Financial Times: 'Dòng tiền nóng' đang rời khỏi Việt Nam

  • Bởi Admin
    18/10/2010
    1 phản hồi

    Ben Bland<br />
    Mai Phương lược dịnh<br />
    Tqvn2004 hiệu đính

    Bất ổn kinh tế vĩ mô, khó khăn khi tìm cơ hội đầu tư ở Việt Nam đang khiến nhà đầu tư chuyển hướng sang các nước Đông Nam Á khác.

    vietnam-dong.jpg

    Theo tờ Financial Times, trong khi Thái Lan và các nền kinh tế khác ở Đông Nam Á đang vất vả kiểm soát luồng vốn ngoại đổ vào thị trường và ghìm giá nội tệ, thì Việt Nam có vẻ đang đứng ngoài cuộc chơi.

    Thị trường chứng khoán Việt Nam, được định lượng bằng chỉ số VN-INDEX, đã giảm 12% trong năm nay, và các nhà kinh tế đang dự đoán tiền Đồng sẽ còn xuống giá, sau khi Ngân hàng Nhà nước đã ba lần phá giá kể từ tháng 11 năm 2009.

    Kinh tế Việt Nam rõ ràng đang tăng trưởng với tốc độ ấn tượng, đủ để thu hút nguồn vốn rẻ từ các nước phương Tây và các nhà đầu tư tìm kiếm lợi tức đầu tư cao từ các thị trường mới nổi. Hầu hêt các nhà kinh tế đều cho rằng kinh tế Việt Nam có thể đạt mục tiêu tăng trưởng 6,5% đề ra trong năm nay.

    Nhưng mối lo ngại trước sự bất ổn kinh tế vĩ mô và các khó khăn trong việc tìm ra cơ hội đầu tư hấp dẫn ở Việt nam đang khiến dòng tiền nóng này hướng vào các quốc gia khác trong khu vực.

    Tháng trước, Quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF cảnh báo các chính sách thiếu rõ rang của chính phủ đang ảnh hưởng đến niềm tin của thị trường.

    IMF cho rằng Việt Nam cần tăng cường minh bạch hóa trong các dự định của chính phủ bằng việc công bố số liệu có chất lượng cao hơn và đúng thời điểm, để giúp các nhà đầu tư có thể dự báo tốt hơn về thị trường.

    Tờ thời báo tài chính nổi tiếng Financial Times chỉ ra 3 khó khăn mà các nhà đầu tư nước ngoài đang gặp phải tại Việt Nam: (1) khó khăn trong việc chuyển tiền về nước mình do tình trạng thiếu hụt USD thường xuyên; (2) bất động sản bị định giá quá cao; (3) thị trường chứng khoán khó tiếp cận bởi: trên thị trường chỉ có một số ít quỹ đầu tư do nước ngoài quản lý và được niêm yết, đồng thời có ít công ty môi giới tại Việt Nam đủ uy tín để các nhà đầu tư quốc tế cảm thấy thoải mái khi giao dịch.

    Hầu hết các ngân hàng đầu tư lớn đều bi quan trước triển vọng đầu tư ở Việt Nam vào thời điểm này. Báo cáo của UBS là minh chứng cho thái độ này, với một lời cảnh báo đầy nghi ngờ rằng Việt Nam "đang chứng kiến đợt tăng trưởng tín dụng lớn nhất mà chúng tôi từng được thấy trong hơn 80 nền kinh tế đang vươn lên mà chúng tôi theo dõi suốt hai thập niên vừa qua".

    Nhà kinh tế có trụ sở ở Hồng Kông, Jonathan Anderson, cảnh báo:

    Nếu nhà chức trách xử lý tốt tình huống và kiểm soát hoàn toàn tăng trưởng tín dụng nóng từ lúc này, thì sẽ tránh được một kết cục quá tồi tệ.

    Nếu không, các tình huống rủi ro nghiêm trọng hơn có thể sẽ xảy ra, bao gồm sự sụp đổ của hệ thống ngân hàng nội địa hoặc một cuộc khủng hoảng ngoại hối (external currency crisis) – với nhiều khả năng, theo chúng tôi, là trường hợp khủng hoảng ngoại hối sẽ xảy ra vì lý do: (i) Việt Nam đang duy trì cán cân thương mại và tài khoản vãng lai cực cao, ngay cả xét theo chuẩn EM, (ii) dự trữ ngoại hối chính thức đã sụt giảm đều đặn xuống một mức thấp, theo mức nhập khẩu và (iii) tiền Đồng đã liên tục chịu áp lực phá giá trong ba năm trở lại đây.

    Trong mọi trường hợp thì UBS, giống như nhiều ngân hàng đầu tư lớn khác, không có sự hiện diện nghiêm túc tại Việt Nam, sẽ tự động rút tên Việt Nam ra khỏi danh sách các nước nên đầu tư dành cho nhiều nhà đầu tư.

    "Hầu hết các tổ chức tài chính lớn đều không hoạt động ở Việt Nam và tình hình kinh tế vĩ mô ở đây trông tồi tệ đến mức họ nói rằng 'quên đi, hãy đi sang Indonesia, nơi mà sự minh bạch đã được cải thiện đáng kể từ sau năm 1997'", một nhà kinh tế đang làm việc tại Việt Nam cho biết.

    Nguồn: FT

    Chủ đề: Kinh tế

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    1 phản hồi

    Tư Giang - Chính sách tiền tệ một đàng, tài khóa một nẻo

    Mặc dù có nhiều ý kiến tranh luận chung quanh chính sách tiền tệ của Việt Nam, điều này chứng tỏ dù sao chính sách tiền tệ cũng rõ ràng, phơi ra trước mọi người để họ còn có ý kiến. Ngược lại, chính sách tài khóa không những thiếu vắng thông tin mà còn thiếu cả sự phối hợp với chính sách tiền tệ nữa.

    ...

    Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế Quốc hội Hà Văn Hiền chỉ rõ việc thắt chặt tín dụng, lãi suất tăng cao đã làm phần lớn các doanh nghiệp rất khó khăn về vốn cho sản xuất kinh doanh. Theo ghi nhận của ủy ban, lãi suất vay ngân hàng đã lên tới 17-18%/năm, có nơi lên tới 19-20%/năm trong quí 1, và vẫn còn ở mức cao phổ biến 13%/năm trong thời gian gần đây. Song, NHNN có thể làm gì?

    Họ đã và sẽ không thể làm gì, khi không có sự kết hợp với chính sách tài khóa. Điều trần với Ủy ban Thường vụ Quốc hội, ông Giàu nói, ông vẫn thường xuyên trao đổi với Bộ trưởng Tài chính Vũ Văn Ninh nhằm đảm bảo tính “liên thông, thống nhất” giữa hai chính sách này. Có lẽ, đó chỉ là lời biện bạch bởi trên thực tế, chính sách tài khóa vẫn không ngừng mở rộng. Hai khoản chi lớn nhất là chi thường xuyên, và chi đầu tư phát triển tăng tương ứng ở mức gần 7% và 43% so với dự toán năm 2010. Đó là một mức tăng kép rất cao, theo báo cáo của Chính phủ và đánh giá của Quốc hội. Một ví dụ khác, trong năm nay Chính phủ tăng cường bán trái phiếu, trị giá tới 68.000 tỉ đồng, vừa hút hết nguồn vốn của xã hội và doanh nghiệp, vừa không cách nào hạ lãi suất như chính Chính phủ mong muốn. Ông Hiển của Ủy ban Tài chính - Ngân sách nói: “Đầu tư từ ngân sách ngày một tăng và với tỷ trọng lớn thì sẽ rất khó điều hành kinh tế vĩ mô”.

    Nhưng đó mới chỉ là phần nổi của chính sách tài khóa, tức chi tiêu công. Phó chủ tịch Quốc hội Nguyễn Đức Kiên cho biết, chi tiêu công hiện nay không chỉ gói gọn trong cân đối ngân sách, mà còn nhiều con đường khác nhau, như sử dụng các loại chính sách, trái phiếu chính phủ, và các nguồn lực khác ngoài ngân sách nhà nước. Nhìn về phía Thống đốc NHNN và Bộ trưởng Tài chính trong phiên thảo luận hôm đó, ông Kiên nói: “Các đồng chí cần chú ý chi tiêu công. Những cái này là quả bom làm tăng lạm phát và tăng giá tiêu dùng”.

    Liên quan đến sự phối hợp giữa chính sách tài khóa và tiền tệ, Viện trưởng Kinh tế Việt Nam Trần Đình Thiên nhận xét: “Trong mấy năm vừa rồi chỉ mỗi chính sách tiền tệ là vất vả, trong khi chính sách tài khóa lại rất “ổn định” [trong mức chi]. Trong điều kiện khó khăn của nền kinh tế, lẽ ra chính sách tài khóa phải chịu một phần trách nhiệm, nhưng ngân sách vẫn cứ chi tiêu rất [thoải mái].

    Ông Hiển nhận xét: “Tính độc lập và ổn định về chính sách tiền tệ là thấp”. Phó chủ tịch Quốc hội Nguyễn Đức Kiên đồng ý điều này, nhưng thông cảm với Thống đốc Giàu: “Trong tất cả các loại khó khăn liên quan đến điều hành kinh tế, thì điều hành về tài chính tiền tệ là khó nhất”. Trước những lời an ủi này, ông Giàu phân trần: “Lãi suất cao vẫn là trăn trở của nhiều đời thống đốc NHNN, kể cả tôi, nhưng lạm phát cao nên việc xử lý không dễ”. Niềm trăn trở đó có lẽ sẽ vẫn còn được đặt ra với bất kỳ thống đốc nào, một khi cơ cấu của nền kinh tế vẫn còn như hiện tại, nhất là khi chính sách tài khóa không đồng hành với chính sách tiền tệ như hiện nay.

    Nguồn: Thời báo Kinh tế Sài Gòn