Hà Văn Thịnh - Kinh Qur’an

  • Bởi Admin
    16/09/2010
    4 phản hồi

    Hà Văn Thịnh - Đại học Khoa học Huế

    Từ rất lâu, tôi đã bị ám ảnh bởi câu nói của Johann Wolfgang Goethe (1749-1832), rằng Kinh Qur’an là một tấm thảm ngôn từ được dệt bằng những sợi tơ vĩ tuyệt bất tử với thời gian. Những năm cuối của thế kỷ trước và mấy năm đầu của thế kỷ này còn buộc sự trăn trở của tôi đi xa hơn nữa khi một bộ phận của làn sóng cuồng tín của Hồi Giáo ngày càng cực đoan, tàn nhẫn. Để hiểu rõ điều đó, tôi tin rằng khi đọc Kinh Qur’an (KQR), hẳn là lời giải cho sự không dễ “ngộ” có thể sẽ minh sáng ra phần nào…

    KQR có tất cả 114 chương. Chương (Surah-viết tắt khi dẫn là S.) dài nhất là chương “Con bò cái tơ” (Al-Baqarah) có 286 câu – hay còn được coi là “dấu hiệu, phép lạ, bằng chứng, lời mặc khải” (Âyah-viết tắt khi trích dẫn là A.). Chương ngắn nhất có 3 câu: “Thời gian” (Al-A’sr); “Một con sông nơi Thiên Đường” (Al-Kawthar) và chương “Sự giúp đỡ” (An-Nasr). Tổng cộng 114 Suwar (số nhiều của Surah), 6.232 Âyât (số nhiều của Âyah).

    1. Nếu như Kinh Thánh mong muốn cho các tín đồ adorer (một từ đa nghĩa: sùng phục, yêu thương, tôn kính, quý trọng, ngưỡng mộ, tôn thờ…) Đức Chúa Jésuse; thì gần như ngược lại, Kinh Qur’ân chỉ đòi hỏi các tín đồ một điều duy nhất: Phải là một Al-Muttaqũn (người ngay thẳng và nhất thiết phải biết sợ Allah). Đây là điều cơ bản. KQR khẳng định một tín đồ tốt là tín đồ có taqwa: Biết sợ Allah; biết giữ mồm, giữ miệng và ngay thẳng. “Hỡi bầy tôi của TA, hãy sợ TA” (S.39, A.16, tr.951). “Do đó phải sợ TA” (S.23, A.52, tr.688), “Thiên đường vĩnh cửu được hứa cấp cho Al-Muttaqũn (S.25, A.15, tr.721). Từ “sợ” được nhắc lại không ít hơn 500 lần(!)

    Tất nhiên, Ngày Phán Xét cuối cùng và Lửa Hoả ngục do Kinh Thánh đưa ra đầu tiên cũng bao hàm nghĩa đe doạ. Nhưng hai khái niệm adorer Chúasợ Địa ngục được tách biệt gần như hoàn toàn. Có thể cách hy sinh tuẫn tiết bi tráng của Jésuse, tự nó đã đủ để thu hút Đức Tin của các tín đồ. Trong khi ấy, Muhammad có vô khối vợ, nên KQR không thể không đem nỗi sợ ra để thay thế cho những điều quá ư trần tục về tình cảm và tinh thần. Đối với vua chúa hay thủ lĩnh, quan niệm cần dân sợ chứ không cần lắm tình thương của dân, trở thành một nguyên tắc phổ biến xuyên suốt nhiều giai đoạn lịch sử ở phương Đông cổ xưa.

    2. Trong lịch sử loài người, không thể có một ai có nhiều danh xưng như Allah. Trong KQR, ngoại trừ Alllah là tên riêng của Rabb (Thượng Đế), Allah còn có 78 danh xưng khác: Đấng Rất Mực Độ Lượng(Ar-Rahmân), Đấng Rất Mực Khoan Dung(Ar-Rahim), Đấng Chủ Tể, Đấng Tuyệt Đối, Đấng Hằng Sống, Đấng Tự Hữu và Nuôi Dưỡng, Đấng Hằng Quay Lại Tha Thứ, Đấng Toàn Tri Toàn Năng(Qadir), Đấng Trông Chừng, Đấng Không Ăn - Không Uống, Đấng Độc Lập, Đấng Cung Dưỡng, Đấng Rất Đáng Ca Ngợi, Đấng Rất mạnh(Al-Qawi), Đấng Toàn Năng(Al-Aziz), Đấng Hằng Chịu Đựng, Đấng Thượng Đế Chân Thật, Đấng Tốt Nhất, Đấng Dẫn Dắt, Đấng Cung Cấp Ưu Việt, Đấng Hằng Biết, Đấng Hằng Chịu Đựng, Đấng Tối cao(Al-A’Lâ), Đấng Vĩ Đại, Đấng Hằng Nghe - Hằng Thấy, Đấng Rất Mực Tinh Tế, Đấng Rất Mực Am Tường, Đấng Rất Mực Giàu Có, Đấng Che Chở Ưu Việt, Đấng Toàn Lực, Đấng Tạo Hoá Siêu Việt, Đấng Hoạch Định Siêu Việt, Đấng Chúa Tể Của Chiếc Ngai Vương Vĩ Đại, Đấng Vô Cùng Sáng Suốt(Al-Hakim), Đấng Rộng Rãi Bao La, Đấng Hằng Sống, Đấng Chứng Giám, Đấng Thừa Kế, Đấng Tự Đầy Đủ, Đấng Thọ Lãnh, Đấng Giám Sát Mọi Việc, Đấng Đại Thẩm Phán Toàn Năng, Đấng Hằng Ghi Công, Đấng Vô Hình, Đấng Ban Bố, Đấng Duy Nhất, Đấng Tha Thứ(Gâfir), Đấng Duy Trì Nền Công Lý, Đấng Duy Nhất Được Khấn Vái, Đấng Tối Thượng(Al-Qahhâr), Đấng Trông Chừng(Hafiz), Đấng Bảo Hộ(Awliyâ’), Đấng Che Chở(Wali), Đấng Ban Kinh Sách, Đấng Rất Mực Nhân Từ(Lalif), Đấng Hằng Cảnh Cáo, Đấng Hằng Gởi, Đấng Cứu Tinh(Mawlâ), Đấng Quyền Lực Vô Song, Đấng Đầu Tiên, Đấng Cuối Cùng, Đấng Biểu Hiện, Đấng Ẩn Tàng, Đấng Thông Thái Khôn Ngoan(Hikmah), Đấng Ban Sự Bằng An, Đấng Ban Đức Tin, Đấng Bảo Vệ An Ninh, Đấng Toàn năng, Đấng Không Cưỡng Lại Được, Đấng Tự Hào, Đấng Khởi Sự, Đấng Hoàn Thiện, Đấng Quyết Định Siêu Việt, Đấng Hằng Yêu Thương(Al-Wadud), Đấng Chủ Nhân Của Thiên Ân Vĩ Đại, Đấng Rất Mực Sáng Suốt, Đấng Ban Sự Sống Và Ban Sự Chết, Đấng Tính Sổ và Đức Vua.

    Như vậy, Allah có tất cả 79 tên gọi khác nhau. Chỉ riêng ở Surah 59, trong 2 Âyât 23 và 24, KQR nhắc đến 9 cái tên khác nhau của Allah(tr. 1160).

    3. Gần như tất cả những nhân vật, địa danh có trong Kinh Thánh (The Bible) của Thiên Chúa Giáo đều xuất hiện trong KQR (tất nhiên được phiên âm theo tiếng Arab)như: Ibrâhim là Abraham, Ya’qub là Jacob, ’Isa là Jésuse, Maryam là Đức Mẹ Maria, Dáwud là David, Jâlut là Goliath, Nuh là Noé (hay Noah), Musa là Moise, Fir’aun là Thánh Phéro, Adn là Eden (Vườn Địa Đàng)…

    Nói như thế có nghĩa là KQR có không dưới 80% nội dung giống với Tân ước và Cựu ước. Cái lấp lánh đáng kể của Muhammad là dù không biết chữ như chính ông đã thừa nhận: “Hãy tin nơi Ngài và Sứ giả của Ngài, một Vị Đưa Tin không biết chữ (Nabi Ummi)” (S.7, A.158, tr. 326); những điều được ông nói lại thật sự là rất hay. Nhìn từ một góc độ khác, Allah được đồng nhất, “tuy hai mà một” hay hai trong một, với The God. Do đó, KQR và The Bible cũng là một! Sự “nâng cấp” đáng kể của KQR là thừa nhận Jésuse hay Moise đều là những Sứ giả (Rasũl), hoặc Vị Đưa Tin (Nabi) của Allah. Tuy nhiên, Muhammad là Vị Tiên Tri và Vị Đưa Tin cuối cùng (Khâtam an Nabiyyĩn).

    4. KQR giới tửu: “Uống rượu và cờ bạc… là những điều khả ố” (S.5,A.90, tr. 231). Thế nhưng KQR đã tự mâu thuẫn khi có đến 7 lần mô tả Thiên Đường như là nơi cho phép uống rượu thoải mái: “Trong những Ngôi vườn hạnh phúc của Thiên Đàng. Một cốc rượu trong sẽ được chuyển vòng cho từng người. Trong vắt như pha lê. Ngọt lịm. Bên cạnh họ là những trinh nữ (Hũri) với mắt to xinh đẹp, e lệ nhìn chồng. Xinh đẹp như những quả trứng non được giữ kỹ" (S.37,A.43-49, tr.916). “…có những dòng sông rượu mà người uống cảm thấy sảng khoái…” (S.46,A.15, tr. 1058). Thậm chí, cụ thể hơn nữa, KQR dường như đã chấp nhận chuyện uống rượu trong đoạn sau: “Hỡi những ai có niềm tin! Chớ đến gần việc lễ nguyện (Salâh) khi các người bị choáng váng (say rượu) trừ phi (tỉnh táo trở lại) và biết điều ngươi đang nói ra;…”(S.4,A.43, tr.164).

    Về nguyên tắc, KQR tuyên bố người đàn ông được lấy 4 vợ nhưng riêng với Muhammad thì có biệt lệ: “Ngươi hãy cưới phụ nữ có Đức Tin nào tự hiến mình làm vợ ngươi…; Điều khoản này đặc biệt dành cho ngươi” (S.33,A.50, tr.863). Ân sủng đáng kể đó của Allah dành cho Muhammad có kèm theo lời nhắc nhở rằng “Và nói năng với họ (đàn bà) lời lẽ nhã nhặn. Bởi việc các người hưởng lạc từ họ, hãy tặng họ phần tiền…(S.4, A.8-24, tr.153, 158).

    5. KQR khuyên mọi người “hãy cùng nhau nắm vững sợi dây (Islâm)” (S3,A103, tr.124) nhiều nghĩa, xem ra có vẻ rất giống với quan niệm của Phật Giáo. Kinh Phật nói nhiều đến Ngũ Uẩn (Rupasaka), mà “uẩn”, theo cách hiểu nguyên xưa của nó là “sợi dây được tết thành bó”. Lời cầu nguyện đầu tiên (thường xuyên) của các tín đồ ngân nga như một câu thơ: “Sallallahu ‘Alayhi Wa Sallam’ ” – “Xin Allah ban cho con Phúc lành và sự Bằng an”.

    Tuy vậy, nếu cố tìm những âyât nhiều tính triết lý thì có lẽ chúng ta khó có thể có được nhiều sự hài lòng vì chúng rất ít, mặc dầu rất độc đáo. “Âm thanh khó chịu và đáng ghét nhất là tiếng hí của một con lừa” (S.31,A. 19, tr.838). “Những lá buồm cày sóng, vượt trùng dương đi tìm thiên lộc của Ngài” (S.35,A.12, tr.887). “Những kẻ không tin Ngài không thể kiểm soát nổi ngay cả cái vỏ của một quả chà là” (S.35,A.13, tr.888). “Há phần thưởng để thưởng cái tốt không phải là cái tốt hay sao?” (S.55,A.60,tr.1124). “Họ (những người không có đức tin) là những kẻ mua đời này với giá của đời sau” (S.2,A.86, tr.29). “Quả thật, con người được tạo ra vốn nóng tính và yếu đuối. Hay than van khi gặp điều dữ. Và keo kiệt khi may mắn, giàu có” (S.70,A.19-21, tr.1213). “Không một người khuân vác nào sẽ vác giùm gánh nặng của người khác” (S.39,A.7,tr.949).

    6. Cách nhìn nhận về người Do Thái và Kinh Tawrâh (của Đạo Do Thái) trong KQR là khá khách quan và có không ít những mỹ từ. Chẳng hạn, KQR khẳng định “Và trước Nó (Qur’ân) là Kinh sách của Musa (Tawrâh)”(S.46,A.12,tr.1048), “Ánh sáng quang minh” (S.21,A.48,tr. 648).“Và chắc chắn TA đã cứu con cháu Isrâ-il khỏi một sự trừng phạt…TA đã chọn họ trội hơn thiên hạ về kiến thức” (S,44,A.30-32,tr.1032).“Và TA ban cho Người (Nuh) tin mừng về Ishâq (tức Isaac) - (sau này thành) một Nabi từ trong những người đức hạnh (Sâlihun - S.37,A.112,tr.923). “Và hãy nhớ Nàng Maryam (Đức Mẹ Maria trong Kinh Thánh) là người đã giữ trọn tiết trinh”(S.21,A.91,tr.655). Thậm chí, những kẻ cuồng tín nhân danh Allah quên mất rằng, chính KQR đã đồng ý cho người Do Thái ở vùng Đất Hứa (Éxodus) ngày nay: “Và sau đó TA phán cho con cháu của Isrâ-il như sau: Hãy định cư thanh bình trên Đất Hứa. Và khi lời hứa sau cùng xảy đến, TA sẽ tập trung các ngươi lại, trộn lẫn với nhau” (S.17,A.104,tr.569).

    Về những tội lỗi của những kẻ thiếu đức tin (Do Thái), không ít lần KQR khuyên nhủ các tín đồ cần phải biết khoan dung: “Lời nói tử tế và sự tha thứ tốt hơn của bố thí” (S.1, A.263, tr.88). Tuy vậy, tính mâu thuẫn cũng là một trong những điều không phải là không phổ biến của KQR. Trong một đoạn khác viết: “Chớ kết thân với người Do Thái và tín đồ Thiên Chúa giáo” (S.5,A.51,tr.220).

    7. KQR nói không dưới 30 lần về chuyện “ăn nằm” của vợ chồng, quy định chi tiết ngay cả việc sau khi hai vợ chồng giận nhau, muốn ăn nằm trở lại thì phải nộp phạt, tẩy uế như thế nào. Về việc sáng tạo ra con người (Âdam, tức Adams), ngoài truyền thuyết như Kinh Thánh đã viết ra trước đó hàng ngàn năm, KQR còn nhấn mạnh đến việc Allah đã thực hiện cụ thể ra sao. “Ngài đã tạo ra con người từ một giọt tinh dịch - nutfah” (S.16,A.4, tr.519). Vì nó quá trần tục nên chúng tôi không muốn dẫn và phân tích thêm vấn đề đặc biệt nhạy cảm này.

    8. Giống như Cựu ước và Tân ước, KQR theo đuổi chủ nghĩa thực tiễn (thực dụng) một cách tối đa. Sự đền bù hư ảo như lẽ thường của các tôn giáo là chuyện không phải bàn. Đoạn trích sau cho biết khá nhiều: “Nếu các ngươi cho Allah mượn một phần mượn tốt (để đóng góp cho cuộc Thánh chiến) thì Ngài sẽ gia tăng nó gấp đôi (vào trương mục tín dụng)…” (S64, A17, tr. 1182). Cuộc Thánh chiến (Jihad) mà KQR phát động nói rất rõ rằng nếu ai tham gia sẽ có quyền lấy làm vợ tất cả nữ tù binh “đứng dưới tay phải” của người đó: “Cấm lấy những phụ nữ đã có chồng ngoại trừ những nữ tù binh” (không giới hạn số lượng - HVT - S.4, A.24, tr.159). Trong 4 loại người được ân sủng của Allah, người tử vì đạo (Shuhadã) được xếp ở vị trí số một. “Ta sẽ kết hôn họ với những tiên nữ có đôi mắt to, đẹp, trữ tình… xinh như ngọc trai được giữ kỹ” (S.52, A.20-24, tr.1096).

    Ngay cả điều cấm cũng có thể vi phạm nếu có lý do để biện minh: “Những ai vì nhu cầu mà bắt buộc phải dùng những món (thức ăn) cấm đó ngoài ý muốn và không quá độ thì sẽ không bị tội” (S.2,A.173,tr.55). Việc cho vay lấy lãi bị nghiêm cấm nhưng nếu lấy lãi ít hơn thì vẫn có thể(?): “Hỡi những ai có niềm tin! Chớ cho vay ăn lãi gấp đôi hoặc nhiều hơn” (S.3,A.130,tr.131).

    9. Cuộc chiến tranh để phổ biến Đức tin chiếm một phần lớn câu chữ trong KQR. Con đường duy nhất của những người có “lòng ngay thẳng và phải biết sợ Allah” (Taqwâh) chỉ duy nhất có một: Tiến về phía trước. Bởi “Và ai quay lưng về phía địch…thì chắc chắn rước sự giận dữ của Allah vào mình và chỗ ngụ của người đó sẽ là Hoả ngục, một trạm đến cuối cùng rất tệ hại. Bởi thế, không phải ngươi giết chúng mà chính Allah đã giết” (S.8,A.16-17,tr.341-342). Chiến đấu để được tử vì đạo là nguyên tắc bắt buộc: “Trừ phi các người ra đi chiến đấu, nếu không thì Ngài sẽ phạt các ngươi đau đớn” (S.9,A.39,tr.368). Hoả ngục được mô tả thật rùng rợn: “Và không có thức ăn nào khác ngoài chất mủ hôi tanh được rửa từ vết thương ra…” (S69, A36, tr. 1209).

    Kẻ thù của các chiến sĩ tử vì đạo được khu biệt rất rõ ràng: “Do Thái và những kẻ thờ đa thần (Mushriqũn) là những người thù hằn người có đức tin dữ dằn nhất… Hình phạt dùng trừng trị những kẻ tạo chiến tranh chống lại Allah và Sứ giả của Ngài… chỉ có việc hoặc xử tử, hoặc đóng đinh trên thập tự giá hoặc chặt tay này và chân kia hoặc trục xuất ra khỏi lãnh thổ” (S.8,A82,tr.229 và S.5,A.33,tr.214).

    10. KQR không giải thích rõ lý do vì sao Trăng Lưỡi Liềm được coi là biểu tượng của Hồi giáo. Nhưng ở S.36, A.39, tr.904 có viết: “Và mặt trăng. Ta quy định cho nó những giai đoạn mặt nguyệt cho đến khi nó trở lại tình trạng (lưỡi liềm) cũ giống như “Urijũn" (phần dưới của cây chà là)”. Nếu suy luận thì rất dễ trở thành võ đoán nhưng chúng tôi mạnh dạn cho rằng việc đồng nhất “phần dưới của cây chà là” với trăng lưỡi liềm vừa có giá trị biểu tượng hoá cái cây điển hình của vùng Trung Đông, đồng thời rất dễ gợi nhớ đến lưỡi gươm cong đặc trưng của các chiến binh Arab. KQR đã nhắc đến truyền thuyết Biển Đỏ bị xẻ làm đôi và cũng không ít lần nhắc đến ngày cuối cùng của loài người là ngày mà trái đất bị chẻ làm đôi, cũng là “Ngày mà bầu trời sẽ bị chẻ đôi” (S73, A18, tr.1229). Rõ ràng, trăng lưỡi liềm ẩn dụ rất rõ hàm ý về hình ảnh khủng khiếp của Ngày Phán Xét Cuối Cùng!

    Mặc Khải (Qur’ân) của Allah nói rằng “Ta không phải là một bid’a” (Người bịa đặt ra điều mới - S.46, A. 9, tr.1047). Phải chăng KQR đã không làm thay đổi trật tự cũ? Nó cũng không đưa đến sự xáo trộn sâu sắc thế giới? KQR tự cho rằng Nó được sinh ra để ngăn ngừa và trừng phạt tội ác. “Tội ác xuất hiện trên trái đất và trên biển cả là vì những hành vi thối nát mà bàn tay của con người đã làm ra, cho nên (Allah) cho họ nếm (hậu quả) của những điều mà họ đã làm để may ra họ còn có dịp tỉnh ngộ và quay về với nẻo chánh” (S.30,A.41,tr.829).

    Lời cảnh báo thật đáng sợ. Thực tế lịch sử suốt 1.400 năm qua cho thấy chiến tranh và các loại tội ác vẫn tiếp tục hoành hành dữ dội trên mặt đất này. “Và chắc chắn Ta đã tàn phá những thị trấn xung quanh các người…” (S46, A27, tr. 1052).

    Huế, 9.9.2010.
    Tel:0914.079.210 & 054.846.623
    Email: [email protected]

    ____________________

    Dẫn theo: Kinh Qur’an. Người dịch: Hassan Abdul Karim, nxb Tôn Giáo, Hà Nội, 2001. 1.329 trang.

    Chú thích: Shuhadâ: người tử vì đạo. Barzakh: thế giới vô hình. Al-Ghayb: Đấng Vô Hình. Sujũd: Quỳ mọp xuống đất (lễ Salâh). Kufr: Phủ nhận Allah. Shaytân: Kẻ thù của loài người. Tattaqũn: Sợ Allah. Adh: Thoả ước. Malak: Thiên thần (nhiều: Malâ-Ikah). Jĩbril: Thiên sứ. Izra-ĩl: Thần chết. Khalifah: Uỷ viên, Người đại diện. (Adâm, Muhammad…). Sajada: Mọp đầu phủ phục, phụng mệnh. Jinn: tạo ra từ lửa. Iblis: tượng trưng cho sự tự cao, tự đại; Shaytân: tượng trưng cho dối trá, cám dỗ. Tâba, Tawbah: Sám hối. Isra-ĩl: Chiến sĩ hay bầy tôi của Allah. Salâh và Zakâh: lễ nguyện và nộp thuế; hai điều cơ bản nhất của Qu’ran. Đền Ka’bah. Sabr: Kiên định lập trường. Hajj: Lế Hadji. Birr Đạo đức. Qisâs: Trả thù. Az-Zalimân: Kẻ làm điều sai quấy. Tágũt: Tà thần. Sadaqah: Bố thí. Furqũn: Chuẩn mực. Dĩn: Chính đạo. Âlamĩn: Giỏi hơn thiên hạ. Hasũr: Người trong sạch.

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    4 phản hồi

    Mohammed không biết đọc, không biết viết, và những bạn đồng hành với ông ghi lại lời ông thành Q’ran sau khi ông qua đời. Mọi người đạo Hồi phải học thuộc lòng kinh Q’ran.

    Tính xác thực về giáo chủ tự xưng mình là Thiên sứ và kinh Q’ran từ 1400 năm trước mà khi viết lại ...chỉ cần có ba người làm chứng thì không đang tin cậy !

    Còn ở nông thôn VN chuyện ông đồng bà bóng bày binh bố trận cúng kiến khói nhang âm u và tự xưng ...Thiên sứ nhiều ...hằng hà sa số.

    cám ơn bác Thịnh viết tóm tắt chứ không ai đủ thời gian công sức tìm đọc kinh Q'ran .
    Một ngàn bốn trăm năm trước không mấy người biết đọc biết viết thì những gì thành văn bản đều được khen như kinh Phật, kinh Thiên Chúa giáo người ta ...đều khen vì giải thích được các hiện tượng gây tai họa kinh hoàng là ...thiên tai ! Mãi đến nay vẫn còn nhiều người tin ...Thiên tai, thậm chí tai nạn là trừng phạt của ông Trời hay Thượng đế.

    Phật giáo có tham gia chính sự nhưng không có chức vụ chánh quyền,Thiên Chúa giáo tham gia quyền lực thế tục nhưng không chấp nhận tu sĩ quan hệ Nam Nữ trừ giáo phái Tin lành lại buộc người muốn làm Mục sư phải có vợ bình thường như tín đồ.

    Nhưng thời xa xưa các giáo chủ tôn giáo khác ở Ấn Độ Trung Đông ...luôn dành quyền ưu tiên có quan hệ với phụ nữ còn trinh tiết. Phụ nữ trước khi lấy chồng phải hiến trinh để các giáo chủ này làm bùa cúng kiến giải trừ ...ma quái ! Các giáo sĩ...nhận hiến trinh đúng là lũ quỷ Satan lợi dụng sự dốt nát của con người thuở hồng hoang !

    Nhà văn Salman Rushdi sinh năm 1949 người Ấn phê phán kinh Q’ran cho đó là ‘Các vần thơ của quỷ Satan “khiến giáo chủ Khomeini của Iran ra lệnh tín đồ đạo Hồi tòan cầu phải truy sát ông. Chánh phủ Anh phải ra tay bảo bọc Salman và vận động bải bỏ lệnh đó ...

    Nhà bác học Albert Einstein duy chỉ khen đạo Phật là tôn giáo dung nạp khoa học một cách suông sẻ không cần thay đổi nền tảng ( nói như thế hàm ý là nhiều tôn giáo phải thay đổi nền tảng ) :
    Tôi chắt lọc các tư tưởng Phật giáo làm nền cho suy nghĩ về Vũ trụ quan của mình:

    1- Phật là người (PG Nam Tông chính gốc) đã trãi qua nhiều kiếp luân hồi và tu nhân tích đức không tự xưng thánh thần cao hơn con người : “ Ta là Phật đã thành các đệ tử là Phật sẽ thành .”
    2- Phật không khuyến khích xây chùa chiền cùng vái : Dẫu xây chín đợt phù đồ, không bằng làm phước cứu cho một người...
    3- Phật không chịu lảm nhảm đọc kinh mà ...không hiểu:” Kìa đệ tử hãy nhìn theo ngón tay ta mà thấy mặt trăng, nhưng ngón tay ta không phải là mặt trăng !“ Người tu phải tự mình suy nghiệm để thấu hiểu và đạt được sự minh triết không thể ...học thuộc lòng kinh .
    4- Phật chủ trương “ Đại hùng-Đại lực-Đại từ bi “ cho nên ...không thể dốt nát yếu đuối thất bại mà phải có khả năng mới nói đến chuyện cứu giúp (từ bi) .
    5- Cấm sát sanh . Óc nhân bản của Phật giáo quả là cao nhất thâm thúy nhất tuyệt diệu đến ngạc nhiên nhất qua giáo điều này bởi đi đúng điều mà con người đương đại đang làm là bảo vệ động vật, chống chiến tranh khủng bố ...

    Trên VOA đã có nhận định là nhiều người Âu Mỹ đã cải đạo sang Phật giáo . Thật ra Phật giáo không cần chuyện xác minh là tín đồ (quy y ) hay lập bàn thờ cúng Phật . Chỉ có giáo sĩ làm phật sự mới cần còn người tin theo Phật thường tu tại gia lo thấu hiểu triết học Phật giáo chứ không phải ...thuộc kinh Phật .

    Người tán dương triết học Phật giáo Phật giáo sẽ hành xử một cách hoàn toàn độc lập tự nguyện vì Phật ở trong tâm (tu tâm ) và tự rèn mình mình để có ...Phật tánh !

    Đạo Phật ở Việt Nam ngày càng có khuynh hướng phát triễn tư duy minh triết kiểu Thiền chứ không phải lập lại niềm xác tín ngàn năm củ qua giáo lý mang tính cỗ đại vừa có tính sơ khai, văn từ cỗ khó hiểu sự việc không phù hợp hiện thực .

    Một cái nhìn về Phật giáo từ chùa chiền cho thấy : ...”Tuy nhiên, so với các nước theo truyền thống Phật giáo Nam tông khác như: Thái Lan, Lào, Campuchia, Sri Lanka và Myanmar, Tăng sĩ PGNTVN có cơ hội tiếp cận với nhiều hệ thống giáo lý Phật giáo khác nhau. Thực tế, nền giáo dục Phật giáo nước nhà từ thấp đến cao, mọi tu sĩ Phật giáo được học cả những tư tưởng của hai trường phái chính Phật giáo. Từ đó, có thể nói rằng tu sĩ PGNTVN có cái nhìn tư tưởng của Phật Đà toàn diện hơn so với các nước Phật giáo Nam tông khác, mặc dù nền giáo dục của họ về chất và lượng có trội hơn chúng ta. Qua thực tế cho thấy, họ xác nhận vẫn bị rơi vào lổ hổng là phần lớn tu sĩ của các nước ấy bị hạn chế kiến thức đối với các hệ tư tưởng Phật giáo Phát triển, một nửa trái tim học thuật của Phật giáo. Nguyệt san Giác Ngộ, số 88, 07-2003 Thích huệ Giáo .

    Trần thị Hồng Sương

    Có lẽ để bổ sung thêm về những mâu thuẫn của KQR và những hậu quả có thực của chúng, bác nên tìm đọc thêm một số tác phẩm non-fiction của Ayaan Hirsi Ali, một phụ nữ đương thời (1970 -) vĩ đại của thế giới.

    Chương Surah cũng nói về triết lý "mắt đổi mắt, mạng đổi mạng, ..." và có 3 cách diễn dịch:

    - Người gây tổn thương phải sám hối và đền bù tội lỗi bằng cách "trả lại" những gì đã lấy. Không biết có bao nhiêu tín đồ Hồi giáo làm theo cách này?

    - Pháp luật của xã hội Hồi giáo thực hiện triết lý này: các nước Saudi Arabia, Iran, Pakistan có luật và thi hành những hình phạt như mổ bỏ mắt, cắt tai, cắt chân những phạm nhân đã làm thương tích cho người khác.

    - Cá nhân phải tự trả thù để mang lại "công lý" theo triết lý ấy. Ở cấp độ giữa các quốc gia không/chưa có luật pháp quốc tế nên Bin Laden và quân khủng bố đã tấn công nước Mỹ theo lối diễn dịch này vốn được hậu thuẫn bởi triết lý phải chiến đấu để bảo vệ đạo pháp của kinh Koran.

    Không biết ông Goethe khen Kinh Koran thế nào chứ ông Gandhi đã nói "Eyes for eyes makes the whole world blind" (mắt đổi mắt sẽ làm cả thế giới đui mù).