Hà Văn Thịnh - Nỗi buồn sử học

  • Bởi Admin
    13/10/2010
    5 phản hồi

    Hà Văn Thịnh

    Đại lễ ngàn năm dẫu có tốn thời gian, công sức và tốn tiền bạc cách mấy thì cũng đã “xong” rồi. Tuy nhiên, nhân chuyện này, tôi muốn bày tỏ đôi lời về Nỗi buồn Sử học.

    1. Trong cách nghĩ của tôi, các nhà sử học Việt Nam (cụ thể là không dưới 500 GS, PGS, TS chuyên về lịch sử Việt Nam cổ trung đại) đã không làm tròn bổn phận sống, nghĩa vụ công dân, trách nhiệm khoa học của mình. Tại sao nghiên cứu cả đời mà cho đến tận bây giờ, chẳng có ai phân định được ông nội của Lý Công Uẩn là ai, gia phả thế nào? Chúng ta kỷ niệm rình rang một vị vua có tầm nhìn xa ngái, biết cái lẽ chọn Kinh đô tuyệt vời, hợp đạo trời, thuận lòng người nhưng lại không biết ông từ đâu sinh ra, gia phả ra sao? Sự mù mờ đó của tri thức là điều khó chấp nhận, nhất là trong cái “lý” ngàn đời của mọi dân tộc trên thế giới, hai từ “mất gốc” luôn đậm tính ê chề. Tôi biết bài mới nhất nói về lai lịch của Lý Công Uẩn là bài của nhà nghiên cứu Trần Viết Điền, đăng trên Khoa học và Đời sống (7.10). Sở dĩ “mất gốc” (từ dùng của Trần Viết Điền) là vì 8 năm sau khi dời đô, Lý Thái Tổ mới phong Hậu cho bà nội, còn ông nội của nhà vua thì… không(!); do đó, chẳng ai biết ông nội của vua Thái Tổ là ai? Tôi không muốn nhắc đến hai từ vừa nêu nhưng buộc phải nói bởi nếu các nhà sử học không chứng minh được thì có nghĩa là chi? 500 nhà sử học có chức vị, danh phận không làm nổi điều không thực khó lắm là do đâu? Lịch sử không có chỗ cho sự nhập nhằng. Nếu bất cứ một sự kiện quan trọng nào mà giới sử học đều không thể phân định được giữa có và không thì đó chẳng phải là sử học nữa. Lẽ ra tôi đã đưa ý kiến này ra từ lâu nhưng tôi nghĩ nó không hợp và không đúng vì đặt vấn đề sớm quá sẽ đụng chạm đến niềm tự hào chính đáng về thủ đô, về Tổ quốc, giống nòi mà ai cũng có.

    2. Khi phim Lý Công Uẩn – Đường tới thành Thăng Long trở thành điểm nóng nhất trước lễ hội, có rất nhiều ý kiến cho rằng chừng nào các nhà sử học chưa lên tiếng thì chừng đó chỉ là “chúng ta tranh luận cho vui”(!) Cách đặt vấn đề như thế không phải là không có lý (những quan điểm trên được đưa ra sau khi tôi có viết một bài, nhan đề Đường tới phủ Khai Phong; nhưng chẳng ai công nhận tôi là nhà sử học. Cũng đúng thôi nên tôi cố ý chờ các nhà sử học đích thực lên tiếng). Câu trả lời là sự im lặng đáng sợ. tại sao lại thế? Nếu các chuyên gia lịch sử Việt Nam cổ trung đại cứ làm thinh quái ác như thế thì lấy ai “chỉ vẽ” cho dư luận đây? Tôi luôn cho rằng một khi dư luận xã hội tranh cãi về một điều gì đó thì bổn phận tất nhiên của những người trong chuyên môn gần nhất phải lên tiếng. Đó là cái thuộc tính tự nhiên của nghề nghiệp, của lương tâm khoa học. Mọi sự bao biện vì lẽ này hay lẽ khác chỉ là cách chạy trời trốn nắng mà thôi.

    3. Đọc bài Ngụy biện trên blog Đoan Trang nói về việc ông Dương Trung Quốc bênh vực cho bộ phim trên, nỗi đau buồn của tôi nhân lên gấp 3 lần. Tác giả Đoan Trang cho rằng Dương Trung Quốc đã ngụy biện theo cách dùng “sức ép bằng chứng” (Burden of Proof) hay theo cách nói của GS Nguyễn Văn Tuấn là “luận điệu ngược ngạo”. Đoan Trang có phải là nhà sử học hay không tôi không biết nhưng chị đã đúng vì Dương Trung Quốc sai nhiều lẽ. Thứ nhất, sự bênh vực của ông đến hơi khí muộn mằn. Chẳng lẽ nếu là sự thật mười mươi mà lại phải nghĩ lâu đến thế khi ai cũng biết sự nổi tiếng và thông minh của ông? Thứ hai; Dương Trung Quốc nói rằng “Nếu coi đó là biểu hiện không đề cao tinh thần dân tộc thì hãy đặt câu hỏi cho chính người đặt câu hỏi rằng họ mặc gì, đông đảo người dân và các quan chức cao cấp nhất lúc ấy ăn mặc ra sao”? Ông Dương Trung Quốc có nhầm không khi chính ông là Tổng Thư ký Hội Sử học Việt Nam mà lại bắt tất cả những người dưới tài mình, kém chức vụ mình phải đi trả lời thay ông? Tại sao ông không nói thẳng ra cho lũ dân đen biết họ sai và những lều sử học nửa vời như tôi được thông tỏ “đường ra, lối vào” của cái vườn đào thật lắm bổng lộc và đam mê? Thứ ba, dù cá nhân ông Dương Trung Quốc không muốn thì với tư cách là Tổng Thư ký, ông có quyền yêu cầu Viện Sử học hoặc một, một nhóm GS, TS nào đó đứng ra để giúp dư luận. Đây là trách nhiệm thiêng liêng của ông với tư cách kép là đại biểu Quốc hội. Chẳng lẽ hàng vạn công dân yêu cầu, băn khoăn, dáo dác mà một vị đại biểu của dân lại không nghe, không biết? Thứ tư, Trần Viết Điền là giảng viên khoa Vật Lý, Đại học Sư phạm Huế mà nghiên cứu về Lý Công Uẩn rành rẽ như thế (chưa luận đúng, sai), chẳng lẽ các nhà Việt Nam Học - Sử học như ông Dương Trung Quốc và các vị khác không phân định được, không áy náy hoặc xấu hổ một chút nào ư? Thứ năm, nhân bài viết của Đoan Trang, xin hỏi ông Dương Trung Quốc một câu hỏi rất nhỏ rằng bộ phim mà ông bênh vực là tốt hay xấu cho tinh thần dân tộc; đúng hay sai cho cái lẽ phụng thờ tiên tổ; thỏa đáng hay không cho cái nghĩa uống nước nhớ nguồn và có phù hợp với Tư tưởng Hồ Chí Minh hay không trong nguyên tắc của tinh thần độc lập, tự do?

    Giới sử học Việt Nam nếu cứ im lặng mãi hoài hoặc phát biểu nửa vời về sự thật lịch sử thì có còn khoa học lịch sử nữa hay không?

    Huế, 10.10.10.

    Chủ đề: Lịch sử

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    5 phản hồi

    Cho đến năm 937 AD,biên cương của vương quốc Nam Chiếu, mà phật giáo là quốc giáo,gồm cả vùng Sơn Tây Phú Thọ.Vương quốc tiếp sau là Đại Lý, phật giáo cũng là quốc giáo,có biên cương thu về Tuyên Quang Điện Biên.Cho đến thời nhà Nguyễn vùng Tây Bắc VN vẫn còn được cai trị bởi chieftains.Tại sao sử Việt tránh né không đề cập đến ???

    Khach doc viết:
    Đọc những gì Trần Việt Điền viết, có thể thấy các giả thiết về nguồn gốc Lý Công Uẩn không có gì thật sự đáng tin cậy.

    Chỉ với một số giả thiết như vậy mà Hà Văn Thịnh đã coi những tìm kiếm đó là có giá trị cao và phủ nhận hết giới sử học hiện hành thì quả là quá hấp tấp vội vàng.

    Lập luận của Hà Văn Thịnh cho rằng tìm kiếm nguồn gốc của Lý Công Uẩn là "việc nhỏ" rất không thuyết phục. Sử không thể được dựng lại từ các suy luận mơ hồ. Cho đến khi không có các chứng cứ thực sự thì các bí ẩn lịch sử vẫn là bí ẩn. Bao nhiêu chuyện gần đây còn chưa được hiểu hết, huống hồ nguồn gốc của một người sống cách đây ngàn năm. Chưa kể có thể bản thân người đó cũng chưa chắc đã thực sự biết nguồn gốc của mình.

    Hình như ông không đọc kỹ bài viết của ông Hà Văn Thịnh. Tôi chẳng thấy chỗ nào trong bài viết của ông Hà Văn Thịnh nói việc 'tìm kiếm nguồn gốc của Lý Công Uẩn là "việc nhỏ"' cả. Và tôi cũng không thấy trong bài viết của ông HVT chỗ nào cho thấy "Hà Văn Thịnh đã coi những tìm kiếm đó là có giá trị cao và phủ nhận hết giới sử học hiện hành" như ông đã quy kết.

    Đọc những gì Trần Việt Điền viết, có thể thấy các giả thiết về nguồn gốc Lý Công Uẩn không có gì thật sự đáng tin cậy.

    Chỉ với một số giả thiết như vậy mà Hà Văn Thịnh đã coi những tìm kiếm đó là có giá trị cao và phủ nhận hết giới sử học hiện hành thì quả là quá hấp tấp vội vàng.

    Lập luận của Hà Văn Thịnh cho rằng tìm kiếm nguồn gốc của Lý Công Uẩn là "việc nhỏ" rất không thuyết phục. Sử không thể được dựng lại từ các suy luận mơ hồ. Cho đến khi không có các chứng cứ thực sự thì các bí ẩn lịch sử vẫn là bí ẩn. Bao nhiêu chuyện gần đây còn chưa được hiểu hết, huống hồ nguồn gốc của một người sống cách đây ngàn năm. Chưa kể có thể bản thân người đó cũng chưa chắc đã thực sự biết nguồn gốc của mình.

    Ông Trần Việt Điền, người mà bác Thịnh nêu ở trên, là tác giả của bài này đây

    http://bee.net.vn/channel/1984/201010/Ly-Cong-uan-la-chau-noi-cua-su-quan-vung-Sieu-Loai-1772121/

    Lý Công Uẩn là cháu nội của sứ quân vùng Siêu Loại?
    10/10/2010

    - Nghiên cứu thời loạn thập nhị sứ quân, chúng tôi để ý một vị sứ quân chiếm cứ vùng Siêu Loại, có trung tâm Phật giáo Thuận Thành- Luy Lâu; đó là sứ quân Lý Lãng Công, tức là Lý Khuê, một vị hùng trưởng của miền đất nằm hai bờ sông Đuống.

    Lý Khuê hay Lý Lãng Công là sứ quân chiếm cứ miền đất Thổ Lỗi, sau gọi là Siêu Loại. Năm 967 ông bị tướng Lưu Cơ của Đinh Bộ Lĩnh ở Hoa Lư đánh bại.

    Theo thần tích ở xã Bình Sơn (Thuận Thành, Bắc Ninh) thì Lý Khuê đánh nhau với quân Đinh Bộ Lĩnh bị thua và tử trận ở làng Dương Xá. Theo thần tích đền thờ Lưu Cơ, còn ở làng Đại Từ, xã Đại Đồng, tỉnh Hưng Yên (đất Siêu Loại cũ) thì Đại Từ là nơi tướng Lưu Cơ của Đinh Bộ Lĩnh đóng quân và đánh dẹp sứ quân Lý Khuê. Thôn Dương Đanh của làng Dương Xá thờ Lý Lãng Công là thành hoàng của làng. Mộ của vị sứ quân này ở đâu? Con cháu của Lý Khuê còn không? Sứ quân Lý Khuê không có mối quan hệ với Phật tử nói chung và Lục Tổ Thiền Ông và thiền sư Vạn Hạnh nói riêng của chùa Lục Tổ hay sao?

    Dòng họ Lý được Phật giáo ủng hộ

    Miền Siêu Loại, Cổ Pháp xưa là các hương Thổ Lỗi, Diên Uẩn ở hai bờ sông Đuống, có trung tâm Phật giáo Luy Lâu, trung tâm đào tạo tăng tài Tiêu Sơn, đã phát triển hằng trăm năm với nhiều ngôi chùa cổ, với các vị sư tầm cỡ như Định Không, Thông Thiện, Đinh La Quí An, Thiền Ông, Vạn Hạnh… Sứ quân Lý Khuê đặt bản doanh ở Siêu Loại, đủ biết vị sứ quân này được lực lượng tín đồ tam giáo, đứng đầu là Phật giáo ủng hộ...

    Qua Thiền uyển tập anh ngữ lục, được biết Thiền sư ĐỊNH KHÔNG (730-808) thời thuộc Đường, người họ Nguyễn (thực ra là họ Lý), thuộc hương Diên Uẩn, giỏi thuật số, có khát vọng về hương Diên Uẩn của ngài được củng cố và phát triển, họ Lý của ngài sẽ làm vua, nước Việt độc lập và Phật pháp được chấn hưng. Khi sư dựng chùa Quỳnh Lâm ở quê nhà khoảng (785-805), đào được pháp khí cổ, sư giải đoán họ Lý về sau có người làm vua, có ý đổi tên hương Diên Uẩn thành hương Cổ Pháp.

    Tâm nguyện của thiền sư được ký gửi qua bài kệ:

    Pháp lại xuất hiện
    Thập khẩu đồng chung
    Lý thị hưng vương
    Tam phẩm thành công.
    Dịch:
    Pháp khí hiện ra
    Khánh đồng mười tấm
    Họ Lý làm vua
    Công đầu Tam phẩm

    Trong bài kệ dự đoán, câu cuối “Tam phẩm thành công” được dịch “Công đầu tam phẩm” phải chăng chưa ổn? Họ Lý hưng thịnh, quan đến tam phẩm mới lập công thì có gì đáng kể mà phải viết thành kệ rồi “truyền thừa” cả trăm năm! Ở đây có thể hiểu “Tam phẩm” là “ba đời họ Lý uy vọng” mời thành công nghiệp đế vương.

    Sư Định Không đã dặn dò đệ tử là thiền sư Thông Thiện: “Ta muốn mở mang hương ấp, nhưng sợ ngày sau gặp nạn, tất có dị nhân đến phá hoại mạch đất của hương ta. Sau khi ta qua đời, ngươi khéo giữ đạo pháp của ta để sau gặp người họ Đinh thì truyền lại. Thế là ý nguyện của ta được toại thành”.

    Tượng đài vua Lý Công Uẩn

    Quả “dị nhân đến phá hoại mạch đất” là Cao Biền. Đệ tử Thông Thiện đã truyền “pháp ý” của sư Định Không cho đệ tử của mình là Trưởng lão Đinh La Quí An (852-936). Thiền sư họ Đinh này đã phá thuật yểm đất của Cao Biền ở hương Diên Uẩn (Cổ Pháp), căn dặn đệ tử là thiền sư Thiền Ông (902-979) (họ Lữ, người hương Cổ Pháp) về những pháp thuật “tài bồi thiên đức” cho vọng tộc Lý của hương Cổ Pháp...

    Và tất nhiên Thiền Ông đã truyền “tâm nguyện” của các tổ Định Không, Thông Thiện, Đinh La Quý An cho thiền sư Vạn Hạnh (939(?)-1025) và Vạn Hạnh đã hoàn thành rất xuất sắc “sứ mạng” mà các tổ giao phó.
    Đưa người họ Lý lên làm vua là “chiến lược trăm năm” được vạch từ thời thiền sư Định Không. Sứ quân Lý Khuê chiếm cứ vùng Siêu Loại, sát hương Cổ Pháp, để trở thành sứ quân Lý Lãng Công (966-967) là một mắt xích trong “chiến lược trăm năm”, được thầy trò Thiền Ông- Vạn Hạnh đang ở chùa Tiêu Sơn điều hợp…

    Khát vọng minh quân

    Chùa Thiên Tâm trên núi Tiêu Sơn, vào đầu thế kỷ X, theo Thiền uyển tập anh, là nơi tập trung các vị sư, có khát vọng về một vị minh quân ra đời, nhằm chấn hưng xã hội nói riêng và Phật Giáo nói chung và tất nhiên có niềm khát vọng độc lập cho nước Việt.

    Trưởng lão Đinh La Quý An của chùa Thiên Tâm, biết phong thủy, giỏi Thái ất đã vận động những người hằng tâm hằng sản, lấp sông, hồ nhằm triệt phá những huyệt yểm của Cao Biền, bổ cứu long mạch đế vương của hương Cổ Pháp (Diên Uẩn), thậm chí đã dự đoán họ Lý hương Cổ Pháp sẽ làm vua. Thật vậy nhà nghiên cứu Nguyễn Minh Khôi từng trích Thiền uyển tập anh: “"…

    Trước khi viên tịch, Trưởng lão Đinh La Quý An gọi đệ tử là Thiền Ông đến dặn rằng, trước đây Cao Biền đắp thành Đại La ở sông Tô Lịch, biết đất Cổ Pháp ta có khí tượng vương giả bèn đào sông Điền Giang, đầm Phù Chẩn để cắt yểm long mạch, tất cả 19 nơi. Nay ta đã khuyên Khúc Lãm đắp lại như cũ. Ta lại trồng một cây gạo ở cách chùa Minh Châu hơn 1 dặm, đúng chỗ bị cắt long mạch, đời sau nơi này ắt có bậc đế vương xuất hiện để vun trồng Chánh pháp…Năm Bính Thân, niên hiệu Thanh Thái thứ 3 thời thuộc Đường (936), khi trồng cây gạo ở chùa Minh Châu, Trưởng lão Đinh La Quý An có đọc bài kệ:

    Đại Sơn long đầu khởi
    Cù Vĩ ẩn Minh Châu
    Thập bát tử định thành
    Miên thụ hiện long hình
    Thỏ kê thử nguyệt nội
    Định kiến nhật xuất thanh"

    (Nguyễn Minh Khôi, Đi tìm gốc tích vua Lý Thái Tổ, Giác Ngộ)

    Nguyễn Minh Khôi viết: "Tương truyền, cố GS sử học Trần Quốc Vượng sinh thời từng dịch bài kệ như sau: "Đầu rồng hiện ở núi lớn/ đuôi rồng giấu sự thịnh vượng/Họ Lý nhất định thành/khi cây gạo hiện hình rồng/chỉ trong mấy tháng thỏ, gà, chuột/chắc chắn sẽ thấy mặt trời (vua) anh minh".

    Ông Nguyễn Đình Phúc, Bí thư Đảng ủy xã Tân Hồng kể: Năm 1992, GS Trần Quốc Vượng điền dã về khảo sát những di tích ở làng Dương Lôi. Khi tận mắt chứng kiến nền chùa Minh Châu và tìm hiểu địa danh trong vùng, biết có ngọn núi Đại Sơn ở cách chùa Minh Châu 1km, GS đã thốt lên: "Tôi đã nhầm khi dịch bài kệ của Trưởng lão họ Đinh!". Sau đó, GS đã chỉnh lại bản dịch 2 câu đầu là: "Đầu rồng hiện ở Đại Sơn/đuôi rồng giấu ở chùa Minh Châu".

    Chúng tôi tiếp cận bài kệ của Truởng lão họ Đinh, hoàn toàn nhất trí với cách diễn giải của cố giáo sư Trần Quốc Vượng với hai câu đầu của bài kệ. Trên bình diện phong thủy, long mạch ở Cổ Pháp với đầu rồng là Đại Sơn, và đuôi rồng (rồng non, tức cù) ở chùa Minh Châu (Dương Lôi). Và đuôi rồng đã ứng phát cho Lý Công Uẩn, tức họ Lý đã trở thành đế vương với Lý Thái Tổ. Thế thì đầu rồng "Đại Sơn" ứng phát vị họ Lý nào ở hương Diên Uẩn?

    Phải chăng tác giả Thiền uyển tập anh ngữ lục, bắt đầu được biên tập vào khoảng trước năm 1134 cho đến đầu thế kỷ thứ mười ba, dựa vào thư tịch ở chùa Thiên Tâm, hoặc truyền ngôn ở vùng Tiêu Sơn, muốn gửi gắm cho hậu thế một chìa khóa để giải mã bí ẩn tông tích của Lý Công Uẩn? Rõ ràng con cù (rồng non), đang ẩn ở sau chùa Minh Châu (chùa Cha Lư) là ứng phát cho Lý Công Uẩn, còn thân rồng đang thời "tiềm long" ở Đình Bảng-Dương Lôi ứng phát cho Hiển Khánh Vương, Vũ Đạo Vương, Lý Vạn Hạnh, Lý Khánh Vân….

    Còn đầu rồng phải ứng phát một người họ Lý hương Cổ Pháp, đã khởi nghiệp ở Đại Sơn, thuộc Dương Lôi mà thôi. Ngọn núi Đại Sơn này có sông Đuống vờn mặt trước, nhìn về Dương Xá, Đại Từ…của vùng Thuận Thành-Luy Lâu, nơi hoạt động của sứ quân Lý Khuê, tức Lý Lãng Công vào những năm Bính Dần (966), Đinh Mão (967).

    Hiện nay tại thôn Dương Đanh, xã Dương Xá còn thờ Lý Lãng Công. Trong khoảng từ 936 đến 974 không có vị nào thuộc họ Lý của hương Diên Uẩn, ngoài Lý Khuê, đã khởi nghĩa! Vậy Lý Lãng Công là ứng với đầu rồng đã khởi, nhưng thất bại, và các con cháu của ngài phải ẩn tu hoặc mai danh ẩn tích, đổi họ Lý thành họ Nguyễn vào thời Đinh (968-991), thời Tiền Lê (991-1009).

    Cuộc vận động trăm năm

    Chùa Cha Lư (Minh Châu), nơi thờ Phật và bà Phạm Thị Ngà. Sau chùa là nơi chào đời của Lý Công Uẩn. Có khả năng trước đó chùa Cha Lư là nơi thờ những vị quan họ Lư của triều Đường, thường dâng sớ can ngăn vua Đường phát binh dẹp những cuộc nổi dậy của dân Giao Châu.

    Thế thì Lý Khuê phải là người con kiệt hiệt của dòng họ Lý của hương Cổ Pháp vậy. Cuộc nổi dậy của sứ quân Lý Khuê ở Siêu Loại, bờ nam sông Đuống không thể không có sự ủng hộ công khai hoặc bí mật của Lục Tổ Thiền Ông, thiền sư Vạn Hạnh cùng Phật tử của chùa Tiêu (...)

    Và khi Lý Khuê bị thất bại, nhóm Thiền Ông-Vạn Hạnh phải “cưu mang” đám con cháu của Lý Khuê, tạo điều kiện cho cha, bác, chú của Lý Công Uẩn mai danh ẩn tích (tiềm long) để tránh sự bố ráp gắt gao của triều Đinh và Tiền Lê.

    Vì tin vào câu “Cù vĩ ẩn Minh Châu” nên Vạn Hạnh đã tiến hành việc cưới bà Phạm Thị Ngà cho một người con trai của Lý Lãng công (tức Hiển Khánh vương). Vì tạo cho Lý Công Uẩn là con thần cháu thánh, tránh sự truy bắt của triều Đinh, Tiền Lê nên Thiền Ông ẩn tích, Vạn Hạnh đã giấu tông tích của Lý Khuê và mối quan hệ cháu ông giữa Lý Công Uẩn với sứ quân họ Lý vậy. Sau khi sứ quân Lý Khuê bị Đinh Bộ Lĩnh đánh bại, dòng họ Lý của sứ quân Lý Khuê một số bị giết, nhưng số còn lại phải đi ẩn, ví dụ vào rừng sinh sống, vào tu ở các chùa trong núi sâu nhằm mai danh ẩn tích. Lý Vạn Hạnh mặc dầu họ Lý nhưng cũng có thời kỳ phải mang họ Nguyễn.

    Đại Nam nhất thống chí từng chép: “Đời Lý: Nguyễn Vạn Hạnh: người huyện Đông Ngàn, lúc bé thông minh khác thường, rộng thông ba học phái; xuất gia thâm thuý về thiền học, nói ra phần nhiều là lời sấm. Lê Đại Hành thường triệu đến hỏi công việc. Lí Thái Tổ phong làm quốc sư". (tập4,tr146). Ngay vua Lê Đại Hành cũng rất gờm con cháu họ Lý, có khi suýt bắt được Lý Công Uẩn để trừ hậu hoạ. Hơn ai hết, Lê Đại Hành thừa biết họ Lý đang được lòng dân, đa phần là phật tử.

    ĐNNTC chép: “Đền thần phụ quốc: ở xã Tam Tảo huyện Yên Phong. Xưa Lê Đại Hành đắp thành Hoa Lư, Lý Công Uẩn làm phu đắp, đến đêm Lê Đại Hành mộng thấy thần cho biết là có bậc quý nhân đương làm việc đắp thành ở đây. Thức dậy sai người đi tìm, thì Công Uẩn đã đi rồi. Khi Công Uẩn đi đến xã Tam Tảo, thấy hai vợ chồng già đang cày ruộng, bèn đem duyên do chuyện mình nói cho biết. Ông già liền bảo Công Uẩn lấy bùn trát khắp mình và cùng cày ruộng; sau đó ông già mang Công Uẩn về nhà, đào đất làm hầm cho ở và chứa nước ở trên hầm, Lê Đại Hành xem bói, thấy quẻ bói nói: “Nước ở trên người”. Vì thế, Lê Đại Hành tưởng là Công Uẩn đã chết ở sông rồi. Đến khi Lý Công Uẩn được nhà Lê truyền ngôi, bèn phong ông già làm Phụ quốc đại vương và phong vợ ông làm vương phi, làm nhà cho ở phường Phượng Vũ. Sau khi ông già chết, người địa phương lập đền thờ ngay ở chỗ ông già ở” (tr108).

    Sự kiện này phản ánh một thực tại; rằng các vua Đinh, Lê vẫn gờm họ Lý vùng Cổ Pháp-Siêu Loại và bản thân Lý Công Uẩn cũng biết vai trò, vị thế của mình trong xu thế mới. Sử liệu này cho thấy sự đùm bọc của nhân dân đối với Lý Công Uẩn, người đại diện cho niềm khát vọng của họ. Đinh Tiên Hoàng tiếp tục cử tướng Lưu Cơ giữ thành Đại La, sau khi dẹp loạn thập nhị sứ quân, là để khống chế các tộc họ có uy vọng ở miền Kinh Bắc, trong đó có họ Lý của Lý Khuê. Sự kiện “sét đánh cây gạo” không là biến cố ngẫu nhiên.

    Từ năm 936 cây gạo đã được Trưởng lão Đinh La Quý An trồng ở làng Dương Lôi. Nếu sét đánh cây gạo khoảng năm 1009 hay 1010 trước khi Lý Công Uẩn lên ngôi khoảng trên dưới một năm thì không hợp lý. Thật vậy, cuộc vận động để đưa dòng dõi họ Lý lên ngôi phải được tiến hành cả trăm năm, nhưng từ năm 936 cây gạo được trồng, cho đến năm 1009 mới có vụ cây gạo ở Dương Lôi bị sét đánh và xuất hiện bài sấm ký thì không có chuyện Lý Công Uẩn bị Lê Đại Hành cho người tìm Lý Công Uẩn nói riêng và họ Lý nói chung để trừ hại. Có khả năng dư luận về bài sấm ký có thể xuất hiện sớm hơn nhiều so với năm Lý Công Uẩn lên ngôi.

    Trần Việt Điền