Trần Thành Nam - Tập đoàn kinh tế nhà nước: từ đâu ra và đi về đâu? (hay: con nhà ai và sẽ dựng được nghiệp gì?)

  • Bởi Admin
    04/10/2010
    4 phản hồi

    Trần Thành Nam

    Bài sau đây đưa ra quan điểm của cá nhân tác giả, lý giải sự sụp đổ của hệ thống xã hội chủ nghĩa trên toàn thế giới như là sự thất bại của mô hình tổng công ty nhà nước. Từ đó vụ Vinashin chìm tàu được cho là hệ quả tất yếu của não trạng muốn duy trì mô hình tổng công ty nhà nước của thời “xã hội chủ nghĩa” xưa kia. Tác giả mạnh bạo dưa ra lời tiên tri: “Rồi sẽ đến ngày các tổng công ty và tập đoàn kinh tế nhà nước Việt Nam đồng loạt “chuyển lượng thành chất”, hay đồng loạt sụp đổ, hay sụp đổ theo dây chuyền – anh này kéo anh kia theo. Lúc đó là chúng hoàn thành “sứ mệnh” của mình – làm cho nền kinh tế quốc gia sụp đổ (vì chúng là lực lượng chủ đạo), nhờ có cái gen mà chúng mang theo trong mình từ khi cha sinh mẹ đẻ – cái gen tài năng vừa đá bóng vừa thổi còi.”

    Bauxite Việt Nam

    Hiện nay hầu như mọi tầng lớp xã hội đều quan tâm sâu sắc đến thực trạng và tương lai của mô hình tổng công ty và tập đoàn kinh tế nhà nước.

    Con cái nhà ai?

    Vậy mô hình kinh tế này của Việt Nam sinh ra từ đâu?

    Dù là người ủng hộ hay phản đối mô hình này thì đại đa số các chuyên gia đều nhất trí cho rằng các tổng công ty chuyên ngành và đầu ngành, các tập đoàn kinh tế nhà nước của Việt Nam (xuất thân từ 17 tổng công ty 91 và hơn 80 tổng công ty 90 cũ) đã được sinh ra trên cơ sở chính sách coi lực lượng kinh tế nhà nước là chủ đạo của nền kinh tế quốc gia trong cơ chế thị trường. Đa số cũng cho rằng đó là kết quả từ những cố gắng của chính phủ nhằm xây dựng lực lượng trên theo mô hình các tập đoàn kinh tế tư nhân lớn và thành công như các keiretsu của Nhật hay các chaebol của Hàn quốc, với hy vọng để chúng có thể cạnh tranh với chính các hình mẫu đó trong nền kinh tế thị trường tương lai.

    Ngoài tưởng đó là các keiretsu của Nhật hay các chaebol của Hàn Quốc, nhưng thực chất thì các tập đoàn kinh tế nhà nước ở Việt Nam là con đẻ của mô hình kinh tế XHCN cũ...

    Khoan hãy nói đến chuyện chúng có cơ hội cạnh tranh được với “cha mẹ nuôi” hay không, mà hãy xem xét lại nguồn gốc sinh ra chúng – có phải là theo các hình mẫu keiretsu hay chaebol hay không, bởi vì điều này vô cùng quan trọng, quyết định việc dự đoán tương lai của chúng.

    Theo tôi, chúng ta đã vội vã quên về nguồn gốc sinh ra thực sự của các tổng công ty và tập đoàn kinh tế nhà nước của Việt Nam hiện nay. Có lý do “chính đáng” cho sự cố tình lảnh tránh hay lãng quên này. Chính sự lãng quên và nhầm lẫn nghiêm trọng về nguồn gốc sinh ra – sự nhầm lẫn về cha sinh mẹ đẻ của mô hình doanh nghiệp này – làm chúng ta luôn tranh cãi nhau về nó, vì không hiểu bản chất thực của mô hình đó, và càng không thể thống nhất trong dự đoán tương lai của nó.

    Đó chắc chắn không phải là những đứa con của sự kết hôn giữa kinh tế nhà nước Việt Nam với các ông Chaebol hay các bà Keiretsu trong điều kiện kinh tế thị trường đang toàn cầu hóa. Đó chỉ là báo chí nước ngoài họ gọi so sánh thế và chúng ta ngộ nhận vậy, tưởng thế là hay. Nếu Việt Nam có các keiretsu, có các chaebol thì đích thị chúng ta là rồng rồi còn gì? Thực ra các ông chaebol các bà keiretsu chẳng dính líu gì đến mô hình tổng công ty và tập đoàn kinh tế nhà nước của Việt Nam cả.

    Để tìm hiểu điều này, chúng ta hãy quay lại ít nhất với nền kinh tế kế hoạch tập trung những năm 50 và 60 của các nước phe XHCN, mà Việt Nam (Miền Bắc) là một. Dù còn non trẻ và gặp nhiều khó khăn về lý luận, chính trị, kinh nghiệm và thực tiễn, nhưng nói chung các nền kinh tế kế hoạch tập trung của các nước XHCN đều đã phát triển khá ngoạn mục, nhanh và đồng đều giai đoạn này. Đó là nhờ mô hình kinh tế kế hoạch tập trung giai đoạn đầu đã vô tình tách biệt được việc sở hữu và quản lý của nhà nước (thổi còi) ra khỏi nhiệm vụ sản xuất theo những kế hoạch đó (đá bóng) vốn được giao cho rất nhiều các xí nghiệp vừa và nhỏ, các hợp tác xã và nông trường thực hiện. Việc phân phối kết quả lao động cũng theo kế hoạch và quyền phân phối được tập trung vào trung ương, nên nó cũng vô tình vừa gắn và vừa tách rời hai khu vực với nhau. Trong giai đoạn này, sức sản xuất của con người và cả xã hội được giải phóng tương đối hiệu quả do vấn đề sở hữu phương tiện và thành quả lao động chưa tạo ra những mâu thuẫn xã hội trực tiếp, do người đá bóng (sản xuất) và người thổi còi (quản lý nhà nước) được tách biệt khá rõ ràng ở cấp cơ sở là nơi thực hiện/sản xuất, đều yên tâm (toàn tâm toàn ý) làm tốt công việc của mình. Rất tiếc, sự tăng trưởng này tuy nhanh và mạnh nhưng chỉ thiên về lượng mà không được chú trọng về chất, thiên về hình thức, thiếu nội dung trong mọi khía cạnh cuả nền kinh tế, từ vật chất đến văn hóa, tinh thần, khoa học kỹ thuật, nhất là xã hội, lý luận, tinh thần. Những thiếu hụt, yếu kém về chất của nền kinh tế cũng đã xuất hiện rất nhiều và tích tụ, nhưng bị cố tình bỏ qua, cố tình không được nhận biết để đề phòng, tránh né, ai nhắc đến thì bị trù dập cô lập hoặc cho là phản động…

    Đến những năm 70 và 80 tại các nước XHCN Đông Âu và Liên Xô bắt đầu có phong trào hình thành các Liên hiệp xí nghiệp theo ngành trong mọi ngành kinh tế, được thúc đẩy do sự phát triển về lượng nói trên tạo điều kiện tích lũy tài sản, công cụ, vốn sản xuất. Đây là qua trình chuyển biến tất yếu của sự tích tụ vật chất lớn thành lớn hơn để tăng hơn nữa hiệu quả kinh tế, trình độ kỹ thuật, tập trung nguồn lực đầu tư và nhiều mục tiêu hợp lý khác… Vì sự hợp lý của các mục tiêu và hiệu quả cao mà nó mang lại mà mô hình Liên hiệp các Xí nghiệp hay Tổng công ty phát triển rất nhanh và không thể cưỡng lại, hình thành các tổ chức kinh tế siêu lớn nhiều tầng lớp lên đến cấp các bộ ngành, đối trọng lại với các tập đoàn kinh tế quốc gia và siêu quốc gia của các nước tư bản trong môi trường của chiến tranh lạnh. Vấn đề là sự phát triển này vẫn chỉ là sự liên kết cơ học, lỏng lẻo, bề ngoài, rất hình thức và không có chất lượng, không có sự kết dính cũng như sự đồng nhất, nhất quán nào… Tóm lại, sức mạnh bên trong là không có, trỗng rỗng, không tương xứng qui mô bên ngoài.

    Nhưng đến lúc này thì các Liên hiệp xí nghiệp hay các Tổng Công ty nhà nước lớn nhất nghiễm nhiên trở thành các cơ quan quản lý thực chất ngành của mình, có nghĩa là chúng bắt đầu vừa đá bóng, vừa thổi còi. Nói là “quản lý thực chất” là bởi vì vẫn còn đó các nhà quản lý nhà nước đang bị mất dần thực quyền vì xa rời thực tế và không nắm quyền lực vật chất…

    Thế là, trên sân bóng “nền kinh tế XHCN” xuất hiện nhiều người vừa thổi còi cùng lúc vừa đá bóng. Họ vốn là các huấn luyện viên của các đội hay các cầu thủ giỏi, nay được giao vừa đá bóng vừa thổi còi, bên cạnh những tiếng còi ngày càng yếu ớt và lạc điệu của trọng tài chính (quản lý nhà nước) vì họ không “đá bóng” được… Trên sân bóng đó ngày càng ít cầu thủ đá bóng thực sự vì họ phải đá theo nhiều tiếng còi quá. Cuối cùng là họ chỉ đá vờ… là hiệu quả nhất!

    Trong các công ty, liên hiệp xí nghiệp, tổng công ty nhà nước… của nền kinh tế XHCN phát triển và lây lan nhanh chóng bệnh “đá vờ”: quan liêu, hình thức, lãng phí, giả dối, tham nhũng, quyền hành và lợi ích nhóm… Sự mâu thuẫn của việc các đơn vị kinh tế lớn vừa quản lý vừa kinh doanh trên qui mô lớn tạo ra môi trường nguy hiểm cho các “cú đá vờ” lớn, và thuận lợi cho rất nhiều tệ nạn xã hội, đạo đức vốn đã ấp ủ từ giai đoạn phát triển trước đó. Xã hội các nước Đông Âu và Liên Xô từ đó nhanh chóng rối loạn các bậc thang giá trị, đạo đức cá nhân và xã hội xuống cấp, các tổ chức tan rã hàng loạt.

    Chính quá trình hình thành và phát triển chưa đầy 20 năm của mô hình kinh tế Tổng công ty nhà nước đã trực tiếp phá vỡ các nền kinh tế và góp phần làm bệnh hoạn không thuốc chữa cho cả xã hội của hệ thống các nứớc XHCN những năm 80, tạo môi trường hỗn loạn rồi góp phần chính yếu và quyết định vào sự sụp đổ của cả hệ thống các nước XHCN tại Châu Âu, vào chính thời điểm khi mà họ tưởng như đã mơ thấy mình vượt qua chủ nghĩa tư bản và sờ tay vào chủ nghĩa cộng sản.

    Đáng lẽ ra những năm 70 và 80 của thể kỷ trước phải là giai đoạn phát triển cực thịnh của các nền kinh tế XHCN, mang tính chất tập trung lượng lớn để chuyển thành chất mới, để “lên chế độ cộng sản chủ nghĩa” như các chính phủ đó tin tưởng và kỳ vọng. Điều bất ngờ đã xảy ra là bởi cái chất bên trong không có gì vì không được coi trọng nhiều năm trước đó của chính thể, hay cái có đó lại là sự nhu nhược, ung thối tràn lan nay được nhanh chóng phát tán dẫn đến tan nát cả hệ thống và toàn xã hội!

    Những kẻ những năm 50-60 đã bỏ qua và bao che tội trộm gà của những đứa trẻ lớp con cháu mình thì đến năm 80-90 đã phải đắng họng chấp nhận bị chúng (lớn khôn và có quyền hành rồi) ngang nhiên trộm hết trâu bò cày kéo của các “hợp tác xã” xã hội chủ nghĩa đem thịt hay chiếm dụng riêng, làm thương hiệu HỢP TÁC XÃ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA sập tiệm hoàn toàn trên Trái Đất.

    Khi các nước XHCN châu Âu sụp đổ, cả Trung Quốc và Việt Nam đều choáng váng vì số phận của các bậc tiền bối và lo sợ cho tương lại của chính mình. Họ nhanh chóng qui các nguyên nhân và trách nhiệm làm sụp đổ cho các đường lối chính trị sai lầm hay/và sự yếu kém của tổ chức cá nhân lãnh đạo trong các đảng cầm quyền của các nước “đàn anh” đó, mà không ai thực sự nhìn thấy và chỉ ra nguyên nhân chính sâu xa và quyết định nhất chính là sự nguy hại bệnh hoạn của mô hình kinh tế dựa trên các tổng công ty nhà nước làm lực lượng chủ đạo (khi đó thậm chí gần như là duy nhất).

    Công bằng mà nói, mô hình liên hiệp xí nghiệp hay tổng công ty nhà nước XHCN chỉ là những mảnh đất màu mỡ cho tham nhũng, bất công và các loaị bệnh hoạn xã hội khác nẩy mầm và phát triển man rợ mà thôi, bản thân chúng không làm sụp đổ cả thể chế được, nhưng các thể chế XHCN lại đứng trên chúng, dồn vốn xã hội cho chúng, hy vọng được dựa vào chúng để có sức mạnh kinh tế. Tác nhân phá hủy nằm ở chính “cơ chế”, chính sách, đường lối và đạo đức con người trong các tổ chức trong toàn xã hội. Còn những hạt giống bệnh hoạn đã luôn có sẵn trong mỗi con người. Khi có thêm trong những sai lầm lý luận chính trị, cơ sở lý thuyết và các phương thức tổ chức xã hội của các nền kinh tế tự gọi mình là XHCN chăm vun vào, khuyến khích thêm, chúng phát triển và “phát huy tác dụng” nhanh đến không ai có thể ngờ tới.

    Tại Trung Quốc và Việt Nam những năm cuối 80 đầu 90 cũng đã hình thành các tổng công ty toàn ngành với tất cả các hệ lụy bệnh hoạn của chúng như ở các nước XHCN châu Âu trước đó. Nhưng do đặc thù văn hóa châu Á, do đặc thù của các đảng cộng sản châu Á (“chuyên chính vô sản” hơn), và nhất là do họ là người phải học theo Liên Xô và Đông Âu nên các tổng công ty nhà nước XHCN ở châu Á được hình thành muộn hơn chừng 5-10 năm. Các tổng công ty nhà nước XHCN châu Á chưa kịp “biến lượng lớn thành chất mới” để làm nền kinh tế XHCN của nước mình sụp đổ thì các đảng cộng sản cầm quyền đã phải tiến hành gấp rút các cuộc cải tổ chính trị rộng khắp để cứu vãn chế độ. Trung Quốc thì tiến hành “mở cửa”, Việt Nam thì “đổi mới”, còn Bắc Triều Tiên thì “đóng cửa”… Các tổng công ty nhà nước ở Việt Nam thì thoi thóp như người bị ung thư giai đoạn cuối, ở Trung Quốc thì chúng hung hăng như người bị tâm thần, còn ở Bắc Triều Tiên thì chúng trở nên độc đoán như những kẻ quản ngục…

    Hai mươi năm sau sự sụp đổ của hệ thống XHCN, nhân dân Việt Nam thần kỳ vực dậy đất nước mình, nền kinh tế từng bước phục hồi với nhiều thành phần mới. Những kẻ vượt qua “ung thư giai đoạn cuối” vẫn được coi là “lực lượng chủ đạo”, đã vô thức quên mất cha sinh mẹ đẻ của chúng là ai. Lý do: điều đó nhắc đến cái chết hàng loạt đã nói trên của các nền kinh tế XHCN Châu Âu! Tâm thức con người có bản năng tránh né sự đau buồn, tâm thức xã hội và nhà nước hóa ra cũng vậy! Thay vào lý lịch đó, chính phủ khoác lên chúng hai chữ “tập đoàn” mới mượn từ các nền kinh tế tư bản mà cụ thể là từ Nhật và Hàn quốc, và chỉ sang tư bản bảo với chúng rằng cha mẹ chúng là nền kinh tế thị trường, hãy ra đó mà tung hoành và chủ đạo!

    Không ai muốn nhớ và nhắc nhở rằng chúng là con cháu thực và mang gen di truyền của những tổng công ty toàn ngành nhà nước bên trời Âu đã từng phá vỡ nhanh chóng các nền kinh tế từng khá hùng mạnh của các nước XHCN châu Âu thuở nào.

    Đến đây thì chúng ta đã hiểu và trả lời được câu hỏi: cha sinh mẹ đẻ của mô hình tổng công ty và tập đoàn nhà nước là ai? Khi biết thân cha thế mẹ của một người là ai thì chúng ta dễ đoán sự nghiệp tương lai của kẻ đó, thông qua hiểu biết về sự nghiệp của cha mẹ họ. Điều đó giúp chúng ta không cần tranh luận về sứ mệnh và tương lai của mô hình tổng công ty và tập đoàn kinh tế nhà nước Việt Nam nữa.

    Nếu sự nghiệp vang dội của cha mẹ – mô hình mẫu – của các tổng công ty và tập đoàn kinh tế nhà nước Việt Nam là phá vỡ nhanh chóng trong thời gian chưa đầy 20 năm và phá hủy toàn diện một loạt các nền kinh tế XHCN khá hùng mạnh của đất nước họ, thì có lẽ sự nghiệp của các tổng công ty và tập đoàn kinh tế nhà nước của Việt Nam hiện nay cũng sẽ như thế thôi, hay có khi còn vang dội hơn. Điều mà cha mẹ phải làm trong 20 năm, thường con cái chỉ cần làm trong 5-10 năm thôi.

    Sẽ đi về đâu?

    Vậy là chúng ta cũng đã trả lời được cả câu hỏi thứ hai: Các tổng công ty và tập đoàn kinh tế nhà nước của Việt Nam sẽ đi về đâu? Đó là: Chúng sẽ thực hiện sứ mệnh của chúng. Chúng sẽ phá vỡ hoàn toàn và nhanh chóng nền kinh tế của Việt Nam.

    Chúng ta đã có một số “kết quả ban đầu” qua thành tích gần đây của tập đoàn kinh tế Vinashin. Giống như trước Khởi nghĩa 1945 đã có Xô viêt Nghệ tĩnh 1930, trước Đồng Khởi 1960 đã có Nam Kỳ Khởi Nghĩa 1940 vậy. Nhưng tại sao lại là Vinashin “nổ phát súng đầu tiên” mà không phải tập đoàn nào khác? Có vài ba nguyên nhân góp lại làm nên chuyện này.

    Thứ nhất, Vinashin hoạt động trong ngành công nghiệp cần vốn rất lớn nhưng lại chỉ bán được sức lao động của công nhân là chính. Ở đấy không có dầu bơm lên mà đổi đôla, không có than đào lên mà bán, không có điện nước cứ đo đếm mà thu tiền, chỉ có nhân công lao động chất lượng và hiệu quả mới đổi lấy tiền của người khác được. Ở đó cứ phạm sai lầm làm mất mát lớn, rất lớn qua đồng tiền lãi vay, qua số vốn đầu tư lớn nằm chết và qua số tiền để nuôi giữ lực lượng lao động cực lớn… Ở đó cần nhất cái tâm sáng của những con người và cơ cấu tài chính minh bạch. Cả hai điều này đã không có tại Vinashin; tất cả các tập đoàn khác có lẽ cũng thế thôi, không có.

    Thứ hai, Vinashin lại được nhà nước kỳ vọng và giao trọng trách làm trụ cột cho việc thực hiện chiến lược biển quốc gia, với một số vốn cực lớn và sự ưu ái đặc biệt thông thoáng. Việc này giống như một gia đình nghèo giao cả tài sản cho cậu trai út đóng thuyền đi buôn và tìm đường đi cho cả nhà, chỉ vì cậu hứa sẽ làm được. Thực tế là cậu không đủ sức, ít kinh nghiệm nhất, cậu còn không thích sửa chữa tàu bè và chưa bao giờ biết quản lý tiền cả nên cậu mang tiền đi đầu tư đất đai và ăn tiêu sạch, con tàu để ra khơi vẫn chưa mua ván để đóng… Tóm lại cậu út đã bị số tiền vốn đè bẹp dí trước khi có thể điều khiển nó.

    Thứ ba, mô hình tổng công ty rồi tập đoàn kinh tế cho Vinashin quá nhiều quyền quản lý và huy động vốn đầu tư mà không đòi hỏi phải có năng lực và kết quả gì tương xứng. Thế là Vinashin sát nhập mọi loại đơn vị khác đang hấp hối vào với mình để “phát triển” theo chiều rộng. Số tiền Vinashin vay chỉ đủ để làm lễ khởi công các công trình hoành tráng khắp đất nước là đủ… bốc hơi hết. Điều này giống hệt các công trình lớn của các tổng công ty nhà nước bên Liên Xô và Đông Âu những năm 80, để lại cảnh hoang tàn khắp nơi mà nhiều năm sau người ta vẫn phải dọn dẹp.

    Các tập đoàn khác cũng có ba vấn đề đầu tiên trên ở mức độ khác nhau không hề kém nghiêm trọng, nhưng họ có vốn kinh doanh tự có rất lớn từ việc bán rẻ tài nguyên đất nước (dầu khí, điện, nước, than, khoáng sản…) – cái mà họ có thực quyền quản lý, nên họ còn đang xoay sở, chưa sụp đổ mà thôi.

    Rồi sẽ đến ngày các tổng công ty và tập đoàn kinh tế nhà nước Việt Nam đồng loạt “chuyển lượng thành chất”, hay đồng loạt sụp đổ, hay sụp đổ theo dây chuyền – anh này kéo anh kia theo. Lúc đó là chúng hoàn thành “sứ mệnh” của mình – làm cho nền kinh tế quốc gia sụp đổ (vì chúng là lực lượng chủ đạo), nhờ có cái gen mà chúng mang theo trong mình từ khi cha sinh mẹ đẻ – cái gen tài năng vừa đá bóng vừa thổi còi. Người biết chuyện gọi đó là cuộc cách mạng đổi màu sở hữu chủ. Vật chất không tự nhiên sinh ra và cũng không tự nhiên mất đi, chúng chỉ chuyển từ chủ này sang chủ khác.

    Ở đây nảy sinh câu hỏi thứ ba: Ai sẽ được lợi khi điều đó xảy ra? Ai sẽ là chủ mới của các Tổng công ty và tập đoàn đó khi không còn nhà nước vốn bảo hộ cho chúng? Câu hỏi này hơi phức tạp và xin để làm chủ đề cho phần sau.

    T. T. N.

    Tác giả gửi trực tiếp cho BVN

    Chủ đề: Kinh tế

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    4 phản hồi

    Tôi thấy tác giả dường như chưa nói hết vấn đề. Các TCT và TĐ NN VN hiện không chỉ vừa đá bóng vừa thổi còi (tức là đá hai sân) trong nghành của mình "quản" mà:
    - Họ chính là người đề ra mọi tiêu chuẩn, qui định pháp lý cho cả nền kinh tê liên quan đến ngành của họ (chính phủ chỉ ký tên thôi và không có ai phẩn biện được, vì phản biện chính là họ), tức là họ cũng viết ra cái luật đá bóng mà họ đang thổi còi theo đó và đang đá theo đó, thicnhr thoảng họ sửa luật cho tiện (ý họ, nhưng thực ra không biết ý ai?). Tức là họ đóng luôn ba vai: người làm luật, người thực thi luật và người kiểm soát việc thực thi luật luôn! Không phải chỉ lưỡng tiện, mà là Tam tiện!Giống như Quốc hội, Chính phủ và Tòa án nhập vào làm một vậy. Trong sự sát nhập hổ lốn như vậy thành độc quyền tuyệt đối rồi thì chuyện gì cũng có thể xẩy ra! Tưởng chuyện như thế chỉ có trên sân khấu tuồng hai cải lương hay phường chèo mới có thể xảy ra vì người ta "đá vờ trên mấy mét vuông" thôi, ai dè có thể đá vờ trên toàn thế giới...
    - Họ lại còn liên kết công khai và không công khai giữa các TCT và TĐ với nhau nữa! Ở nước ngoài Luật pháp rất nghiêm cấm chuyện này để tránh độc quyền và bảo vệ người tiêu dùng, bảo vệ nhân dân và cùng là bảo vệ các nhà nước. ở Vn thì các TCT và TĐ vốn đã có đọc quyền tuyệt đối và hợp pháp rồi, họ lại còn tự tạo các điều kiện vượt cả mọi pháp luật nữa, thật quá nguy hiểm lắm thay cho nền kinh tế Việt Nam!
    Vì thế, tôi rất đồng ý với dự đoán của tác giả Trần Thanh Nam về tương lai của TCT và TĐ KT NN, nếu Việt Nam không làm gì để thay đổi tình trạng và xu hướng hiện nay.

    ng quan tam viết:
    Tại sao điều có vẻ rõ ràng và hiển nhiên thế lại không được nhận ra lâu nay? Tác giả có đơn giản vấn đề quá không?

    Bạn ng quan tam,

    Tôi nghĩ ở VN có những nghịch lý mà đôi khi người ta KHÔNG hiểu nổi vì nó quá hiển nhiên nhưng lại KHÔNG có gì thay đổi thực sự !

    Liệt kê cho bạn vài ví dụ nhỏ :

    - Giao thông và ngập lụt trong thành phố :
    Từ 1993-1995 đã có một số cảnh báo về nạn kẹt xe và ngập lụt ở TPHCM do dân số tập trung nhanh, đường xá + cống không nâng cấp, không nới rộng, phương tiện giao thông công cộng như bus, xe điện, xe lửa quá yếu, không có, ... Thế nhưng bây giờ 2010, đã 17 năm rồi có gì thay đổi thực sự chưa ?

    - Ô nhiễm do công nghiệp :
    Ở thời điểm này cũng có cảnh báo về ô nhiễm môi trường do các xí nghiệp gây ra nếu không có luật và kiểm soát chặt chẽ. Thế bây giờ ra sao với Vidan ?

    Những cảnh báo này do các chuyên gia đưa ra ở hội nghị có các quan chức cao cấp CSVN tham dự, được đăng báo, phát thanh, truyền hình, ... thế nhưng hình như các quan chức CSVN chỉ nghe rồi ... bỏ đó cho mối gặm nhấm.

    Kiệt, Khải, Triết, Dũng, Sang lúc đó đều nắm chức vụ lãnh đạo ở thành ủy TPHCM trước khi nắm chức vụ thủ tướng hoặc ra trung ương. Họ đều biết sự việc địa phương vì cho dù đàn em không thông báo thì họ và gia đình đều nghe đài, đọc báo chứ ? Tại sao họ không làm gì để dự phòng và giải quyết vấn đề ngay khi chưa trầm trọng ?

    Tôi và nhiều người dân lúc đó khi đọc báo đã nghĩ đến chính phủ biết và giải quyết ngay nhưng hỡi ôi do không có ai đại diện cho dân, đảng CS và các đại biểu bù nhìn chỉ lo việc chính của họ trước

    Một khi vừa lên chương trình, vừa thi hành việc, giám sát việc và kiểm soát việc cùng là một nhóm người cùng phe cánh thì mọi việc sẽ nát bét như nồi cám heo mà thôi

    Vợ bạn lên chương trình, bạn làm việc mà kẻ kiểm soát việc bạn làm lại là em trai bạn hoặc cùng phe với bạn (người bình thường, không phải là thánh) thì bạn nghĩ rằng có nghiêm túc không ?

    Lòng tham, tất cả vì lòng tham và sự ích kỷ của đảng CSVN mà thôi !

    http://www.tienphong.vn/Thoi-Su/514310/Can-bo-lop-truoc-chua-san-sang-nhuong-ghe.html

    Trích dẫn:
    Rõ ràng là không thực hiện được khẩu hiệu đưa ra: Nhà nước của dân, do dân và vì dân; không thực hiện được triết lý lấy dân làm gốc; không tạo được sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc.

    Người tài không được phát huy, đóng góp nhiều thì đất nước không thể phát triển nhanh và tốt được. Đúng là việc này nói thì rất dễ, song làm thì không biết vì sao khó vậy!

    Tại sao điều có vẻ rõ ràng và hiển nhiên thế lại không được nhận ra lâu nay? Tác giả có đơn giản vấn đề quá không?

    Thật hết sức đáng lo ngại về tư duy và khả năng điều hành và lãnh đạo của đảng CSVN.
    Tôi nghĩ trong đảng CSVN vẫn có người tài giỏi và có tâm nhưng vấn đề là những đảng viên này quá ít, lẻ loi giữa đám sói đảng viên CS tham lam khác ! Cứ nhìn cách tái đắc cử bí thư tỉnh một cách gian lận của Nguyễn Bá Thanh là đủ hiểu

    Các tập đoàn lớn lạm dụng tài nguyên đất nước, tham lam và quản lý kém, việc phá sản nhà nước là hoàn toàn có thể

    Các đảng viên CS chân chính hãy tập hợp lại để dứt khoát loại bỏ những thành phần bất hảo, cặn bã, cơ hội trong đảng CS

    http://sgtt.vn/Thoi-su/130539/Dung-Quat-ton-kho-hang-trieu-m3-san-pham.html

    Dung Quất tồn kho hàng triệu m3 sản phẩm

    SGTT.VN - Tại cuộc họp giao ban sản xuất trực tuyến sáng nay (4.10) tại bộ Công thương, đại diện tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) cho biết, một số sản phẩm do nhà máy lọc dầu Dung Quất sản xuất ra đang tồn kho rất lớn như xăng dầu, khí đốt… Riêng lượng khí tồn kho lên tới khoảng 2 triệu m3.

    Theo lãnh đạo bộ Công thương, ban lãnh đạo nhà máy lọc dầu Dung Quất chưa chủ động, kịp thời trong việc báo cáo tình hình sản xuất, khiến bộ Công thương cũng lúng túng trong công tác chỉ đạo, điều hành. Ảnh: TL SGTT

    Theo PVN, nếu không có giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu và tiêu thụ trong nước hiệu quả thì thời gian tới, nhà máy này phải giảm công suất. Đại diện tổng công ty Xăng dầu Việt Nam cho biết, tổng công ty này cũng đã tăng cường mua xăng dầu của nhà máy lọc dầu Dung Quất. Nhưng thực tế có câu chuyện là kế hoạch sản xuất của nhà máy này từ đầu năm đã không ổn định nên các công ty nhập khẩu xăng dầu đầu mối phải ký kết hợp đồng nhập khẩu từ nước ngoài từ đầu năm để cân đối sớm nên nay, nếu phá hợp đồng với đối tác nước ngoài để mua xăng dầu của Dung Quất thì cũng phát sinh thiệt hại (phải bồi thường hợp đồng). Nhưng cho dù có mua của nhà máy lọc dầu Dung Quất, các công ty kinh doanh xăng dầu cũng phải tính đến các phương án giải phóng kho, tiêu thụ sản phẩm, cho nên đây là vấn đề không dễ dàng.

    Thứ trưởng bộ Công thương Nguyễn Cẩm Tú phê phán ban lãnh đạo nhà máy lọc dầu Dung Quất chưa chủ động, kịp thời trong việc báo cáo tình hình sản xuất, nhất là có những thay đổi trong quý III và quý IV dẫn đến việc bộ Công thương cũng lúng túng trong công tác chỉ đạo, điều hành. Theo ông Tú, thực tế sản lượng sản xuất các sản phẩm xăng, dầu, khí tại nhà máy lọc dầu Dung Quất năm nay tăng 20% so với kế hoạch (năm 2009 đạt thấp hơn kế hoạch) trong khi nhu cầu tiêu thụ thực tế trong nước năm nay lại không cao như dự báo. Theo ông, việc PVN giao công ty PV Oil làm đầu mối tiêu thụ các sản phẩm của nhà máy lọc dầu Dung Quất với mức hoa hồng cao hơn là không công bằng và khiến nhiều công ty khác không mặn mà với việc tiêu thụ sản phẩm cho nhà máy. Ngoài ra, còn có vấn đề như dầu ma dút của nhà máy này chưa đạt một số chỉ tiêu về chất lượng, nhiên liệu ZA1 (cho máy bay) tuy đạt chất lượng nhưng chậm làm thủ tục đăng ký để tiêu thụ nội địa… cũng khiến việc điều hành tiêu thụ sản phẩm nhà máy lọc dầu Dung Quất khó khăn.

    Ông Tú cho biết, hiện nay, bộ Công thương có hướng chỉ đạo sẽ để cho công ty lọc hóa dầu Bình Sơn trực tiếp điều hành việc tiêu thụ, xuất khẩu các sản phẩm nhà máy lọc dầu Dung Quất, giao tổng công ty Xăng dầu Việt Nam tăng gấp đôi mức tiêu thụ xăng dầu từ nhà máy này và yêu cầu 6 công ty kinh doanh xăng dầu đầu mối khác tham gia mua sản phẩm của nhà máy lọc dầu Dung Quất. “Với các biện pháp như vậy, từ nay đến cuối năm, sẽ xử lý được tình trạng tồn kho của nhà máy này”, ông Tú khẳng định.