Phạm Viết Đào - Văn bản số 112/HD/BTGTW có sái với dự thảo Cương lĩnh Xây dựng Đất nước của BCHTW?

  • Bởi Admin
    14/10/2010
    2 phản hồi

    Phạm Viết Đào

    Không đăng và phát trên các phương tiện thông tin đại chúng những ý kiến phản bác chủ trương, đường lối, quan điểm của Đảng, về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, về học thuyết Mác - Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, về vai trò lãnh đạo của Đảng?

    (Văn bản số 112-HD/BTGTW do Ban Tuyên giáo Trung ương ban hành ngày 10/9/2010, Hướng dẫn việc công bố và lấy ý kiến góp ý của các tổ chức, cán bộ, đảng viên và nhân dân vào các dự thảo văn kiện Ban Chấp hành Trung ương (khoá X) trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng - sau đây gọi tắt là VB112)

    * * *
    Mọi đường lối, chủ trương của Đảng phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng quy luật khách quan. Phải phòng và chống những nguy cơ lớn: sai lầm về đường lối, bệnh quan liêu và sự thoái hóa, biến chất của cán bộ, đảng viên…

    (Dự thảo Cương lĩnh xây dựng đất nước trình Đại hội XI - sau đây gọi tắt là DTCL…)

    * * *

    Vừa qua Ban Tuyên giáo đã ban hành văn bản hướng dẫn việc lấy ý kiến góp ý của các tổ chức, cán bộ, đảng viên và nhân dân về các văn kiện trình Đại hội Đảng lần thứ XI bằng VB112. Khi đọc VB112, đến đoạn trích dẫn đã nêu trên, người viết bài này nhận thấy nội dung hướng dẫn này có khả năng sái với một nội dung hết sức quan trọng được nêu trong DTCL (nội dung cũng đã được trích ở trên).

    Theo cách hiểu của người viết bài này thì DTCL là văn bản gốc giống như văn bản luật, còn văn bản VB112 giống như văn bản nghị định, thông tư được ban hành để giải thích, cụ thế hóa và hướng dẫn việc chấp hành luật pháp. Trong hoạt động pháp lý thì một nguyên tắc pháp lý bắt buộc đó là: Nghị định, thông tư…văn bản dưới luật không được giải thích, cụ thế hóa và hướng dẫn sái, vênh với văn bản luật. Điều này tương tự với việc lấy ý kiến góp ý cho DTCL.

    Theo nhận thức của người viết bài này, VB112 yêu cầu các phương tiện thông tin đại chúng KHÔNG ĐƯỢC đăng phát những ý kiến phản bác 3 vấn đề được nêu trong các văn kiện trình Đại hội Đảng:

    - Chủ trương, đường lối, quan điểm của Đảng về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội (a)?

    - Về học thuyết Mác-Lê Nin và Tư tưởng Hồ Chí Minh (b)?

    - Về vai trò lãnh đạo của Đảng (c)?

    Về vấn đề (a): Xin đề nghị BTGTW làm rõ và cụ thế hóa thêm vấn đề này vì: Đảng đã chính thức, nêu cương lĩnh xác định con đường xây dựng đất nước theo con đường lối xã hội chủ nghĩa không chỉ từ sau Đại hội IV, từ sau khi đổi tên Đảng Lao động Việt Nam thành Đảng Cộng sản mà ngay từ năm 1930, với cái tên “cúng cơm“ lúc đó đã là Đảng Cộng sản Đông Dương. Đó là một đảng theo đường lối Mác-xít và đã đề ra cương lĩnh ngay từ đầu là giải phóng dân tộc khỏi ách thực dân, xây dựng một nhà nước công nông, nền tảng của nhà nước theo mô hình xã hội chủ nghĩa?!

    Thế nhưng từ khi ra đời đến nay, cương lĩnh đấu tranh, xây dựng thiết chế quản lý xã hội mỗi giai đoạn lại ban hành đường lối, chủ trương và nghị quyết khác nhau; mặc dù đều nhân danh học thuyết Mác Lê Nin, đều giương cương lĩnh xây dựng chủ nghĩa xã hội và đều do Đảng theo đường lối macxit lãnh đạo cả.

    Đã xảy ra hiện tượng: Có những chủ trương, đường lối, nghị quyết được ban hành trong đại hội kỳ trước đã bị đánh giá lại, thậm chí còn được khẳng định là sai lầm bởi đại hội, nhiệm kỳ khóa sau?! Xin nêu một số ví dụ:

    - Giương cương lĩnh: Trí, phú, địa, hào, đào tận gốc trốc tận rễ là nhằm tạo tiền đề, nền tăng cho sự liên minh công nông để liên minh này lên nắm quyền xây dựng một nhà nước vô sản; tiền đề cơ bản để làm nền tảng cho thiết chế xã hội chủ nghĩa. Nguồn gốc sâu xa của cương lĩnh trên được bắt nguồn từ câu kết của Tuyên ngôn Đảng Cộng sản do Mác biên soạn: Vô sản toàn thế giới liên hiệp lại.

    - Phát động cải cách ruộng đất, để người cày có ruộng cũng là để xây dựng cơ sở vật chất ở nông thôn, để tạo nền tảng cho công nông liên minh, nhằm đưa đất nước tiến lên xã hội chủ nghĩa; khi ban hành chủ trương này không một ai bảo đây là chính sách theo đường lối Maoit cả?!

    - Khi kêu gọi bà con tập trung đất đai, tư liệu sản xuất vào hợp tác xã, cải tạo triệt để công thương nghiệp tư sản tư doanh, đánh cho giai cấp tư sản dân tộc “tróc vi lò vảy“ cũng là để tạo nền tảng, cơ sở kinh tế xã hội cho sự vững chắc của nhà nước công nông; để xây dựng xã hội chủ nghĩa chứ đâu phải xây dựng những “trại tập trung“?

    - Ban hành chủ trương về giá lương tiền làm rối loạn nền kinh tế giai đoạn trước năm 1985…

    - Tập trung tư liệu sản xuất triệt để dẫn đói kém, cảm thấy xây dựng xã hội chủ nghĩa kiểu này sẽ đẩy dân hoặc là chết đói, hoặc muốn sống phải liều mạng ra biển để di tản ra nước ngoài, nên lại ban hành Nghị quyết 10, khoán sản phẩm đến người lao động. Và rồi giai đoạn này rất không ít các nhà lý luận lại lớn tiếng: Đây mới là mô hình quản lý theo kinh tế xã hội chủ nghĩa thứ thiệt?!

    Hiện tại, trong DTCLCT đoạn viết về đường lối kinh tế được trình bày như sau: ”Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo. Kinh tế tập thể không ngừng được củng cố và mở rộng. Kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân. Kinh tế tư nhân là một trong những động lực của nền kinh tế. Các hình thức sở hữu hỗn hợp và đan kết với nhau hình thành các tổ chức kinh tế đa dạng ngày càng phát triển.

    Thứ nhất: dù là một nền kinh tế kể khổng lồ, số một của thế giới như kinh tế Mỹ thì vẫn nhận thấy không khác gì một cái chăn có định lượng. Cái chăn định lượng đó giả dụ quy định dùng cho hai người, nếu người này đắp quá lên thì người kia buộc phải hở sườn, hở mông chứ làm sao mà cả hai đều thỏa sức phát triển vùng “ chăn” chiếm hữu của mình?

    Nếu xác định: nền kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo thì tất yếu nó sẽ dồn, sẽ hạn chế các khu vực kinh tế tập thể, kinh tế tư nhân teo dần; không thể có chuyện hai bên cùng nhau phát triển vững chắc được trong có một cái chăn đã được định lượng: bên này mạnh thì bên kia phải yếu; âm đã thịnh thì dương phải suy. Nhà nước đã mạnh thì tập thể, tư nhân sẽ bị triệt tiêu, teo dần…

    Bản thân các quan hệ kinh tế là quan hệ cạnh tranh chứ không phải là quan hệ trong một nhà thờ, giòng tu hay quan hệ mặt trận.

    Một quốc gia, một nền kinh tế cũng như một ngôi nhà chỉ có thể có một thứ nền tảng mà thôi; một ngôi nhà có hai khu vực nền tảng thì sẽ có độ chịu lực không đồng đều; theo nguyên lý vật lý chịu ứng lực, nước dồn chỗ trũng, áp lực sẽ dồn vào chỗ yếu dẫn đến nghiêng và ngôi nhà sớm muộn cũng bị nứt vỡ, đổ sập. Đã nêu kinh tế nhà nước là nền tảng thì tập thể, tư nhân chỉ là kinh tế bổ trợ.

    Theo các nguyên lý của khoa học tự nhiên thì nền tảng có trước, động lực là cái có sau; động lực là sự thăng hoa trên cơ sở một nền tảng đã được xác lập vững chắc. Người ta biết lẫy, biết bò, biết đi, biết được các luật lệ đường đi nước bước xung quanh mình rồi, kiếm được nhiều tiền rồi, cần phải nâng cấp sự phát triển nên phải tính đến việc mua sắm những phương tiện như xe máy, ôtô hay các phương tiện động cơ để gia cường động lực phát triển.

    Khi nêu khái niệm: ”Kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân. Kinh tế tư nhân là động lực” là một khái niệm phi khoa học và phản kinh tế. Ngay ý kiến này đã chứng tỏ những người biên soạn ra nội dung này hoàn toàn sách vở, giáo điều, hiểu không thấu đáo và chính xác các nội hàm kinh tế; sai trái với quy luật giá trị của kinh tế thị trường.

    Bởi vì về phương diện triết học cũng như khoa học thì động lực cao hơn nền tảng, trên nền tảng chứ không thể là cái đuôi ăn theo, bám nhờ vào nền tảng được. Nền tảng có phát triển thăng hoa lên được phải có động lực, động cơ thúc đẩy; và đến lượt động lực, động cơ lại phải dựa trên nền tảng để có thể chế tạo ra loại động cơ tương thích để huy động sức thăng hoa, phát triển của nền tảng. Nền tảng chỉ có xăng A 92 như động cơ lại là động cơ máy bay thì làm sao động cơ, động lực vận hành được. Mối liên hệ liên kết giữa nền tảng và động lực theo người viết bài này hiểu là như vậy.

    Nếu hiểu thấu đáo về các nội hàm và thiết chế kinh tế xã hội cũng như khoa học kỹ thuật thì: kinh tế nhà nước phải trở thành động lực, nếu xác định đây là mô hình quản lý kinh tế xã hội chủ nghĩa; kinh tế tư nhân chỉ là nền tảng thì mới đúng. Còn nêu như trong DTCL là tréo ngoe.

    Sau khi đã đứng vững được trên cái nền tảng do sự tự trưởng thành vể thế chất, trí tuệ, lúc đó anh mới tính tới việc nâng cấp đôi chân, đôi tay bằng việc sử dụng các phương tiện giao thông có động cơ như xe máy, như ôtô..

    Phải tạo ra một thiết chế xã hội đẻ con người biết làm ăn bình thường, sau đó tiến lên cao cấp hơn thiết chế cao hơn, tập hợp nhau lại thành thiết chế xã hội xã hội chủ nghĩa: có sự phân công phân nhiệm, chia vùng trách nhiệm mang tính tự giác cao; đó mới là quy luật phát triển thông thường. Cần phải hiểu mô hình phát triển kinh tế theo đường lối xã hội chủ nghĩa là một mô hình quản lý đòi hỏi tính tự giác cao của các thành viên trong guồng máy.

    Nếu hiểu đường lối kinh tế xã hội chủ nghĩa đồng nghĩa với chế độ sở hữu tư liệu sản xuất toàn dân, kinh tế nhà nước, tập thể là chủ đạo, là nền tảng thì kinh tế tư nhân chỉ là phụ trợ và vệ tinh. Đến giờ phút này mà chúng ta thử đối chiếu cái nguyên lý đã được “đóng đinh“ trong DTCL với thực tế đang diễn ra trong đời sống xã hội: các doanh nghiệp nhà nước đang nắm trên 60 vốn liếng xã hội và nhiều lợi thế khác nhưng chỉ đóng góp được cho GDP có 40%; đây là số liệu mà nhiều chuyên gia kinh tế còn chưa tin là con số xác thực.
    Lê Nin nói đại ý: phương thức sản xuất này muốn thắng phương thức sản xuất kia thì phải chứng minh được bằng kết quả cuối cùng đó là năng suất lao động, thành quả lao động. Vậy với những gì đang diễn ra trong đời sống kinh tế: Sau PMU 18 rồi đến Vinashin và hàng loạt những vụ án kinh tế làm chấn động dư luận gần đây, chúng ta sẽ thấy vai trò động lực của kinh tế nhà nước như thế nào và có nên tiếp tục duy trì, cổ súy cho những con bệnh chứa chấp những khối u ác, những con bệnh nhiệm độc máu trầm trọng mà không thể chôn, hủy?
    Vậy có cần phải thảo luận xem xét lại cái đường lối đã được nêu trong DTCL lần này không?

    Vậy thì các văn bản trình đại hội Đảng lần này, Ban Tuyên giáo (BTGTW) có đảm bảo rằng: Tất cả những điều được viết trong các văn kiện là duy nhất đúng, không có bất cứ sai lầm như mọi lần do đó buộc cán bộ, đảng viên và nhân dân chỉ được phép quán triệt, tuân chỉ và không được phép phản biện, phản bác, bàn cãi thêm?

    Nếu BTGTW khẳng định điều đó rồi thì trong Cương lĩnh không còn cần tới nội dung: “Mọi đường lối, chủ trương của Đảng phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng quy luật khách quan. Phải phòng và chống những nguy cơ lớn: sai lầm về đường lối, bệnh quan liêu và sự thoái hóa, biến chất của cán bộ, đảng viên…

    Về vấn đề thứ 2, tức (b) đó là: Học thuyết Mác - Lê Nin và Tư tưởng Hồ Chí Minh; ngay đối với học thuyết Mác, khi ra đời ông đã quan niệm đó là một học thuyết mở, do vậy sau này Lê Nin, Stalin, Mao Trạch Đông và Hồ Chí Minh mới vận dụng theo nhận thức và hoàn cảnh cụ thể của từng giai đoạn lịch sử của từng nước. Và khi đã vận dụng tất yếu phải có sự sáng tạo, thêm bớt. Do sự sáng tạo này mà dẫn tới những biến động chính trị dữ dội, tàn khốc tại các nước Liên Xô và Trung Quốc. Và do sự vận dụng sáng tạo nên thường đời sau, thế hệ sau mới có thể có được những kết luận khách quan, khoa học những điều phải trái, đúng sai.

    Sự lãnh đạo của Đảng được ghi trong DTCL lần này có đoạn: ”Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ, giới thiệu những đảng viên ưu tú có đủ năng lực và phẩm chất vào hoạt động trong các cơ quan lãnh đạo của hệ thống chính trị. Đảng lãnh đạo thông qua tổ chức đảng và đảng viên hoạt động trong các tổ chức của hệ thống chính trị, tăng cường chế độ trách nhiệm cá nhân, nhất là người đứng đầu. Đảng thường xuyên nâng cao năng lực cầm quyền và hiệu quả lãnh đạo, đồng thời phát huy mạnh mẽ vai trò, tính chủ động, sáng tạo và trách nhiệm của các tổ chức khác trong hệ thống chính trị”…

    Theo người viết bài này, đối với đoạn này trong DTCL cần phải bổ sung thêm một vài ý, nếu không sẽ trái với Điều 4 của Hiến pháp năm 1992 là điều quy định: Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.

    Theo ý kiến của người viết bài này, vì xuất phát từ nội dung này trong cương lĩnh là tiền đề để các đảng viên khi được cứ vào các trọng trách trong các cơ quan lãnh đạo của hệ thống chính trị rất dễ phạm sai lầm, thậm chí thoái hóa biến chất nhanh bởi họ không bị một “vòng kim cô“ nào quản chế, điều chỉnh; tức đứng ngoài vòng pháp luật.

    Nếu ban hành nội dung như trong VB112 thì BTGTW phải cam kết từ Đại hội này Đảng không sai về đường lối nữa, các cán bộ đảng viên được cử vào các cơi quan quản lý nhà nước đảm bảo có đầy đủ phẩm chất, không thoái hóa biến chất?! Nếu đúng như vậy thì điều này phải được ghi vào báo cáo chính trị Đại hội XI để kiểm chứng.

    P.V.Đ

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    2 phản hồi

    Xuân Mai viết:
    Nhà văn Phạm Viết Đào sai rồi.
    Đảng là đạo đức, là văn minh, vì thế không cần ai phải đóng góp cả, các người đóng góp có tử tế gì đâu, toàn chê Đảng không à? như vậy là không có ý thức xây dựng Đảng, lợi dụng tự do dân chủ để tuyên truyền chống phá Đảng.

    Bạn Xuân Mai sai rồi.

    Đạo đức được xem là khái niệm.
    Morality (from the Latin moralities "manner, character, proper behavior") is a sense. ( http://en.wikipedia.org/wiki/Morality )

    Đảng phái chính trị (thường được gọi vắn tắt là chính đảng hay đảng) là một tổ chức chính trị tự nguyện với mục tiêu được một quyền lực chính trị nhất định trong chính quyền, thường là bằng cách tham gia các chiến dịch bầu cử.

    Đảng CSVN chỉ là một đảng phái chính trị, một tổ chức cụ thể.
    Một tổ chức cụ thể KHÔNG thể nào là một khái niệm được

    Nhà văn Phạm Viết Đào sai rồi.
    Đảng là đạo đức, là văn minh, vì thế không cần ai phải đóng góp cả, các người đóng góp có tử tế gì đâu, toàn chê Đảng không à? như vậy là không có ý thức xây dựng Đảng, lợi dụng tự do dân chủ để tuyên truyền chống phá Đảng.