Phan Thế Hải - Gỡ “nút cổ chai” cho nền kinh tế tăng tốc và cất cánh (1)

  • Bởi Admin
    12/10/2010
    0 phản hồi

    Phan Thế Hải<br />
    (Gửi BCHTW Đảng CS VN)

    Dưới đây là một bài viết cũ của nhà báo Phan Thế Hải gửi tới góp ý cho Đại Hội Đảng X năm 2006, trong khí thế hừng hực "nhà nhà góp ý, người người góp ý" ngày đó. Theo nhà báo Phan Thế Hải kể lại: "Hồi đó, bài này được coi là “tiếng sấm giữa trời quang mây tạnh” bởi nó được viết ra bởi một nhà báo quốc doanh, lại động đến những vấn đề cấm kỵ về lý luận. Sau sự kiện này, Chủ tịch được các đồng chí thăm viếng liên tục, gây áp lực này nọ, mất thời gian vô cùng. Thậm chí, đôi lúc phải chửi nhau với các đồng chí chỉ vì chuyện đó. Còn chuyện lắng nghe, tiếp thu thì miễn bàn. Tiệc ta vẫn có thói quen đùa giai khiến nhiều người ngây thơ tưởng thật." Nay Dân Luận xin đăng lại, không phải cho Tiệc ta (Đảng ta) đọc, mà vì những vấn đề nêu trong này vẫn mang tính thời sự nóng hổi.

    Ngày 3/2/2006, trên các báo lớn đã đăng Dự thảo Báo cáo chính trị trình Đại hội X của Đảng với tiêu đề: Nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng, phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới, sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển

    Ngay tiêu đề báo cáo đã thấy một thiện chí của Đảng ta: ... Phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới... Vượt qua mọi sự cám dỗ của những cuộc vui đầu xuân, tôi kiên trì đọc từ đầu đến cuối bản báo cáo này. Với 32 trang A4, xấp xỉ 20.000 chữ, Dự thảo báo cáo kỳ này khá ngắn gọn. Đây được coi là ưu điểm thứ nhất. Phần kiểm điểm 5 năm thực hiện nghị quyết Đại hội 9 với những lời lẽ khá khiêm tốn, chừng mực, có thể coi là ưu điểm thứ hai. Phần 9, nói về đổi mới và chỉnh đốn đốn Đảng đã nêu được quan điểm: “Đảng viên làm kinh tế tư nhân không giới hạn về quy mô phải gương mẫu chấp hành Điều lệ Đảng, pháp luật, chính sách của Nhà nước và quy định cụ thể của Ban Chấp hành Trung ương.” Điều này không mới nhưng, khi Đảng nêu công khai trong một văn kiện đã thể hiện phần nào bản lĩnh của một đảng cầm quyền. Đây có thể coi là ưu điểm thứ ba.

    Cùng với những ưu điểm, báo cáo còn có vô số những hạn chế vẫn thường thấy như trong các báo cáo chính trị trước đây. Như đã nói ở trên, với tiêu đề “đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới” nhưng ý tưởng trong báo cáo thì sự đổi mới toàn diện vẫn chưa thấy đâu. Hầu hết vẫn là giọng văn cũ, khái niệm cũ, có nhiều thứ không còn hợp thời.

    Báo cáo đã nói nhiều về những đột phá, những tăng tốc, những con đường chấn hưng nền kinh tế nước nhà, nhưng cần phải bắt đầu từ đâu? đột phá ở những khâu nào? Cố gắng tìm kiếm ở các đoạn trong báo cáo nhưng chưa có câu trả lời thoả đáng. Các giải pháp đề ra vẫn chung chung, chưa cụ thể. Cũng chính vì vậy mà sau hai mươi năm đổi mới, nền kinh tế nước ta chưa đạt được trình độ phát triển như cả dân tộc mong muốn. Nếu cách mạng Việt Nam vẫn phát triển theo tinh thần của báo cáo này, không ai dám chắc rằng, nền kinh tế Việt nam sẽ tăng tốc trong nhiệm kỳ tới.

    Muốn có một đô thị đẹp, phải bắt đầu bằng một quy hoạch khoa học, hợp lý. Muốn đất nước phát triển, phải bắt đầu bằng hệ tư tưởng, bằng Hiến pháp khoa học, bằng một báo cáo chính trị đúng hướng. Cách đây hơn 200 năm, nước Mỹ từ một vùng thuộc địa của Anh đã từng bước vươn lên thành một cường quốc số 1 thế giới và đứng vững ở vị trí này hơn 100 năm qua chính là nhờ một bản hiến pháp ngắn gọn, khoa học. Nước Nhật, nước Pháp, Hàn quốc cũng bắt đầu công cuộc phục hưng đất nước bằng cách như vậy.

    Việt Nam chúng ta đã có một bản Hiến Pháp tuyệt vời do Bác Hồ chủ trì soạn thảo và được Quốc hội khoá I thông qua năm 1946 với 7 chương, 70 điều. Đây được coi là đường băng cơ bản với những hành lang thông thoáng. Thế nhưng, sau nhiều lần sửa đổi, không những bản hiến pháp ấy không hay hơn mà còn ngày càng lệch lạc, bị “lấn chiếm”, tạo ra không ít nút cổ chai. Việc phải trả lại giá trị pháp lý của Hiến pháp năm 1946, có thể ví như việc giải phóng mặt bằng cho những nút cổ chai do bị lấn chiếm trước đó.

    Muốn tăng tốc và cất cánh, cùng với việc xây dựng những xa lộ, chúng ta phải mua sắm những phương tiện hiện đại để chạy trên đường băng ấy. Qua hai mươi năm đổi mới, một số đoạn xa lộ đã được mở, nhưng vẫn còn đó không ít nút cổ chai chưa được dỡ bỏ. Còn phương tiện, trong nền kinh tế toàn cầu, mỗi năm có hàng trăm loại phương tiện hiện đại ra đời, thế nhưng chúng ta vẫn kiên trì một phương tiện cũ kỹ từ thế kỷ XIX. Trên tinh thần đó, tôi xin đề xuất một số phương án khơi thông những nút cổ chai và sử dụng phương tiện nào cho nền kinh tế tăng tốc và cất cánh.

    1- Định nghĩa rõ, nhà nước ta là Đảng quyền hay Pháp quyền

    Đây là câu hỏi mà thực tiễn đặt ra đã lâu nhưng trong báo cáo chưa có câu trả lời thoả đáng. Trong phần XIII với tiêu đề: “PHÁT HUY DÂN CHỦ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA, HOÀN THIỆN NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN XÃ HỘI CHỦ NGHĨA” báo cáo nói nhiều về nhà nước pháp quyền XHCN, nhưng bản chất của nhà nước pháp quyền này là gì thì chưa giải thích thoả đáng. Tôi đã dùng câu này để hỏi nhiều cán bộ lãnh đạo trung cao cấp. Câu trả lời là không thống nhất và thường là chia làm hai luồng:

    Nhóm ý kiến thứ nhất cho nhà nước ta là Pháp quyền lý giải rằng: Đâu đó, có vẫn có khẩu hiệu: Sống và làm việc theo pháp luật, rằng chúng ta đang xây dựng nhà nước pháp quyền.

    Nhóm ý kiến thứ 2 cho rằng nhà nước ta là Đảng quyền lý giải rằng, Điều 4 Hiến Pháp Việt Nam ghi: “ĐCSVN, đội tiên phong của giai cấp công nhân Việt Nam, đại biểu trung thành quyền lợi của giai cấp công nhân, Nhân dân lao động và của cả Dân tộc, theo chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và Xã hội”. Ở một số diễn đàn quan trọng, các vị lãnh đạo đều cho rằng: Đảng lãnh đạo một cách tuyệt đối và toàn diện. Cũng chính vì lý do này, một số phiên toà trọng điểm đều có sự chỉ đạo trực tiếp của Ban bí thư. Dân chúng thay vì phải học luật là học nghị quyết....
    Sự nhá nhem này đã xẩy ra không ít chuyện hài ước: chính quyền xã khi xác nhận hồ sơ cho công dân xin việc, phần phía dưới thường ghi: “Bản thân và gia đình chấp hành tốt chủ trương đường lối của Đảng...” mà không cần quan tâm rằng, với tư cách công dân, anh ta có phạm luật hay không! Khi cán bộ còn không định nghĩa được nhà nước ta là Pháp quyền hay Đảng quyền thì việc nâng cao ý thức pháp luật của dân chúng là điều vô cùng khó khăn.

    Nhân loại đang nỗ lực hoàn thiện một xã hội pháp quyền, trong đó quyền công dân được ghi rõ trong Hiến pháp. Nếu chúng chúng ra muốn hội nhập với thế giới, không nên luyến tiếc điều 4 của Hiến pháp, khi nó không còn hợp thời. Thêm nữa, nếu đảng tự tin vào chính bản thân mình, hãy để cho nhân dân tự đánh giá, tự phán xét. Không ai khác, nhân dân sẽ lựa chọn đảng mà không cần bất cứ một sự áp đặt nào. Việc thể chế hoá bằng luật chỉ là biểu hiện của một sự thiếu tự tin, sự không minh bạch mà thôi.

    Đó là chưa nói đến việc, từ chính sách Đảng lãnh đạo tuyệt đối và toàn diện đã đẻ ra một bộ máy khổng lồ song trùng với chính quyền. 64 tỉnh thành có 64 ông chủ tịch, 64 ông bí thư, 64 bộ máy tỉnh uỷ. Hơn 600 huyện cũng vậy. Chúng ta có một hệ thống chính quyền kép. Chính quyền lồng trong chính quyền ở cả bốn cấp, rất cồng kềnh nhưng không ai chịu trách nhiệm chính. Một doanh nhân nói với tôi: Khi dự án của ông đã được UBND tỉnh thông qua, nhưng theo lời khuyên của một chuyên viên, ông buộc phải sang xin ý kiến của tỉnh uỷ. Nếu ông Bí thư tỉnh uỷ chưa có bút phê thì đừng hòng triển khai nổi.

    Sự song trùng của bộ máy không chỉ làm tăng biên chế, tăng chi phí cho bộ máy mà còn tạo thêm một cửa, một sự phức tạp, thêm một nút cổ chai cho các thủ tục hành chính.

    Chính vì cách thức tổ chức bộ máy này, hiện nay Việt Nam có 6 triệu người ăn lương. Con số này của Thái Lan là 2 triệu. Thế nhưng bộ máy của chúng ta không phải vì thế mà hoạt động có hiệu quả hơn. Không những thế, bộ máy song trùng còn tạo thêm một cửa buộc các nhà đầu tư phải đi qua. Khi dự án đã được duyệt ở UBND tỉnh, nhưng tỉnh uỷ không đồng ý, dự án đó nghiễm nhiên bị ách lại. Muốn qua được cửa này buộc phải thoả hiệp, phải “đi đêm”, nếu không đừng hòng triển khai. Khi xác định được nhà nước ta là pháp quyền, các cơ quan Đảng sẽ tự động thu hẹp lại và chỉ là một bộ phận kiêm nhiệm trong hệ thống chính quyền. Theo cách này, chúng ta không những minh bạch hoá nền chính trị đất nước mà còn giảm được khoảng 1 triệu công chức trong các cơ quan đảng và các đoàn thể.

    Bộ máy song trùng và đồ sộ của nước ta đã tồn tại hơn nửa thế kỷ qua, ai cũng thấy rằng nó là cồng kềnh và kém hiệu lực, nhưng giải quyết thế nào để giải thoát sự cồng kềnh ấy, sự kém hiệu lực ấy thì báo cáo không hề đề cập đến. Nếu chúng ta định nghĩa rõ, nhà nước Việt nam là Nhà nước Pháp quyền, Đảng có mặt trong những khâu quan trọng của bộ máy mà không hình thành một bộ máy riêng, ăn lương ngân sách sẽ từng bước giải quyết được vấn nạn này.

    2- Vận dụng chủ nghĩa Marx thế nào?

    Phần II, đánh giá khái quát 20 năm đổi mới, dự thảo có nói: “... trong quá trình đổi mới phải kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh...”. Nền tảng chủ nghĩa Marx- Lenin được nhắc đi nhắc lại nhiều lần trong dự thảo. Đây là một điều xưa cũ mà các báo cáo chính trị của 9 kỳ đại hội trước đã từng nói đến và nay vẫn nhắc lại.

    Cùng với điều 4 của Hiến pháp, cách thức tổ chức, tuyên truyền, áp đặt vào hệ thống đào tạo ở các cấp, vô tình hiện nay Việt Nam có một thứ tư tưởng thống soái trong mọi hoạt động kinh tế - xã hội, văn hoá, tư tưởng đó là Chủ nghĩa Marx - Lenin. Bất cứ một cán bộ nào muốn được đề bạt, không chỉ cán bộ công quyền mà còn cả lãnh đạo các doanh nghiệp nhà nước đều phải trải qua học viện chính trị, trong đó, các môn học về chủ nghĩa Max - Lênin chiếm đến hơn 50% thời lượng.

    Chủ nghĩa Marx là một học thuyết đồ sộ gồm ba lĩnh vực chính: Triết học, Kinh tế chính trị và Chủ nghĩa cộng sản khoa học. Không bàn sâu vào học thuyết này, nhưng tôi chỉ xin được dẫn ra một số điểm quan trọng sau đây:

    Năm 1848, tại London, Marx và Anghen cho xuất bản: “Tuyên ngôn của Đảng cộng sản”, đây được coi là cột mốc quan trọng của việc hình thành chủ nghĩa Marx, một “bóng ma ám ảnh châu Âu” (chữ của Marx) và nhân loại. Về hoàn cảnh lịch sử, giữa thế kỷ XIX là thời đại văn minh cơ khí với đặc trưng là đầu máy hơi nước. Chúng ta đang sống trong thế kỷ 21, với nền văn minh kỹ thuật số. Cứ cho Chủ nghĩa Marx là một công trình khoa học đi nữa thì với những hạn chế của hoàn cảnh lịch sử, sẽ có không ít những điều bất cập.

    Tuy nhiên bản thân chủ nghĩa Marx ngay từ nguyên thuỷ cũng đã chứa đựng rất nhiều yếu tố sai lầm và cực đoan. Xin được dẫn ra 2 sai lầm quan trọng của Marx là:

    Thứ nhất, về động lực phát triển của xã hội loài người, ngay dòng đầu tiên, của “Tuyên ngôn của đảng cộng sản” Marx viết: “Lịch sử tất cả các xã hội tồn tại từ trước đến ngày nay chỉ là lịch sử đấu tranh giai cấp.

    Marx đã tuyệt đối hoá vai trò đấu tranh giai cấp, mà không nhìn thấy vai trò của đấu tranh dân tộc, tôn giáo, văn hoá v.v.... trong quá trình phát triển của lịch sử loài người. Marx đã tuyệt đối hoá vai trò của giai cấp công nhân, chỉ toàn nhìn thấy măt tốt mà không nhìn thấy mặt hạn chế của giai cấp này. Ngược lại Marx lại chỉ nhìn thấy mặt xấu của giai cấp tư sản, mà không nhìn thấy mặt tốt của họ.
    Từ những phiến diện này, Marx đã đưa ra những kết luận sai lầm về đấu tranh giai cấp. Marx chủ trương xóa bỏ giai cấp tư sản, thiết lập công hữu về tư liệu sản xuất và thực hịên chuyên chính vô sản... Các trường phái tư tưởng triết học phương Đông đã không được Marx đề cập đến, nên triết học của Marx mang nặng mùi đấu tranh. Marx chí thấy tính Đối kháng, triệt tiêu lẫn nhau của các mặt đối lập mà không thấy tính thoả hiệp, tính khoan hoà giữa chúng.

    Thứ hai, sai lầm về “bóc lột giá trị thặng dư” kể cả khái niệm lẫn bản chất. Khi nghiên cứu nền kinh tế, Marx bắt đầu bằng hàng hoá. Marx phân tích cấu trúc giá trị thành ba thành phần: C + V + m Trong đó, C là tư bản bất biến, V là tư bản khả biến, và m là giá trị thặng dư. Theo Marx, m là giá trị dôi ra ngoài giá trị sức lao động của người công nhân làm thuê sáng tạo ra bị nhà tư bản chiếm không. Trong đó Marx đã quên hẳn vai trò tổ chức, quản lý của nhà tư bản; vai trò sáng kiến, vai trò ý tưởng, đặc biệt là bản quyền sáng tạo của nhà tư bản nên đã có những kết luận lệch lạc.

    Trong tư duy Marx bị mắc bệnh tuyệt đối hoá và trong phương pháp Marx mắc bệnh quy nạp phiến diện. Khi nói về về duy vật lịch sử, Marx đặt trên cơ sở nghiên cứu lịch sử phát triển xã hội châu Âu. Cuốn “Tư bản” được viết trên cơ sở nghiên cứu lịch sử phát triển của kinh tế - xã hội nước Anh thế kỷ 18 đến đầu thế kỷ 19. Cũng có lẽ do hoàn cảnh lịch sử, nên trong các tác phẩm của Marx, ông không đề cập đến nhiều khái niệm như: toàn cầu hoá, tự do hoá thương mại, thương quyền, thương hiệu... là những khái niệm rất quan trọng của xã hội ngày nay.

    Nhìn một cách xuyên suốt, ngoài những bất cập trên, học thuyết Marx còn đầy rẫy những mâu thuẫn.

    Marx say sưa với vẫn đề công hữu hoá tư liệu sản xuất, nhưng ông đã "quên" mất vấn đề tối quan trọng là công hữu hoá quyền lực, trong các tác phẩm của mình, ông không đề cập đến cách thức tổ chức xã hội theo kiểu nghị viện, với sự tôn trọng những ý kiến khác biệt.
    Marx tôn thờ phép biện chứng nhưng ông lại mắc bệnh tuyệt đối hoá giai cấp, quá tin tưởng ở những phẩm chất tốt đẹp của giai cấp công nhân mà quên rằng nó cũng có đầy những tính xấu như bất cứ giai cấp nào hay con người nào khác. Hậu quả của kẽ hở này là ở các nước đi theo mô hình của Marx, đảng cộng sản sau khi nắm được chính quyền đã trở thành giai cấp thống trị mới còn tệ hại hơn giai cấp thống trị cũ, do nó được biện minh bởi học thuyết mới.

    Với giai cấp tư sản cũng vậy, ông chỉ nhìn thấy mặt hạn chế của giai cấp này mà không nhìn nhận thấy mặt tốt của họ. Marx cho rằng, mâu thuẫn giữa giai cấp vô sản và giai cấp tư sản là mâu thuẫn đối kháng và chủ trương “đào mồ chôn CNTB”. Thực tiễn đã cho thấy, sau khi lập đổ giai cấp tư sản, thiết lập được nền chuyên chính vô sản, các nước cộng sản đều đưa nền kinh tế đi vào ngõ cụt.

    Với công thức công hữu hoá, đất đai là sở hữu toàn dân, do nhà nước quản lý. Nhưng chính quyền lại là sở hữu riêng của đảng cộng sản, đảng không chia sẻ quyền lực cho ai, nên trong các nước theo mô hình CNXH, đều trở thành những chế độ phong kiến kiểu mới - chế độ phong kiến không vua, hay đúng hơn là không ngai - đảng cộng sản ở những nước này, trở thành những chính đảng giàu có, trở thành các siêu địa chủ - tư sản, do họ trở thành chủ sở hữu thực tế của toàn bộ tài sản quốc gia - điều ngay cả một ông vua phong kiến cũng không sánh nổi.

    Sau này Lenin có phát triển học thuyết Marx lên một bước cao hơn, nhưng ông cũng chỉ đi sâu vào chuyên chính vô sản, vào đấu tranh giai cấp. Đặc biệt, Lenine là người tuyệt đối sùng bái Marx mà không nhận ra những sai lầm quan trọng mà Marx mắc phải.

    Cũng chính vì những hạn chế này, nên ngay trên quê hương ông, ở nước Đức, Chủ nghĩa Marx đã từng có mặt hơn 40 năm (ở Đông Đức) nhưng cuối cùng đã thất bại. Còn nước Anh, nơi chủ nghĩa Marx ra đời, hiện không có một sự cấm đoán nào về tư tưởng nhưng người dân vẫn nói không với chủ nghĩa Marx. Thậm chí, có người còn cho rằng, đó chỉ là một waste theory (lý thuyết bỏ đi). Một số đảng cộng sản trước đây đã từng coi chủ nghĩa Marx là hệ tư tưởng nay cũng đã thay đổi cương lĩnh.

    Chúng ta đã trót yêu chủ nghĩa Marx, chúng ta không bài xích chủ nghĩa Marx nhưng coi nó là một quốc đạo như xưa nay vẫn làm thì quả là không ổn. Đó là chưa nói đến chuyện, ngoài học thuyết Marx còn có vô số học thuyết khác cần phải nghiên cứu, tham khảo. Trong phần XIV- ĐỔI MỚI VÀ CHÍNH ĐỐN ĐẢNG, NÂNG CAO NĂNG LỰC LÃNH ĐẠO VÀ SỨC CHIẾN ĐẤU CỦA ĐẢNG” ở đoạn 1, dự thảo có đoạn: “Kiên quyết đấu tranh bảo vệ chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, bảo vệ đường lối, quan điểm của Đảng; phê phán, bác bỏ các quan điểm sai trái, thù địch.” Một đảng cầm quyền, tiên phong dẫn dắt dân tộc trong thế kỷ 21 mà vẫn khư khư coi chủ nghĩa Marx - Lenin là nền tảng, khi ngay trên quê hương sinh ra nó, chủ nghĩa này đã bị người ta loại bỏ không luyến tiếc là một điều không bình thường.

    (Thông tin về CN Marx có thể đọc ở địa chỉ: http://www.marxists.org/vietnamese/)

    (còn tiếp)

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    0 phản hồi