem đó như ‘quả đấm sắt’ để phát triển nền kinh tế; tuy nhiên hệ thống đó lập ra chỉ có lợi cho những cá nhân trong cả hệ thống chính quyền và Đảng vì thế hỏng. Vấn đề tư nhân hoá không phải dễ: cần phải tạo ra sản phẩm gì thì người ta mới mua; phải có lợi nhuận trong tương lai mới có giá trị; còn không tạo ra đuợc giá trị tương lai mà chỉ là những ‘thủ thuật’ như thế, cuối cùng sẽ sụp đổ.

    Vinashin đâu có tạo ra sản phẩm. Nhiều tập đoàn nhà nước khác cũng như vậy thôi.

    Gia Minh: Tình hình u ám như thế, không lẽ phải giải thể hết các tập đoàn đó?

    Một vấn đề nữa là nợ của Vinashin cũng có phần từ các ngân hàng Việt Nam. Các ngân hàng không lấy được nợ sẽ khiến cả hệ thống ngân hàng gặp khó khăn.

    TS Vũ Quang Việt

    TS Vũ Quang Việt: Cách giải quyết tùy mỗi tập đoàn: ví dụ như PetroVietnam có dầu, xăng để bán và trong trường hợp giá còn cao thì không có vấn đề. PetroVietnam có thể làm tốt hơn, nhưng nếu làm xấu đi cũng chưa có vấn đề. Tập đoàn Điện lực, EVN, nhu cầu điện vẫn có đó nên có lỗ bắt buộc nhà nước phải bù lổ. Vinashin thì không có khả năng cung, còn những tập đoàn khác thì ‘cầu’ vẫn có đó, vấn đề là họ độc quyền và định giá để có lợi cho họ thôi.

    Gia Minh: Ông vừa đề cập đến vấn đề độc quyền, lâu nay nhà nước cũng nói nhiều về điều này, theo ông con đuờng cạnh tranh vẫn chưa thể thực hiện đuợc tại Việt Nam?

    TS Vũ Quang Việt: Tôi không có đủ hiểu biết về Việt Nam để trả lời câu hỏi này. Chính lãnh đạo Việt Nam họ phải biết rõ tại sao họ không để chuyện đó xảy ra, không đẩy vấn đề đó. Nhiều người giải thích vì quyền lợi của tập đoàn quá lớn, ở khắp mọi nơi. Độc quyền họ mới thu lợi nhiều, có vốn để đẩy ra những lĩnh vực khác, thành lập nhữngdoanh nghiệp nhỏ , thu hồi đất của dân kiếm thêm lợi.

    Cả hệ thống chính phủ có lợi, nay yêu cầu thay thế thì khó. Người ta có thể nói miệng nhưng chưa chắc muốn làm như vậy.

    Gia Minh: Trong thời gian qua, Việt Nam vẫn tự hào về thành quả kinh tế đạt đuợc; điều gì giúp Việt Nam đạt đuợc thành quả đó?

    TS Vũ Quang Việt: Sau khi vào WTO, lẽ ra Việt Nam có nhiều lợi thế để đi vào kinh tế thế giơí; đầu tư vào Việt Nam nhiều. Tuy nhiên những chính sách sai lầm về tài chính, về ngân hàng, và quá hồ hởi trong phát triển; đặc biệt như trong vấn đề Vinashin và nhiều tập đoàn khác nữa, đã tạo nên lạm phát đến 23- 24% hồi năm 2008. Điều đó làm cho tốc độ phát triển sau đó dừng lại, và đi xuống làm cho nhiều người mất niềm tin, làm cho thị trường chứng khoán tưởng có thể đi lên đuợc trở thàng bong bóng. Cả một hệ thống chính sách làm cho nền kinh tế trở thành bong bóng, thay vì phát triển một cách có hiệu quả và chất luợng. Chính vì vậy đã để cơ hội vuột qua; nay sau những vụ như Vinashin thì có ngân hàng , định chế thế giơí nào dám mua trái phiếu, cổ phiếu của Việt Nam với giá cao như vừa qua nữa hay không.

    Gia Minh: Cám ơn ông về những ý kiến vừa rồi.

    http://www.rfamobile.org/vietnamese/in_depth/Sinking-vinashin-in-the-opinion-of-a-foreign-specialist-dr-vu-quang-viet-GMinh-07202010203717.html

    Rủi Ro Tại Việt Nam

    Việt Long & Nguyễn Xuân Nghĩa, RFA
    2010-09-08

    Dư luận bên ngoài đặc biệt chú ý đến vụ khủng hoảng của tập đoàn đóng tầu Vinashin khi bộ Công An vừa khởi tố và tống giam thêm bốn cán bộ cao cấp sau khi đã bắt giữ Chủ tịch Hội đồng Quản trị của tập đoàn này vào tháng trước.

    Dư luận chú ý vì nội dung của vụ khủng hoảng thì ít mà vì quan tâm nhiều hơn đến môi trường kinh doanh tại Việt Nam. Diễn đàn Kinh tế sẽ cùng tìm hiểu về những rủi ro trong môi trường đó qua phần trao đổi sau đây cùng nhà tư vấn kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa do Việt Long thực hiện hầu quý thính giả.

    "Cái khó ló cái khôn"
    Việt Long: Xin kính chào ông Nguyễn Xuân Nghĩa. Sau nhiều năm âm ỉ, vụ khủng hoảng của tập đoàn Vinashin đã bùng nổ với việc cách chức rồi bắt giữ nhiều viên chức cao cấp của tập đoàn. Cho đến nay, người ta chưa thấy hết sự thật ở bên trong một tập đoàn từng được coi là "quả đấm thép" của nền kinh tế nhà nước tại Việt Nam.

    Tuy nhiên ở Việt Nam trước đây thường hay cổ võ quần chúng là "cái khó ló cái khôn", trong khi thực tế cho thấy là giữa những rủi ro có thể tiềm ẩn nhiều cơ hội. Ông theo dõi vụ này, trước hết xin hỏi theo ông Việt Nam nên "ló cái khôn" như thế nào, tức là giải quyết hồ sơ Vinashin ra sao để trấn an giới đầu tư và thị trường nói chung, hầu có thể bắt lấy những cơ hội đó?

    Nguyễn Xuân Nghĩa: Thưa ông, vụ khủng hoảng Vinashin là cơ hội thuận lợi để Việt Nam thể hiện quyết tâm cải cách, từ chiến lược phát triển tới chính sách quản lý kinh tế khi dư luận thế giới đang thất vọng về thị trường Trung Quốc và nhìn vào các quốc gia Đông Nam Á như nơi có triển vọng kinh doanh cao hơn và an toàn hơn. Đó là trên đại thể. Riêng về câu hỏi của ông, là Việt Nam nên giải quyết hồ sơ Vinashin như thế nào thì thật khó có câu trả lời thoả đáng, vì Việt Nam ở đây là ai, là những ai liên hệ đến một chuyện tầy trời như vậy?

    Một số dư luận bên trong thì cho rằng đây là mặt nổi của đấu đá chính trị nội bộ để tranh giành quyền lực và quyền lợi trước khi đảng Cộng sản Việt Nam triệu tập Đại hội đảng vào năm tới. Nó cũng tương tự như vụ PMU 18 trước Đại hội đảng Khoá 10 lần trước. Tôi xin không đi vào lối suy luận theo hướng đó mà chỉ trộm nghĩ rằng nếu đúng như vậy thì Việt Nam quả là còn lạc hậu về chính trị khi việc quản lý sai trái làm thất thoát công quỹ tới bạc tỷ, tính bằng đô la, lại có thể xảy ra.

    Rồi một vụ tham ô tầy trời như vậy chỉ được phanh phui một phần khi đảng chuẩn bị thay đổi nhân sự lãnh đạo. Sinh hoạt chính trị tại Việt Nam thiếu sự trong sáng minh bạch nên cấp lãnh đạo không chịu trách nhiệm trước quốc dân về từng quyết định tai hại của mình.

    Việt Long: Trong giả thuyết lạc quan là Việt Nam cần chứng tỏ quyết tâm hay thiện chí cải cách như ông vừa nói thì người ta nên giải quyết vụ Vinashin như thế nào?

    Nguyễn Xuân Nghĩa: Tôi thiển nghĩ là trong vụ này, nhiều cấp cao thấp khác nhau cần phải công khai hóa các quyết định của mình.

    Thứ nhất, ở cấp chuyên môn về kinh doanh và giám sát thì những ai đã lấy quyết định đầu tư và thanh tra kiểm soát việc đầu tư tài sản của quốc dân? Trong việc đầu tư ấy, ai đã lấy quyết định sai lầm, khi nào, vì sao và phải chịu trách nhiệm như thế nào để trường hợp như vậy khỏi tái diễn? Câu hỏi ấy dẫn ta đến yêu cầu cải tổ toàn bộ cơ chế quản lý và giám sát của nhiều cấp bộ khác nhau, từ Bộ Chính trị xuống Văn phòng Thủ tướng, các cơ quan giám hộ và thanh tra.

    Thứ hai, nếu trong quyết định kinh doanh không chỉ có sai lầm về chuyên môn - là điều có thể xảy ra cho mọi doanh nghiệp - mà còn có sự gian lận hay toa rập để trục lợi thì vấn đề hình sự phải đặt ra. Việc truy tố và xét xử phải được tiến hành khách quan và minh bạch về pháp lý, chứ không thể do chính những người đã can dự vào các quyết định đầu tư này chi phối. Cho đến nay, ta chưa thấy thể hiện điều tối thiểu đó nên không tin vào quyết tâm cải cách của Việt Nam.

    Thứ ba, quan trọng hơn cả, vụ Vinashin cho thấy sự phá sản của mô hình xây dựng kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Định hướng này dẫn tới chiến lược phát triển các thành phần kinh tế nhà nước làm lực lượng chủ đạo mà thực chất chỉ là tập trung quyền lực và quyền lợi vào một thiểu số có khả năng lũng đoạn rất cao mà vẫn được đảng và nhà nước bao che và bảo vệ cho tới khi bùng nổ thành khủng hoảng làm công quỹ bị hao hụt nặng.

    Nói chung thì ngoài yếu tố chuyên môn và pháp lý, vấn đề then chốt vẫn là chính trị. Đó là sự chọn lựa mô thức xây dựng các tập đoàn quốc doanh vĩ đại rồi giao việc quản lý cho người thiếu khả năng mà thừa quyền lực và lòng tham mà chẳng có ai giám định hay giám sát.

    Việt Long: Trước khi đi qua phần phân tích những rủi ro kinh doanh tại Việt Nam, ông kết luận thế nào về vụ Vinashin?

    Nguyễn Xuân Nghĩa: Nói cho nôm na thì đây là một vụ ăn cướp có hệ thống, lại được nhà nước bao che từ quá lâu vì vụ khủng hoảng manh nha từ hai năm nay rồi mà vẫn cứ bị khỏa lấp. Nếu nhân vụ này mà bày tỏ quyết tâm cải cách thì trước hết, Việt Nam phải tiếp tục việc cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước như đã hứa hẹn với các nước viện trợ, và nghiên cứu việc chấn chỉnh để thu hồi Quyết định số 103/2006/QĐ-TTg và dần dần giải thể 17 Tổng công ty mang danh hiệu Tập đoàn này. Mô hình các "chaebols" Hàn Quốc đã phá sản từ năm 1997 mà 10 năm sau Việt Nam lại áp dụng thì không thể là một thị trường kinh doanh an toàn và có lợi. Mà gọi đó là "định hướng xã hội chủ nghĩa" thì đấy là một điều mỉa mai vì nó chỉ định chế hóa sự bất công.

    Phân tích những rủi ro tại VN
    Việt Long: Bây giờ, ta bước qua phần phân tích rủi ro tại Việt Nam. Thưa ông, từ nhiều tháng nay, giới đầu tư quốc tế đang xét duyệt lại chiến lược đầu tư của họ vì thấy môi trường đầu tư tại Trung Quốc không còn hấp dẫn, và họ nhìn vào thị trường gần 600 triệu dân của Đông Nam Á với nhiều thiện cảm hơn. Khu vực đầy hứa hẹn này có thị trường gần 90 triệu dân của Việt Nam với nhiều triển vọng mà cũng có lắm rủi ro khi so sánh với các thị trường khác. Dưới con mắt của giới đầu tư thì những rủi ro tại Việt Nam là gì?

    Nguyễn Xuân Nghĩa: Về thực tế thì kinh doanh là kiếm lời trong rủi ro. Mà rủi ro ấy hiện hữu ở mọi loại thị trường của mọi quốc gia, dù là tiên tiến như Âu Mỹ thì cũng làm nhiều doanh nghiệp vỡ nợ. Tuy nhiên, tại vài quốc gia vừa chuyển ra kinh tế thị trường mà chưa có chế độ chính trị tự do và minh bạch - như trường hợp Trung Quốc và Việt Nam - thì người ta gặp loại rủi ro bất lường, không tính trước được.

    Trước hết là rủi ro về chính trị. Một số nhà đầu tư Đông Á, và cả Âu Mỹ dù ít hơn, vẫn nghĩ lầm rằng tại một xứ độc tài thì "quan hệ" với viên chức nhà nước là bí quyết thành công. Lý luận này có nghĩa là nếu mua chuộc được một đảng viên cán bộ cao cấp thì dự án đầu tư sẽ tiến hành tốt đẹp, từ việc xin giấy phép hay liên doanh với doanh nghiệp nhà nước hoặc lập nhà máy, tuyển nhân công, v.v... Thực tế chính trị lại không đơn giản như vậy.

    Về thời gian thì thế lực có thể giúp nhà đầu tư đi ngang về tắt như vậy lại không bền vì mỗi lần thay đổi nhân lực lại là một lần rủi ro. Có khi quan hệ chính trị xây dựng được lại là gánh nặng và nhà đầu tư bị trừng phạt mà không biết tại sao vì luật lệ thiếu phân minh rõ ràng mà công an lại có lắm quyền. Nhiều nhà đầu tư cò con thuộc diện gọi là "Việt kiều" đã bị tai hoạ ấy. Về không gian cũng thế, vì thực tế bên dưới vẫn là "rừng nào cọp nấy", mỗi chặng mỗi nơi lại đòi châm thêm tiền để làm trơn tru quan hệ chính trị ấy. Và về luật pháp thì các quốc gia Âu-Mỹ có luật lệ truy tố các trường hợp mua chuộc viên chức xứ khác để giật hợp đồng. Các nhà đầu tư quốc tế thấy rằng rủi ro chính trị đó gây ra quá nhiều phí tổn bất lường. Họ gọi chung tệ nạn ấy với mỹ từ là "môi trường đầu tư thiếu minh bạch và sân chơi không bình đẳng".

    Rủi ro thứ hai thuộc về diện văn hóa. Từ quan hệ chính trị tới việc đề cử và mua chuộc thân tộc làm tay chân, hoặc ký hợp đồng gia công, hợp đồng cung cấp nguyên vật liệu, v.v... ta vẫn có một số thói quen của văn hoá Á Châu là "một người làm quan cả họ được nhờ", hoặc chỉ tin vào họ hàng thân quyến. Thực tế thì thói quen ấy dẫn tới một điều mà dân Á Châu có thể chưa hiểu. Đó là "mâu thuẫn về quyền lợi", một khái niệm pháp lý rất mới lạ của các xã hội tiên tiến. Mâu thuẫn ấy dẫn tới nhiều quyết định nằm bên ngoài kinh doanh, thí dụ như việc thanh toán thù lao hay hoa hồng, và gây ra rủi ro bất ngờ vì tưởng rằng đã đóng chốt an toàn khi có thân quyến của một đảng viên cao cấp trong sổ lương của mình, mà cũng chẳng biết gì về khả năng của họ!

    Việt Long: Ông nói tới rủi ro văn hoá vì chuyện quan hệ thân tộc. Ngoài ra lĩnh vực đó thì yếu tố văn hóa có thể giải thích những rủi ro khác nữa không?

    Nguyễn Xuân Nghĩa: Thưa là tất nhiên là có. Tôi xin lấy một thí dụ phổ biến là vụ sở hữu tác quyền, hay nạn ăn cắp tác quyền. Quan niệm "ăn của địch để đánh địch" thời chiến tranh đã đổi mới thành chuyện ăn cắp của địch để làm giàu cho ta, như một thứ chính nghĩa quái lạ, thậm chí một lẽ công bằng cho các nước đi sau. Từ nếp văn hoá đó mà suy rộng ra, ta có nạn ăn cắp bí mật kinh doanh, cũng lại rất chính đáng nếu lại là điều tra hay điều nghiên cho chi bộ đảng trong doanh nghiệp của nước ngoài vào làm ăn tại Việt Nam! Cũng vì tâm lý đó mà doanh nghiệp đầu tư có khi lại bị làm khó, thậm chí truy tố, nếu muốn nghiên cứu thị trường. Hệ thống chính trị chưa cải cách nếp suy tư này mà lại còn kiểm soát thông tin và báo chí thì càng gây thêm rủi ro.

    Bước thứ ba là rủi ro về pháp lý. Môi trường đầu tư và kinh doanh tại Việt Nam vẫn còn sự mập mờ trong định nghĩa đúng và sai, hợp pháp và phi pháp, được suy diễn khá tùy tiện. Vì vậy mà một chuyện bê bối vĩ đại như Vinashin vẫn xảy ra, trong khi một nghiệp vụ sa thải hay thanh toán nợ nần lại có thể bị chuyển qua hình sự mà cơ chế trọng tài lại không có thẩm quyền hòa giải. Trong một cơ sở liên doanh với doanh nghiệp nhà nước chẳng hạn, nhà đầu tư không được bảo vệ và thực tế vẫn bị quyền phủ quyết của đối tác Việt Nam, nhờ luật lệ suy diễn theo kiểu Việt Nam. Tranh chấp về lao động cũng vậy.

    Việt Long: Ông mới chỉ liệt kê ra ba lĩnh vực là chính trị, văn hoá và luật lệ thì đã thấy quá nhiều trở ngại cho việc đón nhận đầu tư nước ngoài. Như vậy, vì sao mà nguồn đầu tư này vẫn đang đổ vào Việt Nam?

    Nguyễn Xuân Nghĩa: Chúng ta nhìn vào trục thời gian thì thấy có gia tăng so với trước đây, chứ nhìn vào không gian tức là so sánh với các xứ khác thì thật ra chưa đáng kể và còn có thể gia tăng nhiều hơn nữa, nhất là khi thiên hạ nhìn ra những bất trắc của thị trường Trung Quốc. Ngoài ra, ta không thể quên những rủi ro thông thường đã được nói tới quá nhiều.

    Thứ nhất là rủi ro về thay đổi chính sách vì những quyết định chính trị của đảng và nhà nước. Đầu tư là một tiến trình dài hạn được chuẩn bị cho nhiều năm sau này nên thay đổi về chiến lược và chính sách có thể gây ra nhiều vấn đề bất ngờ, nay là đúng mai là sai. Thứ hai là các rủi ro về kinh tế vĩ mô, như rủi ro tín dụng vì lạm phát gia tăng, rủi ro ngoại hối vì đồng tiền mất giá và nhà nước đi vay quá nhiều, rủi ro ngân sách vì nhà nước bị bội chi và thay đổi luật lệ thuế khóa.

    Thứ ba là rủi ro về môi sinh vì hạ tầng cơ sở lạc hậu không thể ứng phó với thiên tai, lũ lụt hay đơn giản là điện bị cúp, nước ngọt không có. Sau cùng, quan trọng nhất trong lâu dài là rủi ro về nhân dụng: Việt Nam thiếu nhân công có tay nghề và lợi thế nhân công rẻ chưa chắc đã bù đắp được năng suất quá thấp nếu so sánh với nhiều nước Đông Nam Á khác.

    Để kết luận thì nhân vụ Vinashin và sự quan tâm của giới đầu tư, Việt Nam nên nói thật nói thẳng về những điều khuất tất bên trong và thông báo loại quyết định có tính cách chiến lược về ý chí cải cách cơ chế chính trị và quản lý và về quyết tâm cải tổ cơ cấu vĩ mô bằng những biện pháp cụ thể. Nếu không thì vẫn khó cạnh tranh được với các nước láng giềng để bắt kịp đà phát triển của họ.

    http://www.rfa.org/vietnamese/programs/EconomicForum/Vietnam-Country-Risk-VL-09082010181706.html

    Vinashin không phải chỉ một mình đâu
    Còn phải coi kỹ thêm Dung Quất và bauxite Tây Nguyên nữa

    Năm nào miền Trung cũng bị tàn phá nặng nề vì lũ lụt, phương tiện giao thông đường bộ và đường sắt cũng bị đình trệ

    Việc xây dựng đường sắt cao tốc 300km/g lại càng phải nghiên cứu kỹ lưỡng hơn nữa

    http://sgtt.vn/Kinh-te/131330/Ban-khoan-tinh-hieu-qua-cua-nha-may-loc-dau-Dung-Quat.html

    Băn khoăn tính hiệu quả của nhà máy lọc dầu Dung Quất

    SGTT.VN - Sau khi nghe báo cáo của Chính phủ và báo cáo thẩm tra của uỷ ban Khoa học, Công nghệ và môi trường Quốc hội, một số đại biểu Quốc hội băn khoăn về đánh giá cho rằng, dự án này có “hiệu quả”.

    Tàu cập cảng xuất sản phẩm, nhà máy lọc dầu Dung Quất (Quảng Ngãi) tiếp nhận sản phẩm xăng, dầu. Ảnh: Minh Đức

    Chiều ngày 18.10, tại cuộc họp của uỷ ban Khoa học, Công nghệ và Môi trường của Quốc hội về dự án nhà máy lọc dầu (NMLD) Dung Quất, sau khi nghe báo cáo của Chính phủ và báo cáo thẩm tra của uỷ ban Khoa học, Công nghệ và môi trường Quốc hội, một số đại biểu dự họp tỏ ý băn khoăn về đánh giá cho rằng, dự án này có “hiệu quả”.

    Theo ông Lương Văn Kết, vụ phó vụ Kinh tế công nghiệp, bộ Kế hoạch và đầu tư, với tổng giá trị dự kiến quyết toán là 43.000 tỉ đồng, thấp hơn tổng mức đầu tư được duyệt là 51.000 tỉ đồng, là có sự mâu thuẫn ở đây. “Khi có sự cố và phải kéo dài thời gian chạy máy thì càng phải thiệt hại chứ không phải là có lợi. Kéo dài hơn 2 tháng trời, không vận hành thương mại mà lại làm giảm vốn đầu tư thì vô lý”, ông Kết nói. Cũng theo ông Kết, nếu như báo cáo của Chính phủ cho rằng, chủ đầu tư tiết kiệm được 11% so với tổng mức đầu tư được duyệt thì hiệu quả phải cao hơn so với 7,66%. “Dự án kéo dài 13 năm mà lại (đánh giá) hiệu quả quá thì đáng ngạc nhiên”, ông nhận xét.

    Cũng theo ông Lương Văn Kết, có hơn 1.000 tỉ đồng chưa được xem xét, thẩm tra và hoàn tất chứng từ thì không ổn. “Thủ tục pháp lý chưa hoàn thiện là do có những nhà thầu Việt Nam được tập đoàn Dầu khí quốc gia ứng tiền nhưng chuyển qua, chuyển lại và không hoàn tất công việc thì xử lý như thế nào?”, ông đặt câu hỏi.

    Đại diện của bộ Xây dựng có mặt tại cuộc họp, ông Hà Mạnh Hoà cho rằng, một dự án mà kéo dài tới 13 năm thì không nói là thành công được. Theo ông Hoà, vấn đề ở đây là do tiềm lực tài chính và nguồn lực con người hạn chế nên dự án bị chậm triển khai.

    Ông Phan Xuân Dũng, phó chủ nhiệm ủy ban Khoa học và công nghệ của Quốc hội cho rằng, trong báo cáo thẩm tra thì đánh giá hiệu quả kinh tế thuần túy không cao dự án này có hiệu quả về an ninh, quốc phòng. Theo ông Dũng, cần phân rõ các nguồn vốn vay, lãi suất trả nợ để làm rõ hơn hiệu quả. Khả năng cạnh tranh trong lĩnh vực lọc hóa dầu và nhập khẩu dầu mỏ sau này như thế nào?

    “Đây cũng không chỉ là đánh giá hiệu quả hiện nay của NMLD Dung Quất mà còn là vấn đề mở rộng công suất lên 8-10 triệu tấn và đầu tư các dự án khác hiện nay”, ông Dũng nói.