Phan Thế Hải - Gỡ “nút cổ chai” cho nền kinh tế tăng tốc và cất cánh (2)

  • Bởi Admin
    12/10/2010
    0 phản hồi

    Phan Thế Hải<br />
    (Gửi BCHTW Đảng CS VN)

    Dưới đây là một bài viết cũ của nhà báo Phan Thế Hải gửi tới góp ý cho Đại Hội Đảng X năm 2006, trong khí thế hừng hực "nhà nhà góp ý, người người góp ý" ngày đó. Theo nhà báo Phan Thế Hải kể lại: "Hồi đó, bài này được coi là “tiếng sấm giữa trời quang mây tạnh” bởi nó được viết ra bởi một nhà báo quốc doanh, lại động đến những vấn đề cấm kỵ về lý luận. Sau sự kiện này, Chủ tịch được các đồng chí thăm viếng liên tục, gây áp lực này nọ, mất thời gian vô cùng. Thậm chí, đôi lúc phải chửi nhau với các đồng chí chỉ vì chuyện đó. Còn chuyện lắng nghe, tiếp thu thì miễn bàn. Tiệc ta vẫn có thói quen đùa giai khiến nhiều người ngây thơ tưởng thật." Nay Dân Luận xin đăng lại, không phải cho Tiệc ta (Đảng ta) đọc, mà vì những vấn đề nêu trong này vẫn mang tính thời sự nóng hổi.

    3- Định hướng CNXH và quốc hiệu XHCN

    Trong suốt hơn 32 trang Dự thảo báo cáo, cụm từ CNXH và XHCN được nhắc đi nhắc lại nhiều lần, đặc biệt nó được gắn chặt vào những khái niệm, phạm trù kinh tế xã hội của đất nước như: Nhà nước pháp quyền XHCN; định hướng CNXH; Tổ quốc Việt Nam XHCN... nhưng chưa có một dòng nào giải thích rõ ngữ nghĩa của khái niệm này. Phải chăng đây cũng chỉ là sự sáo rỗng như thường thấy trong các báo cáo chính trị của các kỳ đại hội trước đây.

    Cụm từ Xã hội chủ nghĩa được thêm vào quốc hiệu nước ta kể từ tháng 4/1976. Nói đúng hơn thì nó đã được thay thế cho cụm từ Dân Chủ đã được Bác Hồ lựa chọn cho quốc hiệu và đã được dùng suốt trong 30 năm từ 1945 đến 1975.

    Thể chế Xã hội chủ nghĩa là một mô hình nhà nước của Liên Xô, được xây dựng theo học thuyết của Marx, Lenin và Staline.

    Trọng trong dịp kỷ niệm 60 năm Cách mạng tháng Mười (11/1977), Liên Xô đã long trọng tuyên bố “xây dựng thành công Chủ nghĩa xã hội” và tiếp tục tiến lên xây dựng Chủ nghĩa cộng sản. Chính vì vậy, đến 1991 Liên Xô đã sụp đổ, kéo theo sự sụp đổ của khối Xã hội Chủ nghĩa và sự phá sản hoàn toàn của mô hình kinh tế, xã hội này.

    Việt Nam, kể từ 1955 (ở miền Bắc) và từ 1975 trên phạm vi cả nước cũng đã từng “tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội” và tự nhận là “tiền đồn của phe xã hội chủ nghĩa”. Chính vì lý do này, cuộc chiến tranh chống Mỹ càng trở nên khốc liệt, làm hàng triệu người chết và tàn phế và đất nước bị tàn phá nặng nề với những hậu quả kéo dài nhiều thế hệ.

    Cũng chính vì định hướng CNXH theo tư tưởng của Staline mà Việt Nam đã tiến hành các chính sách như: Cải cách ruộng đất (1953- 1956) Cải tạo tư sản tư thương (1958- 1959); Cải tạo công thương nghiệp ở miền Nam (1977- 1978)... thực chất là huỷ diệt lực lượng sản xuất tiên tiến, phá hoại nền kinh tế, nhiều nhân tài bị giết hại, đầy ải, vô số tài sản, nhà cửa, ruộng đất của nhân dân bị cướp đoạt, y tế, giáo dục, đạo đức, văn hoá, nghệ thuật, khoa học…. đều xuống cấp trầm trọng, luật pháp, kỷ cương, truyền thống văn hoá dân tộc bị phá hoại, đảo lộn nghiêm trọng, đời sống nhân dân khốn cùng.

    Từ sự khốn cùng của nền kinh tế, đến sự khốn cùng của đại bộ phận các tầng lớp nhân dân, hàng triệu người bỏ nước ra đi. Cùng với làn sóng vượt biên, di tản là cả một thể chế đứng bên bờ vực của sự sụp đổ.

    Đại hội đảng lần thứ V (tháng 3/1982), đảng ta vẫn một mực khẳng định đường lối “tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội” của đại hội IV và lớn tiếng lên án chính sách “Cải cách”, “Khai phóng”, “Bốn hiện đại hoá” của Trung Quốc là “kẻ phản bội lớn nhất trong phong trào cộng sản quốc tế”.

    Vào những năm 80, khi nền kinh tế Liên Xô đi vào ngõ cụt, có nguy cơ tan rã, Đại hội đảng lần thứ 27 ( tháng 3/1985), Tổng bí thư Gorbachev đề ra chính sách Peretroika (Cải tổ) và Glasnost (Công khai) thì đảng ta mới “tiếp thu” họp đại hội VI (tháng 12/1986) đề ra chính sách Đổi mới và Nói thật. Có ý kiến cho rằng, đây thực chất là một sự ăn cắp bản quyền hay “ăn theo nói leo”.

    Nếu nhìn vào lịch sử, thực chất đây là chính sách “đổi cũ”, quay lại các chính sách kinh tế thị trường mà loài người đã trải qua hàng trăm năm. Ở Việt nam kinh tế thị trường cũng đã từng có thời Pháp thuộc và đặc biệt, nền kinh tế thị trường đã phát triển ở trình độ khá cao trước năm 1975 ở miền Nam.

    CNXH là gì, thực chất của định hướng CNXH sẽ đưa đất nước đến đâu? Đây là một câu hỏi không quá khó. Liên Xô đã có 70 năm vô ích, các nước đông Âu cũng đã từng đi đến bờ vực vì cái định hướng này. Chính vì lý do đó, gần 500 triệu dân ở khối này đã tỉnh ngộ và quyết định, đập đi làm lại từ đầu. Dẫu có mất ổn định một vài năm, nhưng nay họ đã vào đường băng và đang cất cánh.

    Như đã nói ở trên, thực chất của công cuộc đổi mới là “đổi cũ”, thôi không cấm đoán sức sáng tạo của dân chúng, thôi không kìm hãm sức sản xuất của khu vực dân doanh, thay thế chính sách cai trị bằng quản lý. Trên thực tế, nước ta đã từ bỏ con đường Xã hội Chủ nghĩa đói nghèo trước kia, không đi theo vết xe đổ trước đó.

    Nhưng nếu cứ định hướng CNXH, trên lý thuyết, nước ta vẫn bị buộc phải đi theo con đường đau khổ đó và cũng không ai dám chắc là, vào một ngày xấu trời nào đó, vào một phút ngẫu hứng nào đó, đảng ta, với tư cách là người cầm quyền độc tôn, sẽ diễn lại các chính sách “cải tạo tư sản” hay “Quốc hữu hoá” sao cho đúng cái “định hướng xã hội chủ nghĩa”.

    Cũng chính vì lý do này, không phải doanh nghiệp, doanh nhân nào cũng toàn tâm toàn ý làm giàu, toàn tâm toàn ý lo mở rộng sản xuất. Không ít doanh nhân, đặc biệt là các nhà đầu tư nước ngoài vừa làm vừa nghe ngóng, động tĩnh, diễn biến của các chính sách của Đảng. Khi bàn chuyện làm ăn, một cán bộ phát biểu: “Đất nước này không cho ai giàu quá 20 năm.” Xin được nói thêm, ông này hiện đang là thứ trưởng một bộ quan trọng. Đến cán bộ cao cấp mà còn chưa đủ niềm tin thì những người dân đen hoài nghi là điều dễ hiểu.

    Một doanh nhân nói với tôi, cái “định hướng XHCN” như một bản án có sẵn treo lơ lửng trên đầu, khi nào cần trưng thu tài sản, Đảng ta sẽ dùng đến nó. Thực chất của chính sách đổi mới chỉ là sự “vỗ béo” các doanh nghiệp để, khi cần Đảng đem ra “giết thịt.”
    Có lẽ vì lý do này, Việt Nam là một trong số những nước nghèo nhưng có nhiều tài khoản ngoại tệ gửi ở các nhà băng nước ngoài. Một lượng không nhỏ nguồn lực của đất nước bị phân tán chỉ vì cái định hướng này.

    Cũng có ý kiến cho là Chủ nghĩa xã hội không phải là cái đã sụp đổ đó. Nó là cái khác, cao đẹp hơn nhiều….. Nhưng như vậy thì Chủ nghĩa Xã hội là cái gì? Nó là một khái niệm mơ hồ, chưa rõ hình hài? Nó là một mô hình không có trong thực tiễn? Tóm lại nó chỉ là một ảo tưởng? Vậy tại sao ta lại định hướng cho đất nước theo một ảo tưởng?

    Lại có ý kiến cho rằng Chủ nghĩa Xã hội chính là “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”. Nhưng nói như vậy là nhận vơ, là ăn cắp bản quyền. “Quốc phú, Dân cường” là lời của Khổng Tử, được coi là tiêu chí của Nho giáo. “Công bằng, Dân chủ, Văn minh” là thực tiễn của các nước Tư bản tiên tiến, được hình thành từ lý tưởng “Tự do, Bình đẳng, Bác ái” của Cách mạng Nhân quyền và Dân quyền Pháp 1789. Một cá nhân đạo văn là một điều đáng trách, còn một đảng cầm quyền làm như vậy thì khó mà làm gương cho dân chúng.

    Một lý do khác, trong số hàng trăm quốc gia đạt được mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, không nước nào giàu lên bằng con đường “kiên định CNXH”. Sự kiên định CNXH là không có cơ sở khoa học.

    Về phương diện ngữ nghĩa, xin được nhìn dưới 4 góc độ khác nhau:

    Thứ nhất, nếu nó là cái đã sụp đổ thì đó là cái tên xúi quẩy, tất nhiên không nên vận vào mình.

    Thứ hai, nếu nó là đích siêu việt, cái không định nghĩa được, là cái không có trong thực tiễn, thì không nên ôm ảo tưởng. Ít ra thì ta chưa nên mang danh mà ta chưa đạt được, đây là sự trung thực cần thiết của một đất nước có thiện chí đổi mới.

    Thứ ba, nếu nó là cái mà nhân loại tiến bộ đã đạt được hoặc đang xây dựng, phấn đấu, thì ta hãy làm giống họ, không việc gì phải “treo đầu dê, bán thịt chó”. Có nước tiên tiến nào mang danh Xã hội chủ nghĩa đâu!

    Thứ tư, cho dù có thể chứng minh được CNXH là cái tuyệt vời, nhưng con đường tiến đến nó cực kỳ khó khăn, đến nỗi chưa nước nào đạt được, thì liệu chúng ta có cần nhất thiết phải mạo hiểm đi đến đó không, khi tất cả những nước đi trước đều đã thất bại thảm hại và có rất nhiều nước khác không hề đi theo con đường đó, đều đã đạt được đến cái đích “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh”? Tại sao ta không học tập những nước đã thành công, lại cứ nhất định đi theo những nước đã thất bại?

    Sách Luận ngữ của Khổng Tử có câu: “Danh bất chính tất ngôn bất thuận, ngôn bất thuận tất sự bất thành”. Hơn hai ngàn năm trôi qua, nhưng chân lý đó vẫn luôn đúng. Chúng ta hãy dũng cảm nhìn thẳng vào sự thật để trả lại tên nước mà Bác Hồ đã đặt cho Tổ quốc Việt Nam thân yêu: “Nước Việt Nam dân chủ cộng hoà” Đây là cũng là hành động cụ thể để tôn trọng tư tưởng Hồ Chí Minh trong công cuộc dựng nước.

    4- Mạnh dạn trút bỏ những trói buộc do mình tạo ra

    Trong mục 2 của phần III, khi nói về “Mục tiêu và phương hướng tổng quát 5 năm 2006 – 2010” dự thảo có viết: “..nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, huy động và sử dụng tốt mọi nguồn lực, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước;...” tuy nhiên, làm thế nào để phát huy tốt sức mạnh toàn dân tộc? làm thế nào để đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới? làm thế nào để huy động và sử dụng tốt mọi nguồn lực? thì vẫn chưa có giải pháp thoả đáng. Các biện pháp như: “Phát huy hơn nữa dân chủ xã hội chủ nghĩa; đổi mới hệ thống chính trị; nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng; xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, tăng cường hiệu lực và hiệu quả của Nhà nước và chính quyền các cấp; phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân, không ngừng tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc... là những đoạn văn khẩu hiệu cũ kỹ, không tạo được bước đột phá về tư duy. Ai dám chắc rằng, với những biện pháp như thế, chúng ta sẽ gỡ được vô số những nút cổ chai đang cản trở nền kinh tế!

    Trong một thời gian dài, chúng ta đã mất công tạo ra vô số sự trói buộc. Từ chuyện ngăn sông cấm chợ, xoá bỏ tư hữu, cấm kinh tế tư nhân, cấm giao lưu với tư bản nước ngoài, cấm phát ngôn trái với đường lối chủ trương của Đảng... và hàng ngàn thứ cấm khác.

    Ngày đầu xuân, trong cuộc trao đổi với một cán bộ ngân hàng, chị này cho biết, hiện nay, mọi cán bộ ngành này muốn đi nước ngoài đều phải có tờ trình để thống đốc ngân hàng duyệt. Tôi hỏi: ông Thống đốc làm như vậy thì lấy đâu ra thời gian làm việc khác? chị bảo: Không những là những chuyến đi công tác ra nước ngoài mà cả những chuyến đi du lịch trong những ngày nghỉ, muốn xuất ngoại phải trình thủ tục trước đó ít nhất là cả tuần. Hình như quy định này có sự thống nhất với Tổng cục Hải quan.

    Thực tiễn lịch sử đã chứng minh, tự trói mình là tự sát. Từ khi có chính sách đổi mới, từng bước cởi trói đã giải phóng được rất nhiều nguồn lực, đời sống kinh tế, xã hội phát triển vượt bậc, quan hệ quốc tế trở nên thân thiện hơn... Tuy nhiên, dường như chúng ta còn lưu luyến với không ít những trói buộc ấy.
    Sự cởi trói mới chỉ dừng lại ở một số chính sách ở tầm vi mô, còn lại những chính sách vĩ mô chưa cởi được bao nhiêu.

    Thử đặt câu hỏi: Tại sao phải trung thành với học thuyết Marx- Lenin, trong khi học thuyết của hai ông này ra đời cách đây hơn một trăm năm và có rất nhiều điều không còn phù hợp với tình hình hiện nay? Mục tiêu của chúng ta là "dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh" hay là " kiên trì chủ nghĩa xã hội”? Sự nhầm lần giữa mục đích và phương tiện khiến chúng ta tự trói mình vào những cách nghĩ, cách làm xưa cũ, không phù hợp với dòng chảy hiện đại.

    Với khoảng 200 nước và vùng lãnh thổ trên thế giới, ngoài Việt Nam, chỉ còn 3 nước theo con đường CNXH là Cuba, Trung Quốc, Bắc Triều Tiên. Phải chăng đây là khuôn vàng thước ngọc để Việt Nam nhất thiết phải tuân theo. Phải chăng, chúng ta thông minh hơn phần còn lại của thế giới? Chúng ta có thực sự là “đỉnh cao của trí tuệ” không khi là một trong những nước nghèo nhất thế giới và tham nhũng nhất thế giới?

    Tự trói buộc mình vào những khuôn phép giáo điều, những quy luật kinh tế riêng có của CNXH đã đưa đất nước đến đâu, kết quả thế nào đã rõ. Khi tự cởi trói cho mình đã góp phần giải phóng sức sản xuất, tạo nên một thời kỳ phát triển mới của dân tộc. Tuy nhiên, để có những thành tích cao hơn, cần phải tiếp tục việc cởi bỏ những trói buộc do mình tạo ra. Đó cũng là cách làm hiệu quả để giải quyết những vấn nạn nhức nhối hiện nay.

    5- Tôn trọng những ý kiến khác biệt

    Đây là câu mà Tổng bí thư Nông Đức Mạnh đã nói trong cuộc họp tổng kết năm 2005 của Hội đồng lý luận được chương trình thời sự của Đài truyền hình Việt nam đưa ngày 24/01/2006. Thực chất của điều này cũng chỉ là quyền tự do ngôn luận của nhân dân đã được ghi vào Điều 69 Hiến pháp: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí; có quyền được thông tin; có quyền hội họp, lập hội, biểu tình theo quy định của pháp luật”. (Hiến pháp CHXHCNVN sửa lần thứ tư 1992).

    Tại cuộc mít tinh kỷ niệm 76 năm ngày thành lập Đảng 3/2 tại Hà Nội, trong diễn văn kỷ niệm, ông Nguyễn Phú Trọng, Uỷ viên BCT, Bí thư thành uỷ Hà Nội cũng nhắc lại: “Sẵn sàng lắng nghe những ý kiến khác nhau” của các tầng lớp nhân dân. Điều này đã khẳng định tính ưu việt của Đảng ta, một đảng cầm quyền lãnh đạo cách mạng Việt Nam trong 75 năm qua.

    Thêm nữa, theo Công ước Quốc tế về quyền con người mà Nhà nước ta đã tham gia ký kết từ 1982, điều 19 về quyền dân sự và Chính trị của Công ước Quốc tế ghi rõ:

    Mọi người đều có quyền giữ quan điểm của mình mà không bị ai can thiệp vào. Mọi người đều có quyền tự do ngôn luận. Quyền này bao gồm cả quyền tự do tìm kiếm, nhận và truyền đạt mọi loại tin tức, ý kiến, không phân biệt ranh giới, hình thức tuyên truyền miệng, hoặc bằng bản viết, in, hoặc bằng hình thức nghệ thuật, hoặc thông qua mọi phương tiện đại chúng khác tùy theo sự lựa chọn của họ”. (Việt Nam với Công ước Quốc tế về quyền con người. Nhà xuất bản Sự Thật 1992).

    Về mặt lý thuyết là vậy nhưng thực tế diễn ra không phải vậy. Một tổng biên tập một tòa báo hoặc một phóng viên đều có thể bị sa thải bất cứ lúc nào chỉ vì đưa tin bài "không thích hợp" với định hướng của Ban Tư tưởng văn hoá, thậm chí chỉ là khác với cách nghĩ của một số người đang nắm quyền. Có người còn bị bắt bớ, giam cầm dăm bảy ngày chỉ vì những lý do tương tự.

    Tự do ngôn luận là quyền cơ bản của công dân. Quyền của dân phải được trả lại cho dân và thực thi đầy đủ. Một xã hội dân chủ như vậy sẽ tạo ra không gian không hạn chế cho tinh thần kinh doanh, trí sáng tạo của mọi tầng lớp, của mỗi người Việt Nam. Trong một xã hội thực sự sôi nổi, sống động như vậy, mỗi người có thể trực tiếp và gián tiếp đóng góp cho việc quản lý xã hội, đóng góp cho quê hương, cho đất nước.

    Lịch sử loài người đã chứng minh, chỉ khép kín trong nội bộ chính quyền, bộ máy nhà nước chưa bao giờ tự chấm dứt được quá trình quan liêu hóa, phình to ban bệ, chưa bao giờ tự mình gột rửa được khỏi tham nhũng, tư lợi và lạm dụng chức quyền. Chỉ có dân mới giúp được Nhà nước làm được việc đó, dân phải được giám sát, dân phải kiểm tra, dân phải bãi miễn mới cải cách được Nhà nước. Và dân phải tự tổ chức để tự quản đời sống địa phương, làng xóm.

    Ngày Xuân năm Bính Tuất, dẫu thời gian không nhiều nhưng tôi đã kịp đi thăm một vài công trường trên địa bàn thủ đô. Không khí làm việc thật náo nhiệt và phấn khởi. Không chỉ Hà Nội, trên mọi nẻo đường của quê hương, đất nước yêu quý của chúng ta đang trở thành công trường xây dựng lớn trở thành công xưởng lớn và trường học lớn, nhưng vẫn còn đó vô vàn lực cản chưa được dỡ bỏ. Muốn làm giàu, cả nước phải trở thành một doanh nghiệp khổng lồ, trong đó, Bộ Chính trị là Hội đồng quản trị, Chính phủ là Ban giám đốc điều hành cái doanh nghiệp khổng lồ ấy. Muốn tạo cơ hội cho mỗi bàn tay, mỗi khối óc của mỗi người dân Việt Nam có thể phát huy hết năng lực vào công cuộc kiến thiết nước nhà phải đổi mới một cách toàn diện, không chỉ chính sách vi mô mà còn cả vĩ mô, cả hệ tư tưởng.

    Trong lịch sử hàng nghìn năm của nhân loại, Việt Nam không phải là dân tộc hèn kém. Dân tộc Việt nam phải tiến mạnh hơn nữa trong công cuộc cải cách, xây dựng cái mới tốt đẹp và chữa trị những căn bệnh kinh niên đã kìm hãm đất nước hàng chục năm nay. Trong đó, nguy hiểm nhất là căn bệnh dối trá, không dám nhìn thẳng vào sự thật. Tham nhũng, quan liêu, cửa quyền cũng là con đẻ của căn bệnh này. Năm điều kiến nghị với Đảng với đầy thiện chí. Hy vọng sẽ được lắng nghe và phản hồi.

    Trân trọng cám ơn quý vị đã quan tâm!

    Ngày 5/2/2006

    Phan Thế Hải, nhà báo, hiện công tác tại báo Vietnamnet- số 4 Láng Hạ- Ba Đình- Hà Nội
    ĐT: 0903 288 631; Cđ: 7722229; Email: [email protected]

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    0 phản hồi