Khi người khổng lồ... lâm bệnh: Phần II - Tức nước vỡ bờ

  • Bởi Admin
    13/10/2010
    1 phản hồi

    Võ Tá Hân

    Dấu vết rạn nứt

    Qua năm 1989 thì người ta bắt đầu cảm thấy có một sự gì bất ổn khi việc giá đất gia tăng khủng khiếp đã đưa đến một hố cách biệt lớn giữa người có nhà và kẻ chưa mua được nhà. Những người may mắn tậu nhà trước khi giá đất tăng vọt nay bỗng trở nên giàu sụ. Kẻ chưa nhập cuộc thì mua được một ngôi nhà dường như là một giấc mộng ngày càng vụt xa tầm tay vì nếu vay được tiền thì thời gian trả nợ phải kéo đến... 100 năm!

    Nhìn vào bảng quyết toán của các công ty, nếu loại bỏ đi số gia tăng do bất động sản thì từ năm 1980 đến 1989, lợi nhuận từ hoạt động chính của công ty thực sự chỉ tăng khoảng 2% một năm mà thôi. Hầu như tất cả tiền công ty vay thêm đều được đổ vào mua cơ sở văn phòng mới hoặc mua cổ phiếu các công ty khác. Và công ty khác này lại cũng vay tiền để mua cổ phiếu của các công ty khác nữa, nói chung là mọi người chỉ... mua cổ phiếu của nhau và điều này không đóng góp gì vào sự phát triển kinh tế cả. Giá chứng khoán cũng như giá nhà đất, cứ thế mà lên cao đến chóng mặt.

    Bộ tài chính can thiệp

    Cuối tháng 12/1989, chỉ số Nikkei lên đến gần 39.000, một mức cao chưa hề thấy. Tuy nhiên, bước sang ngày đầu năm 1990 thì giá chứng khoán bắt đầu giảm và cứ thế mà đổ dốc sau khi Bộ Tài chính quyết định can thiệp bằng cách ra chỉ thị buộc các ngân hàng hạn chế cho vay để mua bất động sản.

    Không khác một đoàn xe hơi đang chạy hết tốc độ mà chiếc xe của Bộ Tài chính dẫn đầu lại thắng gấp, thế là cả đoàn đều đâm vào nhau dồn cục. Biện pháp chống đầu cơ này đã đột ngột làm nổ cái bong bóng, chấm dứt ngay cơn sốt nhà đất. Những dự án xây cất khổng lồ đều bị bỏ ngang. Thế chấp ngân hàng thoáng chốc trở nên vô giá trị. Giá cổ phiếu cũng theo đó mà sụp đổ nhanh chóng.

    Nền kinh tế Nhật bắt đầu khựng lại từ năm 1992, khiến các ngân hàng, công ty bảo hiểm và công ty môi giới cổ phiếu bị ảnh hưởng trầm trọng. Dưới áp lực của Mỹ, đồng yên vẫn được tiếp tục nâng cao và chỉ trong vàu tháng đầu năm 1993 lại tăng 15% so với đô la Mỹ khiến hàng Nhật tiếp tục trở nên đắt hơn nữa. Tuy vậy, mối quan hệ Mỹ - Nhật vẫn còn gay gắt vì cán cân thương mại giữa hai nước vẫn không hề thay đổi mấy.

    Mọi người tìm cách che giấu lỗi lầm

    Vấn đề đã xấu lại càng trở nên tệ hơn khi giới chức có thẩm quyền đã cùng tìm cách che giấu sự thật. Trong suốt 5 năm trời, Bộ Tài chính và các ngân hàng dường như đã có "một thỏa thuận ngầm" tránh không công bố mức nợ xấu vì ngại dân chúng hoảng sợ mà rút tiền ra khỏi ngân hàng. Số nợ xấu của các công ty, do đó được kín đáo chuyển vào những tài khoản nợ "đặc biệt" qua những phương cách kế toán tài tình.

    Nhiều tập đoàn lớn lại còn trả tiền cho những băng đảng gọi là sokaiya. Tại các cuộc họp hội đồng cổ đông hàng năm, hễ có ai đặt những câu hỏi khó trả lời thì nhóm sokaiya sẽ la ó om sòm đòi hỏi cuộc họp tiếp tục mà không cần giải thích vì... làm mất thời giờ. Mặc cho những dấu hiệu bất thường quá hiển nhiên trong sổ sách, các đoàn thanh tra cũng không hề đưa ra ánh sáng và các kiểm toán viên cũng đều ngậm miệng.

    Mối liên hệ mật thiết giữa các viên chức công ty và chính phủ bắt đầu từ những năm thịnh vượng trước đây, giờ lại tiếp tục và mọi người cùng cố gắng che giấu lỗi lầm cho nhau. Các thành viên trong hội đồng quản trị hầu như được coi là các lãnh chúa thời nay, và một khi lãnh chúa có lầm lỗi thì công ty phải ráng bảo vệ bằng mọi cách. Cứ thế mà mọi người đều cố tìm cách che giấu sự thật cho tới cùng!

    Tức nước vỡ bờ!

    Với tình hình kinh tế của các nước châu Á bước vào giai đoạn khó khăn thì việc che giấu sự thật không còn dễ dàng và sau cùng thì những thủ đoạn lừa đảo đều bị phơi bày. Năm 1997, nhiều đoàn thanh tra chính phủ được đưa đến các công ty chứng khoán lớn nhất và sau đó các công ty này bị truy tố là đã hố lộ, nâng giá cổ phiếu giả tạo và che giấu nợ. Sanyo Securities, công ty môi giới cổ phiếu lớn nhất, tưởng rằng họ sẽ được chính phủ trợ giúp để trả những món nợ khổng lồ, lại là công ty đầu tiên gặp thất vọng! Ngày 3/11/1997 Sanyo Securities tuyên bố phá sản. Cũng trong tháng 11, Yamaichi Securities, một công ty chứng khoán có uy tín được thành lập hơn 100 năm, cũng tuyên bố đóng cửa sau khi chính phủ khám phá là họ đã che giấu một số nợ khổng lồ. Hình ảnh ông Tổng giám đốc của Yamaichi Securities khóc sướt mướt, dập đầu xin lỗi trước ống kính truyền hình được truyền khắp thế giới.

    Ngân hàng Nhật sụp đổ

    Sau các công ty chứng khoán thì đến lượt ngân hàng. Bốn ngân hàng đầu tiên, trong đó có ngân hàng Kỹ nghệ Nhật đã từng góp phần tái thiết nước Nhật sau thế chiến, bị buộc phải đóng cửa cũng chỉ vì những món nợ bất động sản khổng lồ không trả được. Mỗi ngân hàng sụp đổ lại kéo theo cả ngàn công ty, kể cả những công ty đang hoạt động tốt vì không thể trả lại số tiền vay ngay lập tức.

    Để trả nợ ngân hàng thì các công ty buộc phải bán bớt đất đai, tuy nhiên mảnh đất mang ra thế chấp nay chỉ còn một phần ba giá trị thôi. Để sống sót, họ phải sa thải nhân công đến mức tối đa. Chỉ trong một năm sau đó, 17.000 công ty đã phá sản và số người mất việc gia tăng khủng khiếp. Sự sụp đổ đến quá nhanh khiến mọi người đều kinh ngạc. Một cựu tổng giám đốc tập đoàn lớn phải than rằng: "Chúng tôi không thể tưởng tượng được là làm ăn trong thị trường kinh tế tự do lại khủng khiếp đến như vậy. Sự sụp đổ đã đến quá nhanh".

    Các viên chức Bộ Tài chính cũng nhìn nhận một cách chua chát là họ không thể nào ngờ được rằng bất động sản ở Nhật lại có thể mất giá đến 70% chỉ trong gần tám năm. Họ cho rằng lỗi của mình là đã quá yếu vì đã không dám chọn những quyết định can đảm, liều lĩnh đúng mức.

    Thế là thoáng chốc mọi việc đều đổi ngược. Những công nhân trước đây đã từng xây nhà cao tầng đóng góp vào cái công tác, nay sống vất vưởng ngoài đường. Những công ty đã từng trả những món tiền khổng lồ để mua tranh quý nay phải bán tống bán tháo chúng đi. Tòa nhà Rockefeller ở New York lại trở về tay người Mỹ và giá đất Tokyo hạ tới 90%. Người Nhật chợt khám phá ra một điều là thực sự họ chưa hiểu rõ kinh tế thị trường và thiếu kinh nghiệm, vì lâu nay đã được chính phủ bảo bọc qua những luật lệ và hệ thống cứng nhắc. Cái lâu đài kinh tế và sự thành công của họ dường như chỉ là ảo ảnh.

    money.jpgLà một người Nhật thì nói vắn tắt, nếu bạn mua một ngôi nhà trị giá 1 triệu đô la Mỹ cách đây 10 năm thì giờ đây ngôi nhà ấy chỉ đáng giá khoảng 300.000 đô la Mỹ. Bán ra thì không đủ để trả nợ vì thế ngân hàng cũng không nỡ xiết. Bạn cũng không dám thay dổi công việc, donhj nhà đi xa vì nếu phải bán nhà thì kẹt, do đó ai cũng chỉ mong được giậm chân tại chỗ và tháng tháng cố gắng trả tiền lãi. Nếu không may bị mất việc thì quả là một thảm họa cho gia đình. Nếu đã mua cổ phiếu thì số phận cũng không khá hơn vì tính ra từ năm 1990 chỉ số Nikkei ở mức 39.000 đến tháng 2/2002 chỉ số Nikkei ở mức 10.093, mất khoảng 74% trị giá, nghĩa là mua 1 triệu đô la Mỹ thì nay chỉ còn 260.000 đô la Mỹ.

    Phải "gỡ rối nên kinh tế" ra sao đây? Đó là một vấn đề cực kỳ rắc rối mà nhiều nội các Nhật đã cố gắng trong những năm vừa qua cũng vẫn chưa tìm được lối thoát. Hàng loạt biện pháp đã được thử nghiệm nhưng đều thất bại. Hàng tỉ đô la đã được đổ vào thị trường nhằm vực dậy nền kinh tế nhưng đều vô hiệu mà lại khiến chính phủ mang thêm nợ. (Tổng số nợ quốc gia lên đến 666.000 tỉ yên, chiếm 140% của tổng sản phẩm quốc gia - GNP). Trong lúc đó vì lý do sống còn, các công ty Nhật vẫn liên tục chyển các bộ phận sản xuất của họ ra nước ngoài để giảm chi phí sản xuất và hiện tượng khoét rỗng cơ cấu kinh tế này khiến số thất nghiệp trong nước tiếp tục gia tăng.

    Chính phủ Mỹ trước đây luôn thúc đẩy Nhật tăng trị giá đồng yên, nay cũng đành phải "làm ngơ" để cho người bạn đồng minh của mình phá giá đồng yên. Việc đồng yên mất giá sẽ giúp hàng Nhật cạnh tranh được, nhưng lại đưa đến những vấn đề nhức nhối khác. Trước tiên là những nhà đầu tư nước ngoài đều muốn rút tiền ra khỏi thị trường Nhật. Kế đó thì những người bạn láng giềng như Trung Quốc có thể sẽ nóng mặt "trả đũa" bằng cách phá giá đồng tiền của mình, đưa đến những ảnh hưởng dây chuyền lớn, nhất là đối với các nước châu Á.

    Riêng ở Nhật thì hậu quả của cái bong bóng vỡ vượt xa lĩnh vực kinh tế. Nó bắt người Nhật xét lại toàn bộ hệ thống đã giúp mình thành công trong bao nhiêu năm. Chính phủ Nhật đã lên tiếng báo động về nhu cầu cần cải tổ toàn bộ hệ thống từ kỹ nghệ, quản lý, chính trị và giáo dục. Tuy nhiên, người dân Nhật nay trở nên hoài nghi và không còn biết tin vào ai nữa.

    Hoạt động ngân hàng, bất động sản, và cổ phiếu là những động cơ chính của một nền kinh tế, mà nếu không biết quản lý một cách khéo léo thì không khác gì đưa toàn bộ nền kinh tế... leo lưng cọp mà không biết đường xuống. Nói chung thì cái gì thái quá cũng đều có hại. Ngân hàng không thể được coi như là những công ty chuyên "buôn bán tiền" với mục đích duy nhất là hoàn toàn sống vì lợi nhuận, mà cần phải được quản lý để nhận thức trách nhiệm hầy góp phần trong việc điều tiết, không để giá nhà đất cũng như cổ phiếu lên xuống thất thường. Thị trường đất đai, chứng khoán cũng không thể để biến thành những "sòng bạc" khổng lồ vì cái lợi cho một nhóm nhỏ. Và cái hào nhoáng ngắn hạn sẽ không thể nào trả giá được cho những hậu quả khôn lường cho tập thể trong tương lai.

    Thời kỳ bong bóng kinh tế

    Thời kỳ bong bóng kinh tế của Nhật Bản kéo dài 4 năm 3 tháng, từ tháng 12 năm 1986 đến tháng 2 năm 1991. Kinh tế Nhật Bản thời kỳ này có những đặc điểm như đồng Yên cao giá so với Dollar Mỹ, tốc độ tăng trưởng GDP thực tế cao, tỷ lệ lạm phát cao, tỷ lệ thất nghiệp thấp, giá tài sản (bất động sản lẫn tài sản tài chính) cao, tiêu dùng mạnh.

    Nguyên nhân khiến bong bóng kinh tế hình thành có nhiều. Nguyên nhân đầu tiên là việc Yên lên giá sau Thỏa ước Plaza (năm 1985) gây khó khăn cho các nhà xuất khẩu của Nhật Bản và đe dọa tăng trưởng kinh tế của nước này. Ngân hàng Nhật Bản đã phải thực hiện chính sách tiền tệ nới lỏng (hạ lãi suất) để đối phó với điều đó, nên tính thanh khoản cao quá mức hình thành. Kết quả là kinh tế tăng trưởng mạnh và đầu cơ tài sản bắt đầu làm tăng giá tài sản. Mặt khác, các nhà đầu tư bắt đầu thay đổi danh mục đầu tư của mình khi tỷ giá Yên/Dollar thay đổi và nhất là sau sự kiện Ngày thứ Hai đen tối trên thị trường chứng khoán Mỹ. Họ giảm đầu tư vào tài sản của Mỹ và tăng đầu tư vào các tài sản của Nhật Bản. Giá tài sản trong đó có giá cổ phiếu và trái phiếu công ty tăng kích thích xí nghiệp đầu tư. Lạm phát tăng tốc kích thích tiêu dùng. Bong bóng kinh tế nói chung và bong bóng giá tài sản chỉ được nhận ra sau khi chúng bắt đầu vỡ vào đầu thập niên 1990.

    Đồng Yên tăng giá đã kích thích các xí nghiệp của Nhật Bản đầu tư trực tiếp ra nước ngoài. Nó cùng với việc người Nhật trở nên giàu hơn đã kích thích họ mua các tài sản của nước ngoài (chẳng hạn như mua xưởng phim của Mỹ, mua các tác phẩm hội họa nổi tiếng) và đi du lịch nước ngoài.

    Các ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác của Nhật Bản sau một thời gian dài đầu tư vào các xí nghiệp trong khu vực chế tạo thì đến thời kỳ này bắt đầu đầu tư vào các tài sản tài chính. Họ cũng tích cực cho vay đối với các dự án phát triển bất động sản. Họ còn sẵn sàng chấp nhận các tài sản tài chính và bất động sản làm thế chấp khi cho các xí nghiệp và cá nhân vay. Đây chính là một trong những nguyên nhân chủ yếu khiến các tổ chức tín dụng của Nhật Bản sau này mắc phải tình trạng nợ khó đòi khi bong bóng kinh tế và bong bóng giá tài sản vỡ.

    Năm 1989, Nhật Bản nâng thuế suất thuế tiêu dùng. Cùng năm Iraq xâm lược Kuwait dẫn đến Chiến tranh vùng Vịnh khiến giá dầu lửa tăng vọt. Tháng 10 năm 1990, Ngân hàng Nhật Bản thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt. Bong bóng kinh tế vỡ vào năm 1991 và bong bóng giá tài sản vỡ vào năm 1992.

    Trì trệ kinh tế kéo dài


    Thiểu phát và giảm phát trong thời kỳ trì trệ kinh tế kéo dài.

    Sau khi bong bóng kinh tế vỡ đầu thập niên 1990, kinh tế Nhật Bản chuyển sang thời kỳ trì trệ kéo dài. Tốc độ tăng trưởng GDP thực tế bình quân hàng năm của giai đoạn 1991-2000 chỉ là 0,5%[6] - thấp hơn rất nhiều so với các thời kỳ trước.

    Có sự tranh luận về nguyên nhân khiến kinh tế Nhật Bản trì trệ liên tục hơn 10 năm.

    Một số tranh luận cho rằng nguyên nhân nằm ở phía cung của nền kinh tế, cụ thể là do tỷ lệ tăng trưởng tiềm năng[7] của Nhật Bản giảm sút. Những người theo trường phái trọng cung cho rằng: tất cả các yếu tố đầu vào là năng suất tổng nhân tố, tư bản, số lao động có việc làm, và thời gian lao động đều đồng loạt giảm là những nhân tố trực tiếp làm tỷ lệ tăng trưởng tiềm năng của Nhật Bản giảm đi. Các chủ thể kinh tế không nhận thức kịp thời sự giảm sút của tỷ lệ tăng trưởng tiềm năng, nên đã có xu hướng đầu tư thiết bị và thuê mướn lao động quá nhiều, gây ra hiện tượng dư cung.[8]

    Những người theo trường phái trọng cầu (chủ nghĩa Keynes) cho rằng, nguyên nhân của trì trệ kinh tế ở Nhật Bản là do có khoảng cách giữa tổng cung và tổng cầu khiến cho mức tăng trưởng thực tế thấp hơn mức tăng trưởng tiềm năng. Trì trệ kéo dài là vì nền kinh tế liên tục nằm trong các pha suy thoái của những chu kỳ kinh tế (pha suy thoái có xu hướng dài hơn trong khi pha phục hồi có xu hướng ngắn đi). Chính những chính sách tài chính và tiền tệ kích cầu của Nhật Bản được tiến hành không đủ mức và không kịp thời đã khiến cho nền kinh tế Nhật Bản không thoát ra hẳn khỏi suy thoái do bong bóng kinh tế tan vỡ, và tiếp theo là rơi vào một vòng xoáy ác tính mà hậu quả tai hại là mắc vào cái bẫy thanh khoản và giảm phát.[9]

    Theo Wikipedia

    Chủ đề: Kinh tế, Thế giới

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    1 phản hồi

    Phản hồi: 

    Chào Dân luận! tôi thực sự thích thú và cảm ơn quý diễn đàn đã cho đăng tải bài báo" khi người khổng lồ... lâm bệnh".Vì một lý do đặc biệt tôi không thể chuyển tải toàn bộ bài này vào cong-ly.com nên rất thiết tha đề nghị quý diễn đàn chuyển tới giúp, để cho đồng bào Việt nam ở Kharkov Ucraina tham khảo và để hiểu rõ hơn cái miệng vực do tập đoàn maphia người Việt do Vượng-Lam-Bình cận-Thái-Quân đã,đang và tiếp tục xô đẩy bà con tới đó.Xin chân thành cảm ơn.