Robert D. Kaplan - Địa lý của thế lực Trung Quốc

  • Bởi Admin
    19/09/2010
    2 phản hồi

    Robert D. Kaplan<br />
    Mai Việt Tú chuyển ngữ

    Lời người chuyển ngữ

    Hãy suy nghĩ về con cừu và cái cọc.

    Một đứa bé sinh ra lớn lên đã được đưa vào con đường giáo dục định hướng nhất định, tức là được nhìn, nghe và nói những gì đã áp đặt bằng cường bạo vào một lý thuyết vong bản ngoại tộc. Và đến khi trưởng thành đứa bé ấy bị đưa từ một cái vòng nhỏ vào cái vòng lớn hơn của cái xã hội lớn hơn và tiếp tục chỉ được nhìn, nghe và nói những gì mà cho phép. Và ai cũng biết kết quả là đứa bé ấy đã trở thành một con cừu toàn vẹn. Thỉnh thoảng có vài con cừu tự giác ngộ và đi lạc lên cái đồi cao hơn và nhìn thấy sự việc và muốn thay đổi thì đã bị đám chăn cừu hung tàn lùa bắt và cột cổ dùng vũ lực lôi chúng theo những đám cừu ngoan ngoãn kia. Cuộc hành hương về đất lạ phương Bắc dài cho những thế hệ đầu và càng ngắn cho những thế hệ về sau. Và lịch sử sẽ đi vào quên lãng.

    Tổ tiên Việt Nam ta đã dạy:

    Lấy trí nhân để thay cường bạo
    Đem đại nghĩa để thắng hung tàn

    Một đứa bé sinh ra lớn lên được đưa vào con đường giáo dục lấy trí nhân làm nền tảng tức là được nhìn, nghe và nói những gì mà tổ tiên dạy và có sự so sánh phán xét với thế giới rộng mở bên ngoài thay đổi theo từng giai đoạn lịch sử. Và đến khi trưởng thành đứa bé ấy đã biến hình thành một bồ đại nghĩa. Và được phương tiện của con tuấn mã kỹ thuật thông tin càng ngày càng tiến bộ, mỗi một bồ đại nghĩa đã trở thành một cái cọc trên dòng sông Bạch Đằng vô giới hạn. Và lịch sử sẽ lập lại và sống mãi.

    Do đó sự lựa chọn chiến lược là điều cần thiết cho sự tồn vong của dân tộc Việt.

    Mặc dù rất bận, tôi cố gắng tìm một thí dụ trong hàng trăm thí dụ hay. Nhiều lý luận của bài luận này hầu hết dựa trên mặt địa lý nhưng mang rất nhiều thông tin kết hợp với những phân tích của một trong những chuyên gia nổi tiếng nhất thế giới.

    Tôi hy vọng bài này được phổ biến rộng rãi và sẽ đem đến một số suy nghĩ không những cho mỗi người Việt Nam mà nhất là cho các cán bộ các cấp kể cả những lãnh đạo có quyền quyết định trong mỗi lãnh vực của Đảng CSVN, là những người có thể đóng góp cho xây dựng sự lựa chọn chiến lược nói trên.

    Việt Nam đã có cơ hội ngàn năm một thuở sau khi dây chuyền Cộng Sản sụp đổ kéo theo Liên Bang Sô Viết. Tại thời điểm ấy nếu Việt Nam đi theo con đường tự do dân tộc thì toàn thế giới tự do sẽ chuyển hướng những ưu tiên vào Việt Nam hơn là dành cho Trung Quốc. Sự lựa chọn của Đảng CSVN lúc ấy là đi theo Trung Quốc để bảo vệ chế độ là một sai lầm chiến lược lớn nhất trong lịch sử 4000 ngàn năm dựng nước và giữ nước Việt Nam và càng đưa đất nước sâu hơn đến khủng hoảng tại họa Trung Quốc. Nga, Nhật Bản và Ấn Độ là ba quốc gia chính với sự hậu thuẫn của Hoa Kỳ sẽ lôi kéo Việt Nam vào với họ vì Việt Nam nằm ở vị trí chiến lược nhất ở vùng Đông Nam Á. Tất cả ngoại bang kể cả Trung Quốc và Hoa Kỳ sẽ không bao giờ muốn Việt Nam trở thành một nước tự do thật sự vì chỉ có độc tài tại Việt Nam thì ngoại bang mới lũng đoạn theo ý họ được. Sự lũng đoạn sẽ đưa nước Việt trở thành một chiến trường mới. Do đó, tôi xin lập lại, sự lựa chọn chiến lược là điều cần thiết cho sự tồn vong của dân tộc Việt. Nước Việt Nam phải trở thành một dòng sông Bạch Đằng vô giới hạn và mỗi một đứa con dân Việt sẽ là một cái cọc trên dòng sông ấy.

    Mô hình độc tài hiện tại đưa đến mất nước là điều tất yếu. Một mô hình đúng đắn cho sự tồn vong của nước và dân tộc Việt là một cần thiết. Bài viết trước về mô hình Trung Quốc, tôi đã đề cập Việt Nam cần một mô hình như Úc với vài thay đổi để vượt lên trên tất cả những thế lực cực đoan phản dân tộc và lũng đoạn đất nước. Cũng nên nhấn mạnh ở đây, tác giả bài luận cũng cho là thủ đô thiên nhiên của Đông Dương là thành phố Kunming của tỉnh Vân Nam, Trung Quốc. Do đó nước Việt Nam cũng không còn thì giờ nhiều để có thể tạo một nền móng mới vững chắc được.

    Dọc theo bài viết, tôi cũng thêm một số bình luận trong ngoặc đánh dấu MVT và số thứ tự và giải thích chi tiết ở phần cuối bài viết.

    Mai Việt Tú
    (Mai này nước Việt đẹp hơn)
    Tháng 9 năm 2010

    Bắc Kinh có thể vươn bao xa trên đất liền và trên biển?

    Nhà địa lý người Anh, Sir Halford MacKinder, viết xong một bài luận nổi tiếng năm 1904, “Cái chốt địa lý của lịch sử”, với nhận định đáng lo ngại chỉ thẳng vào nước Trung Quốc. Sau khi giải thích tại sao vùng Âu-Á (MVT-1) là điểm tựa chiến lược của sự vận chuyển của quyền lực thế giới, ông giả nghiệm rằng Trung Quốc, nếu họ nới rộng quyền lực của họ qua khỏi những biên giới của họ, “có thể áp đặt một luồng nguy hiểm vàng (dân Á Châu) cho sự tự do của thế giới chỉ vì họ chỉ muốn cộng thêm một vùng bờ biển vào những tài nguyên của một châu khổng lồ, một lợi thế mà Trung Quốc không công nhận như vậy đối với những người Nga sống trong vùng chốt (chiến lược kể trên)”. Bỏ cảm giác kỳ thị ra một bên, mà rất phổ thông cho thời buổi này, cũng như là phản ứng thấp thỏm do bởi sự nổi dậy bất cứ lúc nào của thế lực không phải của phương Tây, Mackinder nêu ra một điểm: trong khi Nga, một quốc gia lớn khác của vùng Âu-Á, nói một cách cơ bản đã là, và vẫn là, một thế lực trên đất liền với một mặt biển bị chắn bởi băng đá, thì Trung Quốc, làm chủ cả 9000-dặm bờ biển ấm áp với nhiều vịnh (cho tàu bè) thiên nhiên, có cả hai thế lực đất liền và biển. (Mackinder thật sự lo sợ rằng Trung Quốc có thể một ngày nào đó xâm chiếm nước Nga). Tầm tay của Trung Quốc vươn ra từ Trung Á, với tất cả quặng mỏ và nguyên liệu dồi dào, cho tới những đường vận chuyển của tàu bè ở Thái Bình Dương.

    Sau này, trong xã luận “Những lý tưởng và hiện thực dân chủ”, Mackinder tiên đoán rằng cùng với Hoa Kỳ và Anh Quốc, Trung Quốc sau cùng sẽ hướng dẫn thế giới bằng “xây dựng một phần tư nhân loại với một nền văn minh mới, không hẳn Đông phương chẳng hẳn Tây phương”. (MVT-2)

    Địa lý của Trung Quốc được trời phú rõ ràng đã bị lu mờ bởi cái điểm được đề cao trong những thảo luận về sự năng động của nền kinh tế và sự cương quyết (của những chính sách và dự án) của họ. Cho đến nay thật là cần thiết: nó có nghĩa rằng là Trung Quốc sẽ đứng tại trung điểm của chính trị địa lý ngay cả nếu con đường của quốc gia (Trung Quốc) đi đến thế lực toàn cầu không cần thiết là con đường thẳng êm đẹp. (Trung Quốc đã và đang có chỉ số tăng trưởng GDP hơn 10 phần trăm mỗi năm hơn 30 năm qua, nhưng một cách chắc chắn là họ không thể có (tăng trưởng cao) như vậy trong 30 năm sắp tới). Trung Quốc tổng hợp một cực đoan, tối tân kiểu Tây phương với một nền “văn minh định hướng” (thuật ngữ được gán ghép bởi nhà sử gia Karl Wittforgel để mô tả những xã hội mà áp đặt sự kiểm soát bởi trung ương trong sự dẫn thủy nhập điền) đó là đem lại những kinh nghiệm cũ của Đông phương cổ truyền: thật cám ơn cho đường lối tập trung quyền hành trung ương, nhà cầm quyền, chẳng hạn, có thể trưng dụng hàng triệu người lao động để xây dựng cơ sở hạ tầng trọng đại. Việc ấy chứng tỏ Trung Quốc năng động một cách vững chắc mà những quốc gia dân chủ không thể thực hiện được với tất cả khả năng thương lượng. Như lần lượt những nhà lãnh đạo CS của Trung Quốc – cũng ảnh hưởng gốc rễ của khoảng 25 triều đại trong 4000 năm qua – đang hấp thụ kỹ thuật phương Tây và điều hành phương Tây, tự họ thích ứng vào trong một hệ thống kỷ luật với bản sắc thái riêng (của họ) với một kinh nghiệm đặc thù trong, giữa những thứ khác, quá trình tạo dựng những quan hệ gắn bó với các quốc gia khác. “Người Trung Quốc”, một quan chức Singapore nói với tôi hồi đầu năm nay, “nịnh bợ mày khi mà họ muốn nịnh bợ mày, trấn lột mày khi họ muốn trấn lột mày, và họ làm thế một cách có hệ thống”.

    Năng động nội bộ của Trung Quốc tạo ra khát vọng của họ hướng ra bên ngoài. Những đế quốc ít khi thành hình từ phác họa, họ lớn mạnh một cách hữu cơ (tự nhiên như một cái cây). Khi những quốc gia trở thành mạnh hơn, họ gặt hái những nhu cầu mới và – đây có thể được cảm thấy chống lại lẽ thường – những tâm trạng mà bắt buộc họ phải xâm lăng bằng mọi hình thức. Ngay dưới thời mấy vị tổng thống Mỹ mà được xem là dở nhất – Rutherford Hayes, James Garfield, Chester Arthur, Benjamin Harrison – nền kinh tế Mỹ tăng trưởng một cách đều đều và thầm lặng trong khoảng cuối thế kỷ mười chín. Khi quốc gia buôn bán nhiều hơn với thế giới bên ngoài, nó phát triển ra một kinh tế phức tạp và đặt những quyền lợi chiến lược đến những nơi xa xôi hơn. Đôi khi, như ở vùng Nam Mỹ và Thái Bình Dương, chẳng hạn, những quyền lợi này bào chữa cho việc dùng vũ lực quân đội. Hoa Kỳ đã có thể bắt đầu tập trung vào hướng ngoại trong thời gian ấy bởi vì họ đã thống nhất đất nước; trận đánh lớn cuối cùng của chiến tranh với Thổ Dân Da Đỏ ở năm 1890.

    Trung Quốc ngày nay đang củng cố những biên giới của họ và đang bắt đầu hướng ngoại. Những khát vọng của chính sách ngoại giao của Trung Quốc cũng hiếu chiến như là của Hoa Kỳ một thế kỷ trước, nhưng cho những mục đích hoàn toàn khác nhau. Trung Quốc không xử dụng cái phương cách giảng đạo cho những giao dịch thế giới, kiếm cách để lan rộng một ý tưởng hoặc một hế thống quản trị chính phủ. Phát triển đạo đức trong những giao dịch quốc tế là một mục đích của Mỹ, không phải là của Trung Quốc. Những hành động ở ngoài nước Trung Quốc được lèo lái bởi nhu cầu của họ để bảo đảm năng lượng, kim loại, và những khoáng chất chiến lược trong mục đích bảo đảm tiêu chuẩn đời sống đang đi lên của một dân số khổng lồ, với con số vào khoảng một phần năm tổng dân số thế giới.

    Để hoàn thành sứ mạng này, Trung Quốc đã và đang xây dựng những quan hệ thế lực ở thế ưu trương cả đối với những quốc gia giáp ranh và những nơi chốn xa xôi mà giàu về nguyên liệu mà Trung Quốc cần để xử dụng cho sự tăng trưởng của họ. Bởi vì cái gì mà thúc đẩy Trung Quốc hướng ngoại đều xuất phát từ trung tâm quyền lợi của quốc gia của họ - sự sống còn của kinh tế - Trung Quốc có thể được định nghĩa là một thế lực ẩn thực. Họ tìm cách xây dựng thế đứng vững chắc (của họ) trên những phần đất của Phi châu mà giàu về dầu hỏa và những khoáng sản và (Trung Quốc cũng) muốn được quyền xử dụng đường tàu xuyên qua Ấn Độ Dương và Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông Việt Nam, MVT-3), để nối liền cái thế giới Ả Rập Ba Tư (Trung Đông) giàu chất đốt đến tới bờ biển Trung Quốc. Không có sự lựa chọn (nào khác hơn) trong vấn đề này, Bắc Kinh cóc cần để ý cái loại chế độ (độc tài) gì mà họ đang làm ăn với; Trung Quốc đòi hỏi sự yên ổn, không phải cái kiểu đạo đức mà phương Tây hấp thụ. Và bởi vì một số những chế độ – như ở Iran, Miến Điện, và Sudan – được che đậy và là độc tài, sự vơ vét nguyên liệu của Trung Quốc đưa họ đối đầu với Hoa Kỳ mà (là loại quốc gia) có đường hướng quảng bá đạo đức, cũng như đối đầu với những nước Ấn Độ và Nga muốn chống lại sự tranh giành ảnh hưởng lan rộng của Trung Quốc.

    Để cho chắc chắn, Trung Quốc không là một vấn đề cho các quốc gia này suy diễn từ các vấn đề liên quan trong quá khứ và hiện tại (gây ra bởi Trung Quốc). Cơ hội chiến tranh xảy ra giữa Trung Quốc và Hoa Kỳ thì hiếm; sự đe dọa binh lực của Trung Quốc đối với Hoa Kỳ thì chỉ là gián tiếp. Sự ganh đua mà Trung Quốc phô bầy chỉ có về địa lý một cách chính yếu – mặc dù bên cạnh những vấn đề quan trọng sinh tử như về nợ nần, giao thương và hâm nóng thế giới. Những khu vực ảnh hưởng của Trung Quốc hiện ra ở những nơi Á-Âu và Phi châu đang trong chiều hướng gia tăng, không như là một cái cảm tưởng của cái kiểu đế quốc của thế kỷ mười chín nhưng trong một kiểu cách nhẹ nhàng hơn thích hợp với thời đại thế giới hóa. Bảo đảm nhu cầu kinh tế của họ (Trung Quốc) nói một cách đơn giản, Trung Quốc đang di chuyển sự cân bằng thế lực ở Đông Bán Cầu, và điều ấy có thể làm Hoa Kỳ lo ngại. Trên đất liền và biển, Trung Quốc động lòng (tham) vì địa thế thuận lợi của họ trên bản đồ, sự ảnh hưởng của Bắc Kinh tỏa ra và lan rộng từ Trung Á cho đến Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông Việt Nam), từ Viễn Đông Nga cho đến Ấn Độ Dương. Trung Quốc là một thế lực lục địa đang lên, và, như là câu nói nổi tiếng của Nã Phá Luân, những chính sách của những nhà nước như vậy tìm tàng trong địa lý của họ.

    Triệu chứng biên giới nhạy cảm

    Tân Cương và Tây Tạng là hai lãnh thổ chính nằm trong Trung Quốc mà dân cư đã và đang chống lại sự lôi kéo của nền văn minh kiểu Trung Quốc. Sự kiện này làm cho họ trở thành những vật sở hữu của đế quốc Bắc Kinh, theo một cách nhìn nào đó. Hơn nữa, những căng thẳng từ những dân tộc thiểu số trong những vùng này đang làm phức tạp những quan hệ của Bắc Kinh đối với những nhà nước lân cận.

    “Tân Cương”, tên của một tỉnh cực tây của Trung Quốc, có nghĩa là “biên cương mới” (MVT-4), và nó ám chỉ đến phần Turkestan của TQ, một vùng rộng gấp đôi Texas xa xôi từ trung tâm của Trung Quốc, xuyên qua sa mạc Gobi. Trung Quốc đã và đang là một nhà nước dưới hình thức nào đó qua hàng ngàn năm, nhưng Tân Cương chính thức trở thành một phần của Trung Quốc chỉ vào cuối thế kỷ mười chín. Từ đó, như là nhà ngọai giao Anh Quốc của thế kỷ hai mươi Sir Fitzroy Maclean đã một lần khẳng định, lịch sử của xứ (Tân Cương) “đã và đang chỉ là một sự bất ổn được kềm giữ”, được nổi bật qua những cách mạng và những khoảng thời gian cai trị độc lập tiến đến những năm 1940. Năm 1949, Cộng Sản của Mao Trạch Đông tiến vào Tân Cương và bắt buộc xứ này phải nhập vào Trung Quốc. Nhưng như gần đây như là năm 1990 và lập lại vào năm ngoái, người thiểu số Tân Cương gốc Thổ Nhĩ Kỳ - hậu duệ của người gốc Thổ Nhĩ Kỳ cai trị Mông Cổ vào những thế kỷ thứ bảy và thứ tám – biểu tình bạo động chống lại sự cai trị của Bắc Kinh.

    Những người Uighur dân số khoảng tám triệu và chỉ chiếm một phần trăm của dân số toàn Trung Quốc, nhưng họ lại chiếm 45 phần trăm dân số Tân Cương. Dân tộc Hán của Trung Quốc đa số tập trung chính vào những đồng bằng ở giữa quốc gia và gần Thái Bình Dương, trong khi những nơi đồng bằng khô khan hơn ở vùng tây và tây nam là nơi cư ngụ lâu năm của dân thiểu số Uighur và Tây Tạng. Sự phân chia này tiếp tục là một nguyên nhân của sự căng thẳng, bởi vì trong ánh mắt của Bắc Kinh, nhà nước tân tiến Trung Quốc phải nên tiến hành kiểm soát toàn diện trên những vùng đất này. Để đoạt được chiếm giữ những vùng này – và dầu hỏa, khí đốt thiên nhiên, đồng, quặng sắt trong đất của họ - Bắc Kinh đã và đang trong mấy chục năm nay cấy dân gốc Hán vào những đất tâm điểm. Họ (Trung Quốc) đã và đang một cách hung hãn cố ý xúi dục cho nhóm cộng hòa độc lập thiểu số gốc Thổ Nhĩ Kỳ của vùng Trung Á, một phần nào tiêu diệt bớt nhóm người Uighur nằm trong Tân Cương ở bất kỳ căn cứ hậu cần nào.

    Bắc Kinh cũng đã và đang ve vãn những nhà nước Trung Á để nới rộng quả cầu ảnh hưởng của họ; Trung Quốc đã nới rộng xa vào Á-Âu, nhưng không đủ xa để đảm bảo cho nhu cầu về nguyên liệu thiên nhiên của họ. Tác động của Bắc Kinh trong vùng Trung Á thể hiện qua hai ống dẫn năng lượng chính đến Tân Cương sắp hoàn thành: một ống dẫn dầu từ Biển Caspian xuyên qua Kazakhstan, ống kia mang khí đốt thiên nhiên từ Turkmenistan xuyên qua Uzbekistan và Kazakhstan. Sự vơ vét tài nguyên thiên nhiên cũng có nghĩa là Bắc Kinh sẽ chịu đựng những rủi ro hiện hữu để đạt được chúng. Trung Quốc đang đào mỏ đồng phía nam của Kabul, trong nước chiến tranh tan nát A Phú Hãn, và cũng trong vùng này họ cũng để mắt đến sắt, vàng, uranium và những ngọc quí (vùng này còn một số quặng chưa bao giờ được khai thác). Bắc Kinh cũng hy vọng xây những con đường và những ống dẫn năng lượng qua A Phú Hãn và Pakistan, nối liền những nước Trung Á dưới ảnh hưởng của Trung Quốc tới những bến cảng ở Ấn Độ Dương. Địa lý chiến lược của Trung Quốc có thể được cải tiến khá hơn nếu Hoa Kỳ ổn định được A Phú Hãn.

    Như Tân Cương, Tây Tạng thì hữu ích cho (hình ảnh của) Trung Quốc về sự tự giác ngộ đi theo Trung Quốc, và cũng như Tân Cương, nó ảnh hưởng đến ngoại giao của Trung Quốc. Vùng đồi núi của Tây Tạng, nhiều đồng và quặng sắt, tổng kết cũng đủ cho cả nước Trung Quốc. Đấy chính là những cái nhìn hoảng sợ của Bắc Kinh về viễn ảnh của Tây Tạng tự trị, chưa kể đến sự độc lập, và đó là tại sao Trung Quốc đang xây dựng một cách hoảng hốt đường xá và những tuyến đường xe hỏa xuyên vùng. Không có Tây Tạng, Trung Quốc chỉ là một đám rơi rớt lại tàn lụi mà những thành viên khác trong Trung Quốc (vĩ đại) bỏ đi – và Ấn Độ sẽ được thêm một vùng hướng bắc vào cái căn cứ thế lực tiểu lục địa của họ.

    Với một dân số trên một tỷ, Ấn Độ đã là một cái mảng địa lý cùn xẻ vào vùng ảnh hưởng của TQ tại Á Châu. Một bản đồ của “Trung Quốc Vĩ Đại Hơn” trong cuốn sách năm 1997 của Zbigniew Brzezinski “The Grand Chess-board” (Bàn cờ khổng lồ) nhấn mạnh rõ ràng điểm này. Ở mức độ nào đó, Trung Quốc và Ấn Độ thật sự đi đến đối đầu về mặt địa lý: hàng xóm với dân số đông đảo, những (ảnh hưởng) văn hóa sâu đậm và được kính nể, và tranh chấp nhau về lãnh thổ (thí dụ, bang Arunachal Pradesh của Ấn Độ). Vụ việc Tây Tạng chỉ làm tăng thêm sự nghiêm trọng của những vấn đề này. Ấn Độ đã đỡ đầu cho chính phủ lưu vong của Đức Dalai Lama từ năm 1957, và Daniel Twining, một nhà nghiên cứu thâm niên tại German Marshall Fund (MVT-5), nói rằng những căng thẳng biên giới giữa Ấn Độ và Trung Quốc “có thể liên quan tới những lo lắng của Bắc Kinh qua sự kế vị của Đức Dalai Lama”: Đức Dalai Lama kế tiếp có thể đến từ vòng đai văn hóa Tây Tạng trải dài xuyên qua vùng bắc Ấn Độ, Nepal và Bhutan, phỏng chừng là Người (mới) nghiêng về Ấn và chống Trung Quốc. Trung Quốc và Ấn Độ sẽ chơi một “cuộc chơi tuyệt hảo” không chỉ ở những vùng đó mà cũng ở Bangladesh và Sri Lanka. Tân Cương và Tây Tạng nằm trong biên giới hợp pháp của Trung Quốc, nhưng sự căng thẳng của chính phủ Trung Quốc trong quan hệ với những người của cả hai tỉnh đề nghị rằng là Bắc Kinh lan rộng sự ảnh hưởng của họ quá khỏi cái gốc Hán của họ, chắc chắn sẽ đối diện với sự chống đối.

    Từng bước kiểm soát

    Ngay những nơi biên giới an toàn của Trung Quốc, hình dạng của nước Trung Quốc làm diện mạo xuất hiện như thể không toàn vẹn một cách nguy hiểm – như thể những phần của một Trung Quốc Vĩ Đại Hơn nguyên thủy bị cắt rời ra. Biên giới phía bắc của Trung Quốc gói chung quanh Mông Cổ, một mảnh đất khổng lồ được nhìn như thể có một lần nào đó bị ngoạm ra khỏi cái lưng của Trung Quốc. Mông Cổ có mật độ dân số thấp nhất thế giới và đang bây giờ bị đe dọa một cách dân chủng bởi một nền văn minh phố phường của hàng xóm Trung Quốc. Đã một lần xâm lăng Vùng Ngoài Mông Cổ để chiếm đoạt đất canh tác, Bắc Kinh đang động lòng muốn xâm lăng Mông Cổ lần nữa, cùng một kiểu cách (như trước), để đáp ứng sự đói thèm của họ về dầu hỏa, than đá, uranium, và những cánh đồng mầu mỡ chưa khai thác. Những công ty khai thác quặng mỏ của Trung Quốc đã và đang kiếm cách làm chủ nhiều phần hùn tại Mông Cổ về những gì còn nằm dưới đất bởi vì sự vô kiểm soát của kỹ nghệ hóa và đô thị hóa đã và đang biến Trung Quốc thành một nước đứng đầu thế giới về tiêu thụ nhôm, đồng, chì, kền, kẽm, thiết và quặng sắt; tỷ lệ tiêu thụ kim loại của Trung Quốc so với toàn thế giới tăng từ 10 phần trăm lên đến 25 phần trăm từ những cuối thập niên 1990. Với Tây Tạng, Ma Cao, và Hồng Kông đã dưới quyền kiểm soát của Bắc Kinh, những hợp tác của Trung Quốc đối với Mông Cổ sẽ là một mô hình cho phán xét mức độ dụng ý đế quốc của Trung Quốc.

    Hướng bắc của Mông Cổ và ba tỉnh đông bắc của Trung Quốc nằm giáp với vùng Viễn Đông của nước Nga, cái vùng rộng bằng hai lần Âu Châu với dân số ít và đang càng ít đi. Nhà nước Nga nới rộng ra tới những vùng này trong thế kỷ mười chín và đầu thế kỷ hai mươi khi Trung Quốc còn yếu. Bây giờ, Trung Quốc đang mạnh, và sự cầm quyền của chính phủ Nga không thấy đâu cả yếu ớt ngay cả một phần ba nước Nga ở hướng đông nói chung. Xuyên qua biên giới bên kia của Viễn Đông Nga, nơi mà khoảng bảy triệu người đang sống – con số này có thể giảm xuống 4.5 triệu đến năm 2015 -, là ba tỉnh giáp ranh của Trung Quốc có khoảng 100 triệu người: mật độ dân số 62 lần bên Trung Quốc so với bên Nga. Di dân Trung Quốc trốn qua Nga định cư ở thành phố Chita, phía bắc của Mông Cổ, và một số nơi khác trong vùng. Thu thập tài nguyên là mục đích chính của chánh sách ngoại giao của Trung Quốc khắp mọi nơi, và vùng Viễn Đông ít dân của Nga chứa một lượng tích trữ lớn khí đốt, dầu hỏa, gỗ, kim cương, và vàng, “Moscow lo sợ về một số lượng lớn người Trung Quốc định cư vào vùng này, lũ lượt đem theo với họ gỗ và những công ty khai thác mỏ”, David Blair, một nhà báo cho Daily Telegraph của Luân Đôn viết vào mùa hè năm ngoái.

    Như với Mông Cổ, sự lo sợ không phải là một ngày nào đó lính Trung Quốc xâm lăng hoặc chính thức xâm chiếm Viễn Đông Nga. Mà là lan tràn dân số (Trung Quốc) và các tập đoàn công ty ngự trị trên vùng – một phần của vùng này thuộc về Trung Quốc trong giai đoạn nhà Thanh – đang gia tăng đều đều. Trong giai đoạn chiến tranh lạnh, tranh chấp biên giới giữa Trung Quốc và Liên Bang Sô Viết đã đưa hàng trăm ngàn binh lính đến vùng ngoài xa khỏi cái lưng của vùng Siberia này và đôi khi xảy ra đụng độ giữa hai bên. Vào cuối thập niên 1960, những căng thẳng đưa đến sự chia tay giữa Trung Quốc và Sô Viết. Địa lý có thể chia rẽ Trung Quốc và Nga, bởi vì sự đồng minh hiện tại của hai bên chỉ thuần túy chiến thuật. Điều này có thể làm lợi cho Hoa Kỳ. Trong thập niên 1970, chính phủ Nixon đã có thể lợi dụng sự chia rẽ của Bắc Kinh và Moscow và cởi mở về phía Trung Quốc. Trong tương lai, với thế lực Trung Quốc càng lan rộng, Hoa Kỳ có lẽ tự nghĩ ra là đối tác với Moscow trong một đồng minh chiến lược để cân bằng cái Đế Quốc Chính Giữa.

    Những hứa hẹn phương Nam

    Sự ảnh hưởng của Trung Quốc cũng đang lan rộng ở Đông Nam. Thật ra, đối với những nước yếu kém của vùng Đông Nam Á với sự xuất hiện của một Trung Quốc Vĩ Đại Hơn gặp ít chống cự nhất. Chỉ có một vài chướng ngại địa lý ngăn chia Trung Quốc từ Việt Nam, Lào, Thái Lan và Miến Điện. Cái thủ đô thiên nhiên của một quả cầu ảnh hưởng trọng tâm nằm trên giòng sông Cửu Long và nối liền tất cả các quốc gia Đông Dương bằng đường bộ và đường sông là thành phố Kunming (Côn Minh), tỉnh Vân Nam của Trung Quốc.

    Nước lớn nhất nằm trong đất liền của vùng Đông Nam Á là Miến Điện. Nếu Pakistan là những nước Balkan (MVT-6) của Á Châu, sợ rủi ro bị tan rã, thì Miến Điện như là nước Bỉ của đầu thế kỷ hai mươi, sợ rủi ro bị càn quét bởi những nước láng giềng. Như là Mông cổ, Viễn Đông Nga và những nước giáp ranh với Trung Quốc, Miến Điện là một nước yếu kém nhưng giàu nguyên liệu thiên nhiên mà Trung Quốc khao khát cần. Trung Quốc và Ấn Độ đang tranh nhau để xây dựng cảng nước sâu Sittwe, tại bờ biển của Miến Điện phía Ấn Độ Dương, với cả hai đang nắm hy vọng sau này xây dựng những ống dẫn khí đốt từ những bãi ngoài khơi trong vịnh Bengal.

    Cho toàn vùng nói chung, trong một số khía cạnh Bắc Kinh có thể được xem là áp dụng chiến lược chia-để-trị. Trong quá khứ, Trung Quốc thảo luận với từng quốc gia trong khối ASEAN (Hiệp Hội Những Quốc Gia Đông Nam Á) riêng rẽ, không thảo luận chung toàn hiệp hội cùng một lúc. Ngay cả cái thỏa thuận mới đầu tiên về tự do thương mại với ASEAN chứng tỏ cách mà Trung Quốc tiếp tục xây dựng quan hệ có lợi nhuận đối với các hàng xóm phương nam. Trung Quốc xử dung ASEAN như là một thị trường để bán giá cao những món hàng chế tạo công nghiệp đồng thời mua giá thấp những nông phẩm. Sự việc này đưa đến thặng dư thương mại, ngay như là các quốc gia ASEAN đang trở thành những bãi đổ đồ cho hàng hóa ký nghệ được sản xuất bởi lao động rẻ mạt của Trung Quốc.

    Điều này đang xảy ra cho Thái Lan, từng là một nước mạnh, mà gần đây đã bị rung chuyển bởi vấn đề chính trị, đóng vai trò càng ngày càng ít như là cái neo của vùng và chống lại sức ép tìm tàng của Trung Quốc. Gia đình hoàng gia Thái, với vị vua yếu ớt, không thể nào còn là một động lực để tạo yên ổn như ngày nào, và chủ nghĩa phe phái đang xoay chuyển quân đội Thái. (Trung Quốc đang xây dựng một quan hệ quân sự song phương với Thái Lan, cũng như đang xây dựng những quan hệ tương tự với những quốc gia khác của Đông Nam Á, ngay cả như Hoa Kỳ ít tập trung vào thực tập quân sự hơn trong vùng để tập trung vào chiến tranh của họ ở A Phú Hãn và Iraq). Hướng về nam của Thái Lan, Mã Lai và Singapore đang đi đến những giai đoạn chuyển tiếp dân chủ thách thức khi những người quyền lực, Mahathir bin Mohamad và Lý Quang Diệu, không còn hiện diện. Mã Lai đang tiến xa hơn dưới bóng của Trung Quốc về phương diện kinh tế, ngay trong khi dân gốc Tàu cảm thấy đe dọa bởi đa số Mã Lai Hồi Giáo.Và chính phủ Singapore, ngay cả Singapore là một nước mà dân số gốc Tàu, lo sợ trở thành một tù trưởng (cho một bộ lạc) của Trung Quốc; cho đến nhiều năm nay, Singapore đã và đang nuôi dưỡng quan hệ huấn luyện quân sự với Đài Loan. Ông Lý (của Singapore) kêu gọi Hoa Kỳ nên vẫn ở lại tham gia trong vùng, về quân sự và ngoại giao. Indonesia, về phần họ, bị xâu xé giữa sự cần thiết hiện diện của hải quân Hoa Kỳ chống lại Trung Quốc và sự lo sợ rằng nếu họ bị nhìn giống như một đồng minh của Hoa Kỳ sẽ làm thế giới Hồi Giáo giận dữ. Trong khi sức mạnh của Hoa Kỳ tại Đông Nam Á đã đi qua khỏi điểm đỉnh và sự vươn cao của Trung Quốc, những nước trong vùng gia tăng liên kết với nhau chống lại chiến lược chia-để-trị. Indonesia, Mã Lai, và Singapore liên kết cùng nhau chống lại nạn cướp biển, chẳng hạn. Khi các nước càng dựa vào lẫn nhau trở thành nhiều hơn, thì đe dọa bởi sự vươn lên của Trung Quốc càng ít đi.

    Phương diện quân sự

    Trung Á, Mông Cổ, Viễn Đông Nga, và Đông Nam Á là những vùng thiên nhiên của sự ảnh hưởng của Trung Quốc. Nhưng chúng nó cũng là những vùng mà biên giới chính trị khó có thay đổi. Tình trạng ở bán đảo Đại Hàn thì khác biệt: cái bản đồ của Trung Quốc như bị cắt cụt tại đó, và ngay tại đó biên giới chính trị có thể thay đổi.

    Cái chính thể Bắc Hàn khép kín thì không ổn định nói một cách cơ bản, và sự giao động có thể ảnh hưởng toàn vùng. Đâm ra từ Manchuria, Bán Đảo Đại Hàn (có thể) chỉ huy tất cả giao thông đường thủy đi và đến đông bắc Trung Quốc. Không ai dự đoán Trung Quốc xâm lăng bất kỳ phần nào của Bán Đảo Đại Hàn, dĩ nhiên, Trung Quốc vẫn bất thuận lợi bởi chủ quyền của bất kỳ các nước khác ở đấy, đặc biệt là ở phía bắc. Mà mặc dù Trung Quốc ủng hộ chính thể Stalin-nít Kim Jong Il, họ đã có những kế hoạch xa hơn sự cầm quyền của Kim. Bắc Kinh muốn trả về hàng ngàn người đã trốn khỏi Bắc Hàn đang ở trong Trung Quốc để họ có thể xây dựng một căn bản chính trị thuận lợi cho Bắc Kinh để từ từ chiếm quyền kinh tế ở vùng Sông Tumen, nơi mà Trung Quốc, Bắc Hàn và Nga có biên giới chung và có những phương tiện tàu cảng xuyên qua từ Nhật Bản trên Thái Bình Dương.

    Đây chính là một lý do tại sao Bắc Kinh thích thấy một nhà nước độc tài tân tiến phát triển ở Bắc Hàn – một nhà nước như vậy sẽ tạo ra bột khoảng độn giữa Trung Quốc và nền dân chủ lộng lẫy trung lưu của Nam Hàn. Nhưng thống nhất trên Bán Đảo Đại Hàn (Nam và Bắc) cũng sẽ có lợi cho Bắc Kinh. Một Đại Hàn thống nhất sẽ có tinh thần quốc gia và mang hành động hiếu chiến nào đó hướng về Trung Quốc và Nhật Bản, mà cả hai nước này đều muốn xâm lăng (Đại Hàn) trong quá khứ. Nhưng sự thù hận của Đại Hàn đối với Nhật Bản nhiều hơn là đối với Trung Quốc. (Nhật Bản chiếm đóng bán đảo từ 1910 đến 1945, và Hán Thành (của Nam Hàn) và Tokyo tiếp tục tranh cải trên chủ quyền của đảo đá nhỏ Tokdo/Takeshima.) Quan hệ kinh tế sẽ mạnh hơn với Trung Quốc hơn là với Nhật Bản: một nước thống nhất Đại Hàn sẽ gần như là dưới sự kiểm soát của Hán Thành, và Trung Quốc đã là đối tác thương mại lớn nhất của Nam Hàn. Sau cùng, một nước thống nhất Đại Hàn mà hơi nghiêng về Bắc Kinh và tránh xa Nhật Bản sẽ có ít lý do để tiếp tục cho quân đội Hoa Kỳ hợp tác. Nói một cách khác, thật là dễ dàng để suy tưởng một tương lai Đại Hàn nằm trong một Trung Quốc Vĩ Đại Hơn và một thời điểm khi mà sự hiện diện trên bộ của Hoa Kỳ sẽ thu hẹp.

    Như thí dụ của Bán Đảo Đại Hàn chứng tỏ những biên giới trên bộ của Trung Quốc có dấu hiệu với nhiều cơ hội hơn là nhiều trở ngại nguy hiểm. Như là Mackinder đã đề nghị, Trung Quốc được nhìn như là đang phát triển để trở thành một thế lực vĩ đại cả trên đất liền và biển mà sẽ tối thiểu làm cho Nga mờ dần ở Âu-Á. Nhà khoa học chính trị John Mearsheimer (MVT-7) viết trong The Tragedy of Great Power Politics (Sự Thảm Khốc của Chính Trị Thế Lực Vĩ Đại) rằng “những nước nguy hiểm nhất trong hệ thống thế giới là những thế lực lục địa với những quân đội to lớn”. Đây có thể là lý do để sợ hãi sự ảnh hưởng của Trung Quốc khi nước này càng ngày càng trở thành một thế lực lục địa. Nhưng Trung Quốc chỉ một phần nào phù hợp vào sự mô tả của Mearsheimer: quân đội, mức mạnh 1.6 triệu, lớn nhất trên thế giới, nhưng sẽ không có khả năng quân sự nhanh chóng cho chiến sự cũng phải cần nhiều năm nữa. Quân Đội Giải Phóng Nhân Dân (PLA) đã tham gia cứu trợ trong vụ động đất ở Tứ Xuyên năm 2008, cho đến biểu tình bạo động sắc tộc tại Tây Tạng và Tân Cương, và cho đến an ninh trật tự khó khăn của Thế Vận Hội 2008 tại Bắc Kinh. Tuy nhiên, theo Abraham Denmark của Trung Tâm Nghiên Cứu An Ninh Hoa Kỳ Mới, nó chỉ cho thấy rằng PLA có thể di chuyển những toán quân từ một nơi trên Trung Quốc đến một nơi khác, nhưng họ chưa thể di chuyển những tiếp tế và dụng cụ nặng ở tốc độ nhanh đòi hỏi bởi những trận đổ quân. Có lẽ thực hiện được khả năng như vậy cũng chả thành vấn đề, bởi vì PLA hiếm khi tải quân tấn qua những biên giới khác hơn là bởi sự tính toán lầm (nếu có một chiến tranh khác với Ấn Độ) hoặc trám vào chỗ trống (nếu chính thể Bắc Hàn sụp đổ). Trung Quốc có thể trám vào những chổ mà không có chính quyền quản lý dọc trên những biên phòng rộng lớn bằng những phương tiện dân số và tập hợp, không cần một dàn dựng nhanh chóng của bộ binh.

    Sức mạnh chưa từng có của Trung Quốc trên đất liền là do một phần cám ơn những nhà ngoại giao Trung Quốc, mà trong những năm gần đây bận rộn giải quyết xong những tranh chấp biên giới với các nước cộng hòa Trung Á, Nga, và những nước láng giềng (Ấn Độ là một ngoại lệ đáng kể). Cái ý nghĩa của sự thay đổi (chiến thuật xử dụng ngoại giao) này không thể được bỏ qua. Không cần phải quan tâm tới sự bắt buộc trú đóng quân đội trên vùng Manchuria; trong giai đoạn Chiến Tranh Lạnh, cái ám ảnh hiện thực ấy dã bắt buộc Mao tập trung ngân sách quốc phòng vào bộ binh và bỏ mặc hải quân. Như Vạn Lý Trường Thành chứng minh, Trung Quốc đã bị chiếm đóng với sự xâm lăng bằng đường bộ qua một cách này hay cách khác từ thời kỳ cổ đại. Không còn (như vậy) nữa.

    Nắm giữ những đường biển giao thông

    Cám ơn cho tình trạng yên ổn thuận lợi này trong đất liền, Trung Quốc rảnh tay để tập trung vào xây dựng một lực lượng hải quân vĩ đại. Trong khi những nước có thành phố dọc bờ biển và đảo thì đeo đuổi sức mạnh trên biển là vấn đề dĩ nhiên, hành động như vậy là một điều sang trọng cho những thế lực lục địa có lịch sử cô lập như là nước Trung Quốc. Trong trường hợp của Trung Quốc, đây có thể là một sự sang trọng mà thật dễ dàng đạt được bởi vì quốc gia này được trời cho những thuận lợi cho bờ biển và nội địa. Trung Quốc lấn áp đường biển ở vùng Đông Á trong những khu ôn đới và nhiệt đới của Thái Bình Dương, và biên giới phía nam của họ cũng khá gần Ấn Độ Dương mà có thể một ngày được nối liền đến (Trung Quốc) bằng đường bộ và những ống dẫn năng lượng. Trong thế kỷ hai mươi mốt, Trung Quốc phóng chiếu thế lực cứng ra phía ngoài chính yếu qua hải quân.

    Điều đó cho rằng, Trung Quốc đối mặt một môi trường nóng bỏng trên biển nhiều hơn là trên đất liền. Hải quân Trung Quốc thấy lợi thì ít nhưng thấy có vấn đề trong cái mà nó gọi là “dây xích đảo đầu tiên”: Bán Đảo Đại Hàn, quần đảo Kuril, Nhật Bản (kể cả quần đảo Ryukyu), Đài Loan, Phi Luật Tân, Indonesia và Úc. Tất cả ngoại trừ Úc là những điểm đáng chú ý. Trung Quốc đã bị lôi cuốn trong nhiều tranh chấp khác nhau qua những phần biển giàu năng lượng ở Biển Đông Trung Quốc và Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông Việt Nam): với Nhật Bản về quần đảo Diaoyu/Senkaku và với Phi Luật Tân và Việt Nam về quần đảo Trường Sa (MVT-8). Những tranh chấp như vậy cho phép Bắc Kinh khơi động chủ nghĩa quốc gia trong nước, nhưng cho những nhà chiến lược hải quân Trung Quốc, phong cảnh biển này thì hầu như khó thực hiện được. Cái dây xích đảo đầu tiên này, theo lời của James Holmes và Toshi Yoshihara của Học Viện Chiến Tranh Hải Quân Hoa Kỳ, một loại của “Vạn Lý Trường Thành ngược”: một đường vạch được tổ chức chu đáo của những đồng minh của Hoa Kỳ mà được xử dụng như là một loại tháp canh và có thể khóa chặt đường của TQ tiến ra Thái Bình Dương (MVT-9).

    Phản ứng của Trung Quốc về cảm ứng gò bó bằng trạng thái hiếu chiến đã xảy ra nhiều lần. Sức mạnh hải quân thông thường kém bạo hành hơn là sức mạnh trên đất liền: hải quân không thể tự chính họ chiếm đóng một vùng rộng lớn và phải làm nhiều hơn là chỉ đánh nhau không thôi – đích danh là, bảo vệ thương mại. Do đó, người ta có thể mong mỏi Trung Quốc đối xử tử tế với những quốc gia có dịch vụ biển trước họ - Venice, Anh Quốc, Hoa Kỳ - và họ (Trung Quốc) tự quan ngại chính mình là chính, như những thế lực vừa kể trên đã làm, là giữ một hệ thống dịch vụ biển hòa bình, kể cả giao lưu tự do thương mại. Nhưng Trung Quốc không tự tin đến thế. Vẫn là một thế lực biển kém an ninh, Trung Quốc nghĩ về biển giống như một cách nghĩ về lục địa: những từ ngữ “dây xích đảo thứ nhất”“dây xích đảo thứ nhì” (gồm quần đảo Guam của Hoa Kỳ và Quần Đảo Bắc Mariana) đề nghị rằng Trung Quốc nhìn thấy những đảo này như là những quần đảo nới rộng vào lãnh thổ của Trung Quốc. Kiểu suy nghĩ huề tiền (tổng-số-0, sự được và sự mất mát bằng nhau) về những biển mà Trung Quốc có bờ, những lãnh đạo hải quân Trung Quốc đang phô trương cái triết lý bạo hành vào cuối thế kỷ hai mươi của chiến lược gia hải quân Hoa Kỳ Alfred Thayer Mahan, người bênh vực cho vấn đề kiểm soát biển và trận đánh quyết định (ai làm bá chủ trên biển là làm bá chủ cả địa cầu). Nhưng họ chưa có một lực lượng tàu ngầm để thực hiện được (MVT-10), và sự khác biệt giữa khát vọng và khả năng đã đưa đến một số sự việc khôi hài xảy ra trong vài năm vừa qua. Tháng mười năm 2006, một tàu ngầm Trung Quốc theo dõi tàu của Mỹ US Kitty Hawk và nổi lên mặt nước trong tầm thủy lôi của tàu Mỹ. Tháng mười một năm 2007, Trung Quốc từ chối đoàn tàu hộ tống tàu sân bay USS Kitty Hawk đi vào Vịnh Victoria để tránh bão. (Tàu Kitty Hawk đã thăm Hong Kong năm 2010). Tháng ba năm 2009, một số tàu hải quân Trung Quốc gây hấn với tàu thăm dò Hoa Kỳ USNS Impeccable trong khi tàu ấy đang thi hành công vụ ngoài khơi Trung Quốc cách 12-dặm giới hạn ở Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông Việt Nam), chặn đầu tàu ấy và còn tính đâm chìm nữa. Những hành động này không chứng tỏ được một thế lực vĩ đại nhưng lại chứng tỏ vẫn là một hành động trẻ con.

    Sự cương quyết của Trung Quốc tại biển được chứng minh bởi những vụ thu mua lớn. Bắc Kinh đang xây dựng những cơ sở có khả năng bảo vệ kẻ hở để ngăn chặn hải quân Hoa Kỳ đột nhập vào vùng Biển Đông Trung Quốc và những bờ biển khác của Trung Quốc. Trung Quốc đã và đang tân tiến hóa hạm đội tấn công của họ và có kế hoạch có thêm một hay hai tàu sân bay nhưng không có thêm những tàu chiến nói chung. Thay vì, họ tập trung vào xây dựng những tàu ngầm tân tiến có khả năng tấn công bằng nguyên tử và phi đạn tự điều khiển. Theo lời của Seth Cropsey, nguyên phụ tá thứ trưởng Hải Quân Hoa Kỳ, và Ronald O’Rourke của bộ phận Dịch Vụ Nghiên Cứu của Quốc Hội, Trung Quốc có thể tạo dựng một lực lượng tàu ngầm lớn hơn hải quân Hoa Kỳ, hiện đang có 75 tàu ngầm đang được xử dụng, trong vòng 15 năm. Hơn nữa, hải quân Trung Quốc, Cropsey nói, có kế hoạch xử dụng những dàn ra đa qua-khỏi-chân-trời, vệ tinh, những mạng lưới siêu âm ngầm dưới biển, và vũ khí chiến tranh xử dụng mạng trong dịch vụ của phi đạn tự điều khiển đánh phá tàu biển. Cái ấy, bên cạnh đoàn tàu ngầm lớn mạnh của Trung Quốc, được phác họa để dần dà đi đến chặn đứng hải quân Hoa Kỳ thông thương dễ dàng vào những phần tây Thái Bình Dương.

    Như một phần của cố gắng của Trung Quốc để kiểm soát vùng biển trong eo biển Đài Loan và Biển Đông Trung Quốc, Trung Quốc cũng đang nâng cấp khả năng vũ trang mìn của họ, mua chiến đấu cơ thế-hệ-thứ-tư từ Nga, và dàn dựng 1500 phi đạn đất-lên-không của Nga chế tạo dọc theo bờ biển của họ. Xa hơn nữa, ngay cả họ đang chạy những hệ thống dàn dây quang dẫn (fiber-optic) ngầm dưới đất và di chuyển những khí cụ quốc phòng sâu vào trong vùng tây Trung Quốc, qua khỏi tầm phóng của phi đạn hải quân, Trung Quốc đang phát triển một chiến lược công kích để đánh thẳng vào cái biểu tượng của thế lực Hoa Kỳ, tàu sân bay.

    Trung Quốc sẽ không tấn công một tàu sân bay của Hoa Kỳ sớm đâu, dĩ nhiên, và họ cũng còn lâu để đối đầu trực tiếp với Hoa Kỳ về mặt quân sự. Nhưng mục đích của họ là xây dựng những cơ sở khả năng dọc theo bờ biển (MVT-11) để ngăn đuổi hải quân Hoa Kỳ đi vào giữa vùng dây xích đảo thứ nhất và bờ biển Trung Quốc bất cứ lúc nào và bất cứ lúc nào mà Trung Quốc muốn. Khi mà khả năng để tự tạo cách đối xử của mình đối với đối phương là mùi hương của bạo lực, thì đây chính là cái chứng cớ mà một Trung Quốc Vĩ Đại Hơn đã thành sự thật trên biển cũng như là trên đất liền.

    Thẳng đến Đài Loan

    Quan trọng nhất cho cuộc phiên lưu của một Trung Quốc Vĩ Đại Hơn là tương lai của Đài Loan. Vấn đề của Đài Loan thường được thảo luận trong những từ ngữ đạo đức: Bắc Kinh nói về nhu cầu thống nhất chủng tộc và đoàn kết quốc gia cho mọi chủng tộc Tàu; Hoa Thịnh Đốn nói về gìn giữ một mô hình dân chủ này (tại Đài Loan). Nhưng vấn đề thật ra là một thứ nào khác. Như là Tướng Douglas MacArthur của Hoa Kỳ nhấn mạnh, Đài Loan là một “tàu sân bay không thể chìm” giữa đường đến bờ biển Trung Quốc. Từ đó, những nhà chiến lược hải quân Holmes và Yoshihara nói, một cường quốc bên ngoài như là Hoa Kỳ có thể “phát xạ” thế lực dọc theo đường ranh giới bờ biển của Trung Quốc. Nếu Đài Loan trở về cái hộp đóng kín của Trung Quốc, thì hải quân Trung Quốc không chỉ bất thình lình nằm vào chỗ lợi thế chiến lược đối diện với cái sợi xích đảo thứ nhất ấy nhưng cũng được rộng tay để phóng chiếu thế lực qua khỏi mức độ chưa từng có. Cái tĩnh từ “đa cực” được chuyền lẫn nhau một cách tự do để mô tả cái trật tự thế giới kế tiếp; chỉ sự hàn gắn của Đài Loan với Trung Quốc sẽ đánh dấu sự hiện hình thật sự của một trật tự quân sự đa cực tại Đông Á Châu.

    Theo một nghiên cứu của RAND năm 2009 (MVT-12), cho đến năm 2020, Hoa Kỳ sẽ không còn khả năng để bảo vệ Đài Loan trong trường hợp bị tấn công bởi Trung Quốc. Theo bài nghiên cứu báo cáo, cho đến thời điểm ấy Trung Quốc có thể đánh bại Hoa Kỳ trong một cuộc chiến tranh tại eo biển Đài Loan ngay cả nếu Hoa Kỳ có F-22S (MVT-13), hai đoàn tấn công có tàu sân bay, và có thể tiếp tục khả năng xử dụng căn cứ không quân Kadena, ở Okinawa, Nhật Bản. Bản báo cáo nhấn mạnh về không chiến. Trung Quốc cũng sẽ phải đổ bộ hàng chục ngàn bộ binh bằng đường biển và dễ bị tấn công bởi những tàu ngầm của Hoa Kỳ. Bản báo cáo còn, với tất cả những cảnh báo, làm nổi bật chiều hướng gia tăng đáng lo ngại. Trung Quốc chỉ cách Đài Loan có 100 dậm, trong khi Hoa Kỳ phải phóng chiếu lượng quân sự từ nửa vòng trái đất xa xôi và với khả năng xử dụng giới hạn trên các căn cứ ngoại quốc so với họ có thể xử dụng trong thời Chiến Tranh Lạnh. Chiến lược của Trung Quốc ngăn cấm hải quân Hoa Kỳ tiến vào một số vùng biển được phác họa ra không chỉ ngăn giữ lực lượng Hoa Kỳ một cách tổng quát nhưng cũng, đặc biệt là, để thống trị sự chi phối (của Hoa Kỳ) trên Đài Loan.

    Bắc Kinh đang sửa soạn bao phủ Đài Loan không chỉ về mặt quân sự nhưng cũng về kinh tế và xã hội nữa. Khoảng 30 phần trăm xuất cảng của (toàn) Đài Loan đi qua Trung Quốc. Có 270 chuyến bay thương mại mỗi tuần giữa Đài Loan và đất liền Trung Quốc. Hai phần ba công ty của Đài Loan có đầu tư trong Trung Quốc trong năm năm vừa qua. Nửa triệu dân du lịch từ đất liền ra đảo (Đài Loan) mỗi năm, và 750.000 người Đài Loan cư ngụ nửa năm tại Trung Quốc cho mỗi năm. Thống nhất gia tăng càng hiện rõ nhiều hứa hẹn; nó xảy ra như thế nào, tuy nhiên, thì khó đoán và nó sẽ là điểm tựa cho tương lai của những chính trị trọng đại trong vùng. Nếu Hoa Kỳ một cách đơn giản bỏ rơi Đài Loan cho Bắc Kinh, thì Nhật Bản, Nam Hàn, Phi Luật Tân, Úc, và những đồng minh khác của Hoa Kỳ trong vùng Thái Bình Dương, cũng như là Ấn Độ và ngay cả một số quốc gia Phi Châu, sẽ bắt đầu tạo nghi ngờ về mức độ cam kết của Hoa Thịnh Đốn. Sự việc ấy sẽ thúc đẩy những quốc gia đó tiến gần hơn đến với Trung Quốc và do đó cho phép sự xuất hiện của một Trung Quốc Vĩ Đại Hơn của nửa quả cầu tương xứng thật sự.

    Đây là một lý do tại sao Hoa Thịnh Đốn và Đài Bắc phải cứu xét những phương cách vô địch bằng quân sự để chống lại Trung Quốc. Mục đích không nên là đánh bại Trung Quốc trong một chiến tranh tại eo biển Đài Loan nhưng để làm triển vọng của chiến tranh được nhìn từ Bắc Kinh là quá đắt và không nên làm. Hoa Kỳ có thể duy trì sự tín cẩn với những đồng minh bằng cách giữ Đài Loan hoạt động độc lập cho đến khi Trung Quốc trở thành một xã hội tự do hơn. Tuyên bố của chính quyền Obama, đầu năm 2010, rằng họ sẽ bán vũ khí trị giá 6.4 tỷ đô cho Đài Loan là cực kỳ quan trọng đối với vị trị Hoa Kỳ đối mặt với Trung Quốc, và vùng Âu-Á nói chung. Và mục đích biến đổi bên trong Trung Quốc không còn là một giấc mơ dài: hàng triệu du khách Trung Quốc du lịch đến Đài Loan xem những chương trình đối thoại chính trị tinh thần cao và những sách báo phản động trong những tiệm sách. Và chưa kể, gieo vào đầu trong một cách ngược lại sự thường (suy nghĩ trong Trung Quốc), là một Trung Quốc dân chủ hơn có thể là một thế lực năng động lớn hơn là một Trung Quốc áp đặt, trong một cảm ứng kinh tế và do đó trong cảm ứng quân sự nữa.

    Ngoài việc tập trung quân sự vào Đài Loan, hải quân Trung Quốc gia tăng lực lượng ở Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông Việt Nam), cái cổng vào Ấn Độ Dương và con đường vận tải nhiên liệu của thế giới. Vấn nạn cướp biển, Hồi giáo cực đoan, và sự lớn mạnh của hải quân Ấn Độ có mặt dọc tất cả tuyến đường, kể cả gần những eo biển nhỏ qua đó một phần lớn những tàu chở dầu và tàu chở hàng to lớn của Trung Quốc phải đi qua. Suy về ý nghĩa quan trọng chiến lược toàn diện, Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông Việt Nam) có thể trở thành, như một số người đã nói, một “Vịnh Ba Tư thứ hai”. Nicholas Spykman, một nhà nghiên cứu học về chính trị địa lý của thế kỷ hai mươi, ghi chép rằng xuyên qua lịch sử, những nước tham gia vào “sự nới rộng hàng hải xuyên lục địa vòng quanh trái đất” đều muốn kiểm soát những vùng biển tiếp giáp. Hy Lạp đã tìm kiếm sự kiểm soát trên vùng biển Aegean (một nhánh của Địa Trung Hải phía nam của Âu Châu một bên là Hy Lạp bên kia là Thổ Nhỉ Kỳ), La Mã kiểm soát trên vùng biển Địa Trung Hải, Hoa Kỳ trên vùng biển Caribbean – và bây giờ TQ trên Biển Nam Tung Hoa (Biển Đông Việt Nam). Spykman đã gọi Caribbean “Địa Trung Hải của Hoa Kỳ” để nhấn mạnh sự quan trọng của nó đối với Hoa Kỳ. Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông Việt Nam) có thể trở thành “Địa Trung Hải của Châu Á” và là trọng tâm của địa lý chính trị trong những thập niên tới.

    Những bất an ninh lỏng (như nước) (MVT-14)

    Tuy nhiên, có một sự nghịch lý tại trọng tâm của những cố gắng của Trung Quốc trong việc phóng chiếu thế lực tại vùng biển Địa Trung Hải của Châu Á và rộng hơn. Một mặt, Trung Quốc ứng xử như là ngăn cấm những tàu của Hoa Kỳ đi vào những vùng ven biển của Trung Quốc dễ dàng. Mặt khác, Trung Quốc vẫn không thể bảo vệ những đường viễn thông của họ trên biển, làm cho vấn đề tấn công tàu chiến Hoa Kỳ không hiệu quả, bởi vì Hoa Kỳ một cách đơn giản có thể cắt đứt những tiếp tế năng lượng bằng cách tấn công những tàu của Trung Quốc trong vùng biển Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương. Tại sao phải bận tâm ngăn cản sự tiếp cận (của tàu Mỹ) nếu không bao giờ dự định thực hiện nó? Theo nhà tư vấn quốc phòng Jaqueline Newmyer Bắc Kinh nhắm vào để xây “một êm ả của thế lực rất thuận lợi”“họ sẽ không thật sự phải dùng vũ lực để đoạt được những lợi ích”. Phô trương những hệ thống vũ khí mới, xây dựng những tàu cảng và những trạm thu nhặt thông tin trong vùng biển Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương, cấp viện trợ quân sự cho những nước mà có bờ biển nằm giữa Trung Quốc và Ấn Độ Dương – không có một việc nào trong những thứ ấy là bí mật cả, tất cả chỉ để trưng bày thế lực. Thay vì đánh nhau hẳn hòi với Hoa Kỳ, một cách chính xác là Trung Quốc kiếm cách tạo ảnh hưởng trên cách đối xử của Hoa Kỳ như để tránh né đối đầu.

    Tuy nhiên, có những chuyển động lớn về một số những hoạt động của hải quân Trung Quốc. Trung Quốc đang xây dựng một căn cứ hải quân lớn ngay mũi cực nam của đảo Hải Nam, đập ngay vào trọng tâm của Biển Nam Trung Hoa (Biển Đông Việt Nam), với những cơ sở xây dựng ngầm dưới đất mà có thể chứa đến 20 tàu ngầm chạy bằng điện-dầu. Đây là một cách thực tập chủ quyền kiểu Giáo Điều Monroe (MVT-15) trên những vùng biển quốc tế gần Trung Quốc. Trung Quốc không dự định có chiến tranh với Hoa Kỳ bây giờ hoặc trong tương lai, nhưng những động cơ thúc đẩy có thể thay đổi. Tốt hơn là nên theo dõi những cơ sở quân sự thay vì làm ngơ.

    Tình trạng an ninh hiện tại trong vùng cận với Á-Âu nói một cách cơ bản thì phức tạp hơn những năm đầu sau Thế Chiến Thứ Hai. Trong khi sự lãnh đạo của Hoa Kỳ suy giảm và kích cỡ của hải quân Hoa Kỳ thuyên giảm hoặc dậm chân, trong khi đó kinh tế và quân đội của Trung Quốc gia tăng, sự đa cực sẽ làm gia tăng cho định nghĩa những quan hệ ở Á Châu. Hoa Kỳ đang cung cấp Đài Loan 114 phi đạn phòng không Patriot và hàng tá những hệ thống viễn thông quân sự cấp cao. Trung Quốc đang xây những cảng đậu cho tàu ngầm dưới mặt đất ở đảo Hải Nam và xây dựng những phi đạn chống tàu bè. Nhật Bản và Nam Hàn đang tiếp tục tối tân hóa những đoàn tàu của họ. Ấn Độ đang xây dựng một hải quân khổng lồ. Mỗi một nước đang kiếm cách điều chỉnh sự cân bằng lực lượng theo sở thích của họ.

    Đấy là tại sao khi ngoại trưởng Hoa Kỳ Hilary Clinton bác bỏ đường lối chính trị cân-bằng-lực-lượng như là di tích của quá khứ thì lời của bà được xem hoặc là giả dối hoặc đánh lạc hướng. Đang có một cuộc chạy đua vũ khí ở Á Châu, và Hoa Kỳ phải đối diện với thực tế khi họ giảm thiểu một cách trầm trọng lực lượng quân đội của họ ở A Phú Hãn và Iraq. Mặc dù không một nước Á Châu nào có lợi khi đi vào chiến tranh, sự rủi ro trong tính toán về cân bằng thế lực càng gia tăng với thời gian và với sự gia tăng lực lượng không quân hải quân trong vùng (nếu chỉ do Trung Quốc và Ấn Độ). Những căng thẳng trên đất liền có thể đẩy mạnh những căng thẳng trên biển: những khoảng trống thế lực mà Trung Quốc đang trám vào trong thời gian sắp tới sẽ đưa đến sự tiếp cận không dễ dàng với, ở một độ tối thiểu, Ấn Độ và Nga. Những nơi từng là chỗ trống đang trở thành đông đúc với người, đường xá, những ống dẫn, tàu bè … và những phi đạn. Năm 1999, khoa học gia chính trị của viện Đại Học Yale Paul Bracken cảnh báo rằng Á Châu đã trở thành một địa lý khép kín và đã đối diện một khủng hoảng của “phòng ốc”. Cái diễn biến ấy đã và đang tiếp tục từ đó.

    Vậy thì có thể nào Hoa Kỳ giữ được ổn định ở Á Châu, bảo vệ đồng minh của họ ở đó, và giới hạn sự lớn mạnh của một Trung Quốc Vĩ Đại Hơn trong khi tránh đối đầu với Bắc Kinh? Cân bằng xa xứ có thể không hữu hiệu mấy. Như là một quan chức cao cấp Ấn Độ nói với tôi vào đầu năm nay, những đồng minh chính của Hoa Kỳ ở Á Châu (như là Ấn Độ, Nhật Bản, Singapore, và Nam Hàn) muốn hải quân và không quân Hoa Kỳ hoạt động “phối hợp” với những lực lượng của họ -- để Hoa Kỳ là một phần dính liền của cảnh đất và cảnh biển của Á Châu, không chỉ là một lực lượng phơn phớt ẩn hiện từ một vùng trời xa xôi. Có một sự khác biệt lớn giữa việc mặc cả với Hoa Kỳ trên những quyền căn bản (tối thiểu), như là Nhật Bản đã làm gần đây, và việc mong muốn sự rút lui toàn diện của lực lượng Hoa Kỳ.

    Một kế hoạch đang làm chú ý ở Ngũ Giác Đài tranh luận rằng Hoa Kỳ có thể “địch lại thế lực chiến lược của Trung Quốc … mà không cần đối đầu trực tiếp quân sự” với một đoàn tàu chỉ vỏn vẹn 250 chiếc (xuống từ 280 hiện đang có) và 15 phần trăm cất giảm chi tiêu quốc phòng. Kế hoạch này, phát họa bởi đại tá Thủy Quân Lục Chiến hồi hưu Pat Garett, là đáng kể bởi vì nó đưa vào cái phương trình Âu-Á cái ý nghĩa chiến lược cho những quần đảo Oceania (ở Thái Bình Dương). Những quần đảo Guam và Caroline, Marshall, Bắc Mariana, và Solomon đều là đất thuộc Hoa Kỳ, có lợi chung với những đối tác quốc phòng với Hoa Kỳ, hoặc những nước độc lập mà có lẽ muốn tiến hành những đối tác như vậy. Oceania sẽ gia tăng quan trọng bởi vì nó có cả hai lý do là tương đối gần vùng Đông Á Châu và nằm phía ngoài vùng mà Trung Quốc đang hăm hở ngăn cản sự tiếp cận dễ dàng của những tàu chiến Hoa Kỳ. Guam chỉ có bốn tiếng đường bay từ Bắc Hàn và hai ngày đường biển từ Đài Loan. Đó có lẽ được nhìn ít khiêu khích hơn cho Hoa Kỳ giữ những căn cứ ở Oceania trong tương lai hơn là cho họ đã và đang giữ quân ở Nhật Bản, Nam Hàn và Phi Luật Tân.

    Căn cứ không quân Andersen, ở Guam, đã là một căn cứ chỉ huy lớn nhất từ đó Hoa Kỳ phóng chiếu những lực lượng cứng khắp nơi. Với 100.000 bom và phi đạn và một dự trữ 66 triệu ga-lông xăng phi cơ phản lực, đây là cơ sở chiến lược “đổ-xăng-và-vọt” lớn nhất thế giới của không quân Hoa Kỳ. Những đường xếp hàng dài của những chiếc máy bay c-17 Globemaster và F/A Hornet chiếm đầy những phi đạo của căn cứ. Guam cũng là trung tâm của một đoàn tàu ngầm và đang được tăng cấp như là một căn cứ hải quân. Nó và quần đảo Bắc Mariana gần đấy là cả hai gần tương dương khoảng cách từ Nhật Bản à eo biển Malacca. Và đầu mủi tây nam của Oceania – được mệnh danh, những điểm đậu neo ngoài khơi của quần đảo Ashmore và đảo Cartier của Úc và ngay chính cả dọc ven biển của tây Úc (từ thành phố Darwin đến thành phố Perth) – nhìn (như trạm canh gác) ra ngoài từ những quần đảo của Indonesia từ dưới hướng qua Ấn Độ Dương. Do đó, theo kế hoạch của Garett, hải quân và không quân Hoa Kỳ có thể lấy sự ưu trương của địa lý của Oceania để làm nền tảng cho một “sẵn sàng có mặt tại chỗ” nằm tại “xa xôi ở chân trời” từ những biên giới không chính thức của một Trung Quốc Vĩ Đại Hơn và những đường hàng hải chính của vùng Âu-Á. (Từ ngữ “sẵn sàng có mặt tại chỗ” làm nhớ lại “đoàn tàu tại chỗ” của lịch sử gia Anh Quốc Sir Julian Corbett của một trăm năm trước, mà liên khảo đến một tập hợp của đoàn tàu được trải ra mà có thể nhanh chóng xắp xếp trật tự thành một đoàn tàu liên hợp nếu cần. “Chỉ phía bên kia của chân trời” phản ảnh sự nhập chung lại của sự cân bằng ngoài khơi và sự tham gia vào một phối hợp của những thế lực).

    Gia tăng sức mạnh của sự hiện diện của Hoa Kỳ cả về trên không và trên biển trong vùng Oceania sẽ là một giải pháp trung hòa giữa chống lại một Trung Quốc Vĩ Đại Hơn bằng mọi giá và đồng thuận đến một tương lai trong đó hải quân Trung Quốc kiểm soát cái dây xích thứ nhất. Sự tiếp cận này bảo đảm rằng Trung Quốc trả một giá rất đắt cho bất kỳ gây hấn bằng quân sự đối với Đài Loan. Nó cũng cho phép Hoa Kỳ giảm thiểu các căn cứ cổ hữu của Hoa Kỳ trên cái dây xích thứ nhất nhưng tuy nhiên cho phép những tàu và phi cơ của Hoa Kỳ tiếp tục quan sát vùng ấy.

    Kế hoạch của Garett cũng hình dung về một lớn mạnh nhanh chóng của sự hoạt động của hải quân Hoa Kỳ trong vùng Ấn Độ Dương. Nó không hình dung sự nâng cấp của những căn cứ hiện tại của Hoa Kỳ. tuy nhiên, nó dự kiến buộc lòng phải dựa trên những cơ sở thiếu thiết bị ở những quần đảo Andaman, Comoros, Maldives, Mauritius, Reunion, và Saychelles (một số được điều hành trực tiếp hay gián tiếp bởi Pháp và Ấn Độ), cũng như là phải đối tác quân sự với Miến Điện, Mã Lai và Singapore. Nó bảo đảm hàng hải tự do và năng lượng di chuyển thoải mái qua vùng Á-Âu, Và vừa làm giảm sự quan trọng của những căn cứ hiện tại của Hoa Kỳ tại Nhật Bản và Nam Hàn và vừa phân tán những dấu chân của Hoa Kỳ chung quanh Oceania, kế hoạch sẽ làm cho những căn cứ “chủ” ra khỏi cái (bị xem là) mục tiêu dễ dàng.

    Sự bám giữ của Hoa Kỳ trên dây xích thứ nhất đang bắt đầu bị lỏng lẻo bằng mọi cách. Dân địa phương đã và đang trở thành ít đồng thuận với sự có mặt của binh lính nước ngoài ở chung quanh họ. Và sự lớn mạnh của Trung Quốc làm Bắc Kinh vừa đe dọa vừa năn nỉ cùng lúc – cảm giác lẫn lộn có thể phức tạp hóa quan hệ tay đôi giữa Hoa Kỳ và các đồng minh của họ ở Thái Bình Dương. Đây là thời điểm. Cuộc khủng hoảng hiện tại về quan hệ giữa Hoa Kỳ và Nhật Bản – đã và đang gia tăng bởi vì sự thiếu kinh nghiệm của chính phủ Hatoyama muốn soạn thảo lại những điều lệ ban giao hai bên nghiên về phía họ ngay cả trong khi họ đang nói chuyện phát triển quan hệ sâu hơn với Trung Quốc – đáng lý xảy ra nhiều năm trước. Vị trí của sự ảnh hưởng mạnh mẻ phi thường của Hoa Kỳ tại Thái Bình Dương chỉ là vang bóng một thời từ Thế Chiến Thứ Hai, một sự việc tàn phá mà Trung Quốc, Nhật Bản và Phi Luật Tân hứng chịu trong giai đoạn chiến tranh. Hoặc không thể là sự hiện diện của Hoa Kỳ trên bán đảo Đại Hàn, một sản phẩm của chiến tranh mà đã chấm dứt trên nửa thế kỷ trước, vẫn tồn tại vĩnh viễn.

    Một Trung Quốc Vĩ Đại Hơn có thể hiện ra một cách chính trị, một cách kinh tế, hoặc một cách quân sự trong vùng Trung Á, trên Ấn Độ Dương, trong vùng Đông Nam Á, và trong vùng tây Thái Bình Dương. Nhưng ra khỏi cái đế quốc mới này sẽ là một dòng tấp nập của những tàu chiến của Hoa Kỳ, nhiều tàu ấy có lẽ được chỉ huy từ ở Oceania và phối hợp với những lực lượng hải quân từ Ấn Độ, Nhật Bản và những nước dân chủ. Và vào thời điểm, khi sự tự tin của Trung Quốc gia tăng, lực lượng tàu ngầm của họ có thể xây dựng một khu vực hoạt động thu hẹp lại và tự chính họ bị lôi cuốn vào một đồng minh hải quân của khu vực rộng lớn.

    Trong khi đó, cũng nên nhắc lại rằng, khi nhà khoa học gia chính trị Robert Ross chỉ ra năm 1999, trong từ ngữ quân sự, quan hệ giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc sẽ ổn định hơn là giữa Hoa Kỳ và Liên Bang Sô Viết ngày xưa. Bởi vì đấy là một địa lý đặc biệt của Đông Á. Trong thời gian chiến tranh lạnh, thế lực hàng hải của Hoa Kỳ một mình không hữu hiệu để kềm giữ Liên Bang Sô Viết; một lực lượng bộ binh đáng kể ở Âu Châu cũng đã được cần đến. Lực lượng bộ binh (lớn) như vậy sẽ không bao giờ được trưng dụng chung quanh vòng đai Á-Âu, bởi vì ngay cả như sự hiện diện càng xuống cấp trên đất liền của Hoa Kỳ chung quanh những biên giới của một Trung Quốc Vĩ Đại Hơn, hải quân Hoa Kỳ sẽ vẫn tiếp tục mạnh hơn hải quân Trung Quốc.

    Dù vậy, sự kiện về sự lớn mạnh của thế lực kinh tế và quân sự của TQ sẽ làm sự căng thẳng giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc tệ hơn trong những năm kế tiếp. Để diển tả Mearsheimer, Hoa Kỳ, đế quốc của Bán Cầu Tây Phương, sẽ ngăn cản Trung Quốc để trở thành gần như đế quốc của Bán Cầu Đông Phương. Đây có thể là dấu hiệu bi kịch của thời đại.

    Robert D. Kaplan, Tác giả của bài luận

    Robert D. Kaplan là một nghiên cứu viên thâm niên tại Trung Tâm Cho Một An Ninh Hoa Kỳ Mới và cũng là một nhà báo cho tạp chí Atlantic. Cuốn sách của ông Monsoon: The Indian Ocean and the Future of American Power sẽ được phát hành vào mùa thu (năm 2010).

    Bình luận thêm của Mai Việt Tú

    MVT-1: vùng Á châu cận giáp với Âu châu, tác giả muốn kể cả nước Nga.

    MVT-2: cũng nên nhấn mạnh là bài viết của MacKinder năm 1904 là năm trước cả thế chiến thứ nhất năm 1914 đến 1918 và cách mạng vô sản của Lenin năm 1917.

    MVT-3: Điều quan trọng cho thông tin khi chuyển ngữ là càng phải giữ sự chính xác của bài được chuyển ngữ so với bài gốc. Bài viết chỉ đề cập Biển Nam TQ. Tôi mở ngoặc thêm vào Biển Đông Việt Nam. Đây cũng là đề tài để tranh đấu cho rõ về mặt địa lý cũng như chủ quyền.

    MVT-4: Tác giả xài chữ “new dominion” (vùng cai trị mới), nhưng “Xinjiang” có nghĩa là “new frontier” (vùng biên cương mới) thì đúng hơn. Có thể có thâm ý.

    MVT-5: German Marshall Fund là một tổ chức làm cho thân thiện hơn giữa Mỹ và Âu Châu.

    MVT-6: những nước nằm trong khối Nam Tư cũ bị tan rã và nội chiến khi Liên Bang Sô Viết sụp đổ.

    MVT-7: giáo sư tiến sĩ John Mearsheimer của viện đại học Chicago, vừa được mời đọc bài giảng luận hôm 4 tháng 8 năm 2010 tại viện đại học Sydney, Úc, về thế lực TQ tại Á Châu. Bài này cũng là một thí dụ hay để dân Việt Nam suy nghĩ. Cũng nên nhắc là viện đại học Chicago nơi mà giáo sư tiến sĩ Ngô Bảo Châu mới tham gia giảng dạy.

    MVT-8: điều đáng buồn là tác giả không đề cập về quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam bị TQ chiếm đoạt bằng vũ lực năm 1974.

    MVT-9: đồng thời cũng được xem bởi TQ là một Vạn Lý Trường Thành của họ mà được nới rộng ra thành cái lưỡi bò nổi tiếng.

    MVT-10: blue-water naval – hải quân nước-xanh là tiếng lóng cho môi trường hoạt động tàu ngầm của hải quân.

    MVT-11: khi xây dựng cơ sở khả năng quốc phòng, có 4 điểm cần giữ trong đầu là cấu trúc dàn trận, tân tiến hóa, sẵn sàng nhanh và sự bền bỉ. Ngoài ra khi TQ xây dựng những cơ sở quốc phòng, họ vẫn rêu rao là tự vệ. Trong quốc phòng, không thể nào phân biệt giữa tự vệ và xâm lăng vì cả hai dùng cùng một vũ khí.

    Cũng nên nhắc ở đây là hai anh em giáo sư tiến sĩ Võ Bá Ngự và phó giáo sư tiến sĩ Võ Bá Tường và một đồng nghiệp khác tại Úc vừa đoạt giải thưởng Eurika của Úc về lãnh vực khoa học phục vụ quốc phòng và an ninh quốc gia. Bài thắng giải này là một công trình nghiên cứu dựa trên lý thuyết Tập Hợp Ngẫu Nhiên (Random Sets) và dùng những phương pháp toán học gạn lọc (Random Finite Sets, Bayes recursion để gạn lọc thêm trên tập hợp chính của mật độ giả thử xác suất (cardinalized probability hypothesis density) của Mahler để giới hạn vào một điểm nhắm hay theo dõi) để phân tích những điểm được theo dõi và để có thể đưa ra những phản ứng cần thiết. Trong quá khứ cũng đã có rất nhiều nghiên cứu về lãnh vực này, nhưng nghiên cứu này đưa đến phương pháp không những giảm thiểu cho sự thất lạc của điểm theo dõi mà còn làm cho phương pháp hữu hiệu và chính xác hơn và do đó có thể theo dõi nhiều hơn một cách chính xác. Sự ứng dụng của khám phá này rất hữu ích cho quốc phòng, giao thông và ngay cả theo dõi biểu tình.

    MVT-12: RAND là một tổ chức vô vụ lợi nghiên cứu ra kết quả nhằm giúp trong xây dựng chính sách và quyết định đúng đắn; cũng nên nhắc lại đây tại Việt Nam đã có một viện tương tự tên là IDS nhưng đã bị chính phủ độc tài bóp chẹt đến độ phải tự giải thể; đã nghèo còn bị mạt rệp thêm

    MVT-13: những loại máy bay F-22 chiến đấu tối tân nhất thế giới bây giờ nhưng rất đắt, tổng thống Obama đã ngưng hổ trợ cho sản xuất thêm những máy bay này từ năm 2010.

    MVT-14: Tác giả dùng tĩnh từ “liquid” (lỏng như nước) cho nhan đề của đoạn văn chính “LIQUID INSECURITIES” . Cái tĩnh từ hành văn này lấy từ cuốn sách “Liquid Modernity” của Zygmunt Bauman viết năm 2000. Cuốn sách dựa trên nền tảng lý thuyết xã hội để thảo luận rất nhiều về hoàn cảnh, trạng thái, tác động, thế lực, luật pháp, lề trái, lề phải, đồng thuận, nghịch lý, vơ vét, bạo hành, ăn gian, trấn lột v.v… mà sau mỗi quá trình thay đổi thì “chảy lỏng” xảy ra. Sự “chảy lỏng” tạo ra những thế lực tự chúng rời bỏ vị trí để đứng lên đỉnh cao của tất cả mà luật pháp và lẽ phải không cần phải tuân theo và cũng không còn sự kiểm soát hay bắt buộc tuân theo.

    Tôi xin trích một đoạn của Bauman (trang 203), chắc các vị tiền bối thời nhân văn giai phẩm hiểu rõ hơn là các hậu sinh như tôi :

    “chúng ta phải tiến đến gần như là những nhà thơ làm đối với những phạm vi tiềm ẩn của nhân loại; và cho cái lý do ấy chúng ta cần phải đập thủng những bức tường rõ ràng và tự tang chứng của chúng nó, để phơi bầy cái kiểu cách của ý tưởng của cái ngày mà cái lẽ thường tình được chấp nhận cho cái cảm nghĩ của nó. Phá hủy những bức tường như vậy là sự kêu gọi của những nhà xã hội học như (sự kêu gọi) của những nhà thơ, và cho cùng một lý do: xây dựng lên phạm vi nằm trên tiềm năng của nhân loại cùng một lúc ngăn chặn sự quảng bá của lừa bịp”.

    MVT-15: năm 1823, tổng thống Mỹ Monroe đặt ra chính sách nếu các quốc gia Âu Châu muốn chiếm đất làm thuộc địa hoặc can thiệp vào những tiểu bang của Mỹ Châu được xem là môt hành động xâm lăng và Hoa Kỳ sẽ có hành động trả đũa.

    Chủ đề: Thế giới

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    2 phản hồi

    dân xứ Lừa viết:
    Theo tôi hiểu "blue-water navy" là hải quân viễn dương, có khả năng hoạt động vùng biển lớn trong dài hạn, chứ không phải chỉ giới hạn vào hoạt động của tàu ngầm.

    Vì người dịch nhấn mạnh đến sự chính xác nên tôi chỉ xin góp ý vậy thôi, nhưng cũng không chắc mình đúng.

    hải = biển nhỏ (như Nam hải, Hoàng hải)
    dương = biển lớn (như Thái bình dương)

    Cám ơn! Vậy mà tôi vẫn cứ hay dịch Blue-water Navy là "Hải quân đại dương".

    Nước biển ngoài xa, nơi vùng có độ sâu hơn gần bờ, có màu xanh. Vì thế
    khi nói đến hải quân của một nước có khả năng hoạt động ngoài vùng duyên hải
    thì sách vở tiếng Anh hay dùng Blue-water Navy.

    ---oOo---

    về chữ "dominion" đó là từ thường được dùng trong tiếng Anh để chỉ những vùng
    tự trị. Ví dụ như thuộc địa Virginia hồi xưa còn có tên là Old Dominion.
    Cho nên chữ "New Dominion" là chuyển ngữ đẹp cho từ "Tân Cương".

    Theo tôi hiểu "blue-water navy" là hải quân viễn dương, có khả năng hoạt động vùng biển lớn trong dài hạn, chứ không phải chỉ giới hạn vào hoạt động của tàu ngầm.

    Vì người dịch nhấn mạnh đến sự chính xác nên tôi chỉ xin góp ý vậy thôi, nhưng cũng không chắc mình đúng.

    hải = biển nhỏ (như Nam hải, Hoàng hải)
    dương = biển lớn (như Thái bình dương)