Trương Đình Trung - Biển Đông và quan hệ Việt - Mỹ - Trung (3)

  • Bởi Admin
    12/09/2010
    0 phản hồi

    Trương Đình Trung

    Quan hệ Việt - Trung

    Quan hệ Việt - Trung có một lịch sử dài hàng mấy ngàn năm, với đặc điểm có thể tóm gọn như thế này: hễ Trung Quốc thịnh thì Việt Nam suy; và ngược lại Việt Nam chỉ được an ổn khi Trung Quốc suy. Có thể nói đó gần như là một chu kỳ biến đổi trên sự bất biến là tham vọng thôn tính của người Hán đối với đất Việt. Do tham vọng đó mà Trung Quốc, bất kể thuộc chế độ chính trị nào, luôn muốn cho người Việt bị phân ly và suy yếu. Lịch sử chính trị hiện đại của mối quan hệ Việt - Trung chứng tỏ điều vừa nói. Xin lược sơ sau đây, rất vắn tắt, vài sự kiện:

    Tại Hội nghị Genève năm 1954, Trung Quốc đã dùng hoà hội đó làm cơ hội để giao tiếp và cầu thân với Tây Phương, đã ép Hà Nội phải nhượng bộ nhiều điều để làm hài lòng Anh - Pháp. Chủ ý khác của Trung Quốc vào lúc đó là một Việt Nam chia hai, với Miền Bắc vừa là vùng trái độn an toàn cho Trung Quốc ở phía Nam, vừa là cửa ngỏ, là con bài Trung Quốc dùng để giao tiếp hay mặc cả với bên ngoài trong khi Trung Quốc đang ở giai đoạn củng cố chính quyền và phục hồi kinh tế. Thủ tướng Trung Quốc lúc đó là Chu Ân Lai đã nói với thủ tướng Pháp Pierre Mendès-France: “Hồ đang tỏ ra tự phụ, ông ta không nghe chúng tôi…ngay cả sau những gì chúng tôi đã làm cho Ổng. Chúng tôi nghĩ rằng ông ấy đã qúa nghe theo người Nga. Vì vậy chúng tôi đề nghị thế này. Đông Dương nên được chia ra làm 4 vùng. Tất nhiên Hồ sẽ được giữ Bắc Việt. Nhưng Lào và Cam bốt nên ở độc lập và… thuộc Liên hiệp Pháp của ngài. Nam Việt nên được tách ra. Có thể lập nên một chính quyền riêng ở đó. Chúng ta có thể tuyên bố rằng sẽ có thống nhất về sau bằng tuyển cử… nhưng Trung Hoa sẽ không bận tâm nếu việc thống nhất đó không thật sự xảy ra” (Ho is getting too big for his britches. He does not listen to us…even after all that we have done for him. He listens too much, we think, to the Russians. So this is what we propose. Indochina should be cut into four zones. Ho will be allowed to keep North Vietnam, of course. But Lao and Cambodia should stay independent… and continue as members of your French overseas Union. The South of Vietnam should be partitioned off. A separate government could be formed there. We could talk of eventual unification by elections… but China would not mind if this unification did not actually occur.)

    Cũng chính vì thâm ý duy trì sự phân ly của Việt Nam, nên Trung Quốc không hoan hỉ gì việc Việt Nam thống nhất năm 1975, tuy rằng chiến thắng thuộc về Hà Nội, là người mà Trung Quốc vẫn nhận là đồng chí. Kể từ năm 1968 khi Hà Nội tự ý hội đàm với Mỹ, không theo lời cố vấn của Bắc Kinh, Trung Quốc đã toan tính những nước cờ mới để làm suy yếu Việt Nam và sự liên kết của 3 nước Đông Dương. Họ đã tìm cách gây ảnh hưởng với Pol Pot của Khmer đỏ.

    Sau khi Hiệp Định Paris ký kết năm 1973, Mỹ - do sự dàn xếp bí mật của Henry Kissinger - âm thầm oanh tạc bên kia biên giới Campuchia, gây những tổn thất nặng nề cho Khmer đỏ. Trung Quốc liền bảo với Pol Pot rằng đó là kết quả của việc Hà Nội phản lại bạn bè Kampuchia, xé lẻ đi ký kết hoà bình riêng với Mỹ, khiến nay Campuchia bị đơn độc trong cuộc chiến chống Mỹ! Từ đó về sau, Trung Quốc đã không ngừng hậu thuẫn và viện trợ cho Pol Pot về đủ mọi mặt trong việc chống phá Việt Nam, gài Việt Nam sa lầy ở Campuchia và cuối cùng kiệt quệ, phải rút về năm 1989. Nhưng vì Pol Pot và Khmer Rouge không đủ uy tín quốc tế nên Chu Ân Lai đã thuyết phục Sihanouk cùng về hợp tác để lập ra chính phủ liên hiệp chống lại Hun Sen là người do Hà Nội hậu thuẫn. Đồng thời với việc hậu thuẫn cho Khmer Rouge ở phiá Tây, năm 1979 Trung Quốc đã xua quân tấn công Việt Nam ở phía Bắc, xâm chiếm, đốt phá 6 tỉnh ở đó thành bình địa rồi rút về.

    Khi Liên Sô-Đông Âu sụp đổ, Việt Nam phần thì bị cô lập về mặt đối ngoại, phần thì do chính sách kinh tế sai lầm và sự tốn kém của gần 10 năm chiếm đóng Kampuchia, nên hoàn toàn suy kiệt và khủng hoảng, giới lãnh đạo đảng CS lâm vào tình trạng vô cùng hoang mang. Trung Quốc đã nhân cơ hội đó đặt cho Hà Nội nhiều điều kiện nghiệt ngã đối với việc tái lập bang giao giữa hai nước. Từ đó về sau, Trung Quốc đã tạo áp lực về nhiều mặt đối với Hà Nội, ngay cả buộc giới lãnh đạo đảng CSVN phải loại trừ những nhân vật cao cấp trong đảng có thái độ thiếu thân thiện với Trung Quốc. Nguyễn Cơ Thạch, Uỷ Viên Bộ Chính Trị và là Bộ Trưởng Ngoại Giao đã bị loại trong tình hình đó, vì ông Thạch tỏ ra cứng rắn và nguyên tắc khi đàm phán với đại diện của Trung Quốc.

    Cũng trong chủ ý làm suy yếu Việt Nam, Trung Quốc đã luôn tìm cách kìm giữ Việt Nam trong vòng ảnh hưởng và quỹ đạo của mình, không để cho Việt Nam có bất kỳ cơ hội nào để tiến lên trước Trung Quốc dù chỉ một bước nhỏ. Chẳng hạn, ngay sau 1975, Đặng Tiểu Bình, hiểu rằng việc có quan hệ ngoại giao sớm với Mỹ sẽ giúp tạo một cơ hội cho Việt Nam thống nhất hoà nhập sớm vào cộng đồng quốc tế và phát triển nhanh, đi trước Trung Quốc, đã tìm cách để cản trở và làm chậm lại sự tái lập quan hệ bình thường Mỹ - Việt. Về sau này kể cả việc vào WTO cũng vậy, Trung Quốc đã tìm cách gàn trở để Việt Nam phải vào sau, Trung Quốc vào trước và khi đến lượt Việt Nam vào thì Trung Quốc đã có chân trong nhóm Working Countries để phỏng vấn và đặt điều kiện cho Việt Nam.

    Đối với vấn đề biên giới đất liền và vùng biển thì Trung Quốc đã liên tiếp bí mật tạo áp lực buộc giới lãnh đạo CSVN phải nhượng bộ nhiều điều, lấn chiếm nhiều đất đai và vùng biển của Việt Nam ở vùng biên giới và ở vùng Vịnh Bắc Bộ. Quan hệ Việt - Trung luôn ở trong tình trạng âm ỉ căng thẳng, tập trung nhất vào việc tranh chấp chủ quyền của hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và vùng Biển Đông, quanh hai quần đảo đó. Sự tranh chấp ở khu vực này đã bắt đầu từ lâu ngay khi vừa kết thúc hội nghị Genève năm 1954. Trong việc tuyên bố chủ quyền đối với hai quần đảo thì người Hán rất thống nhất; nghĩa là cả Bắc Kinh lẫn Đài Loan đều cùng có chung nội dung, cả Mao Trạch Đông và Tưởng Giới Thạch đều cùng một quan điểm. Có nghĩa rằng đối với người Hán thì vấn đề dân tộc luôn vượt lên trên vấn đề ý thức hệ, và họ sẵn sàng tạm gác qua một bên mọi khác biệt chính kiến để ưu tiên tập trung vào việc bảo vệ quyền lợi đất nước Trung Quốc của họ.

    Trong những năm trở lại đây, tình hình ở hai quần đảo và ở Biển Đông ngày càng thêm căng thẳng, trở thành trung tâm của sự bất hoà giữa hai quốc gia Trung Quốc - Việt Nam. Sự vươn lên của Trung Quốc dần dần tỏ ra kém hoà hiếu hơn trước, càng ngày Trung Quốc càng khẳng định mạnh mẽ hơn quyền lợi của mình đối với Biển Đông bằng nhiều biện pháp, kể cả dùng sức mạnh hải quân. Chẳng hạn, năm 2008, Trung Quốc đã cho tàu chiến ngăn cản đoàn tàu Na-Uy thăm dò dầu cho Việt Nam ngoài khơi gần Trường Sa. Tiếp sau đó, Trung Quốc đã đe doạ, cho tàu chiến đến buộc các công ty BP và Exxon Mobile không được hợp tác với PetroVietnam trong việc thăm dò dầu trên Biển Đông, tuy rằng những vùng đó năm trong phạm vi EEZ của Việt Nam. Tháng 10/2008, đại diện Việt Nam đã được gởi qua Bắc Kinh để phản đối. Để gia tăng áp lực, Trung Quốc còn cho tàu ngầm Jin 094, là loại tàu ngầm nguyên tử, thường xuyên tuần tra quanh Trường Sa. Phản ứng lại, Hà Nội đã bí mật họp với Thứ trưởng Ngoại giao Mỹ, ông John Negroponte, và yêu cầu chiến hạm US Mustin thuộc hạm đội 7 thay vì ghé cảng Saigon như đã dự trù, lại ghé cảng Tiên Sa ở Đà Nẵng là nơi có Bộ Chỉ Huy Hải quân Vùng 3 của Việt Nam chuyên trách tuần tra vùng biển tranh chấp quanh Hoàng Sa và Trường Sa.

    Trước đó, các va chạm của hai bên xảy ra nhiều lắm. Như năm 1988 hải quân hai bên đã chạm súng ở gần Trường Sa, kết quả 74 binh sĩ Việt Nam thiệt mạng. Năm 2005 Trung Quốc đã khiếu nại rằng ngư dân Trung Quốc đã bị cướp biển Việt Nam tấn công trên Biển Đông. Vài tháng sau một tàu chở hàng của Việt Nam bị bắn chìm ngoài khơi Thượng Hải, nhưng không biết ai là thủ phạm. Tháng 4/2007 Hải quân Trung Quốc bắt giữ 4 tàu đánh cá VN và phạt tiền. Tháng 7/2007 hải quân Trung Quốc lại bắn chìm một tàu đánh cá Việt Nam gần Hoàng Sa giết chết một ngư phủ Việt Nam. Tháng 11/2007 khi hải quân Trung Quốc tập trận ở quần đảo Trường Sa suốt một tuần lễ, phía Việt Nam đã ra tuyên cáo rằng cuộc tập trận đó của Trung Quốc vi phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam. Phản ứng của Việt Nam lên cao hơn nữa khi Quốc vụ viện Trung Quốc ra quyết định thành lập thành phố Nam Sa thuộc tỉnh Hải Nam với trách nhiệm hành chánh bao gồm cả quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Bộ ngoại giao VN đã tuyên bố rằng quyết định của Quốc vụ viện (Quốc hội) Trung Quốc là một hành động xâm lấn lên chủ quyền của Việt Nam. Cùng với tuyên bố của bộ ngoại giao, sinh viên học sinh ở Sài Gòn - Hà Nội đã hai lần biểu tình để phản đối. Đầu năm 2008 Trung Quốc tố cáo rằng 12 tàu đánh cá Việt Nam đã bắn vào 10 tàu kéo của Trung Quốc trong Vịnh Bắc bộ; phiá Việt Nam bác bỏ tố cáo đó của Trung Quốc, cho rằng chỉ là tai nạn gây ra do vướng lưới cá. Qua năm 2009 Trung Quốc lại còn đơn phương ra lệnh ngưng đánh cá 3 tháng cho toàn vùng biển gần Trường Sa! Sau đó tuyên bố rằng Biển Đông là lợi ích cốt lõi (core interests) của Trung Quốc!

    Từ năm 2006 trở đi quan hệ của hai chính phủ Việt - Trung lại càng lạnh nhạt hơn. Thông thường các thủ tướng mới nhậm chức của Việt Nam đều dành chuyến xuất ngoại đầu tiên qua thăm Bắc Kinh. Nhưng đến khi ông Nguyễn Tấn Dũng lên nhậm chức thủ tướng tháng 7/2006 thì nước đầu tiên Ông thăm viếng lại là Nhật Bản, một đối trọng của Trung Quốc ở Á châu. Sau đó ông Dũng đã lần lượt đi thăm Úc, Tân Tây Lan. Đến tháng 10/2008 ông Dũng mới đi thăm Trung Quốc, nhưng đề tài chính khi hội đàm với thủ tướng Ôn Gia Bảo, theo tin tiết lộ, là phản đối việc hải quân Trung Quốc xua đuổi tàu thăm dò Na-Uy trước đó. Sau đó ông Dũng lại là thủ tướng Việt Nam đầu tiên đến thăm Ngũ Giác Đài của Mỹ.

    Điều nữa càng làm nghiêm trọng hơn cho quan hệ Việt-Trung là việc Trung Quốc tăng cường xây dựng căn cứ tàu ngầm Sanya (Yulin) ở đảo Hải Nam, đã được không ảnh từ vệ tinh ghi nhận; xây phi trường, cho chiến đấu cơ có tầm hoạt động xa, trên đảo Thổ Châu (Woody island) thuộc quần đảo Hoàng Sa; và củng cố các phương tiện quân sự trên đảo Vành Khăn thuộc quần đảo Trường Sa. Trung Quốc ngay cả đang có kế hoạch hạ thuỷ một hàng không mẫu hạm ở Hải Nam, từ đó hình thành một hạm đội mạnh có khả năng kiểm soát toàn bộ Biển Đông và hải lộ từ eo Malacca lên đến Đài Loan. Việc tăng cường sức mạnh hải quân của Trung Quốc trên Biển Đông, như vậy, là một đe doạ nghiêm trọng cho sự an nguy lâu dài của Việt Nam, và sẽ làm cho quan hệ giữa hai quốc gia ngày càng trở nên xấu đi nhiều, dẫn đến những nguy cơ khó lường.

    Áp lực kinh tế của Trung Quốc đối với Việt Nam

    Khi luận bàn đến hiểm hoạ Bắc Phương, và quan hệ Mỹ - Việt - Trung trong mối liên quan với hiểm hoạ ấy, phần đông chúng ta đã quá quan tâm đến khiá cạnh quân sự, mà thiếu lưu tâm đến khía cạnh kinh tế. Thật ra chính kinh tế là nền tảng của quốc phòng vững mạnh, là mặt trận gay go nhất mà hiện nay Trung Quốc đang ở thế áp đảo Việt Nam, và Mỹ thì chưa hề tỏ ra muốn chìa tay giúp đỡ. Chính nền kinh tế yếu kém của Việt Nam đã khiến cho giới lãnh đạo Hà Nội e dè đối với các phản ứng của Trung Quốc. Không riêng Việt Nam, mà cả khối ASEAN, kế từ sau khủng hoảng kinh tế Á châu năm 1997 đều bị cuốn hút dần vào quỹ đạo kinh tế của Trung Quốc. Việc hình thành khu tự do mậu dịch ASEAN-Trung Quốc khởi sự từ năm nay là một bằng chứng.

    Ngay lúc này thì về mậu dịch, Việt Nam đang bị khiếm khuyết mậu dịch (trade deficit) lớn nhất với Trung Quốc. Có đến 90% sự khiếm khuyết mậu dịch là từ Trung Quốc. Tổng trị giá mậu dịch chính thức TQ - Việt Nam năm 2009 là 21.3 tỉ dollars, và được ước đoán sẽ lên đến 25 tỉ dollars trong năm 2010 này theo như cam kết thúc đẩy mậu dịch của cả hai thủ tướng Trung Quốc và Việt Nam. Nhưng chỉ riêng 5 tháng đầu của năm nay, Việt Nam xuất cảng qua Trung Quốc được 2.3 tỉ dollars, nhập cảng từ Trung Quốc lại lên đến 7.3 tỉ dollars; nghĩa là khiếm khuyết mậu dịch đến 5 tỉ dollar; tính ra 1 tỉ dollars/ tháng! Mức khiếm khuyết đó nói lên mối đe doạ của kinh tế Trung Quốc đối với sự tăng trưởng kinh tế của Việt Nam.

    Việt Nam xuất cảng sang Trung Quốc gồm dầu thô, nông sản, hải sản, cao su thiên nhiên, café và trái cây. Việt Nam nhập cảng từ Trung Quốc chính yếu là sắt thép, hàng chế tạo, máy móc, xe gắn máy, giày dép, áo quần, xăng dầu, hoá chất, và nhựa tổng hợp. Ngoài vấn đề khiếm khuyết mậu dịch ra, cơ cấu hàng nhập cảng từ Trung Quốc là một trở ngại khác cho sự phát triển kỹ nghệ chế tạo của Việt Nam.

    Một khiá cạnh khác là mặc dầu Việt Nam là thị trường cho hàng xuất cảng của Trung Quốc, nhưng Trung Quốc lại đầu tư ít hơn các quốc gia khác vào Việt Nam; đứng sau Nhật, Pháp, Hoà Lan, Nam Hàn, Đài Loan, và Singapore. Hơn nữa, có những dự án đầu tư, Trung Quốc đưa cả công nhân của mình vào, giành mất công việc của công nhân Việt Nam, dự án khai thác quặng nhôm ở Tây Nguyên là một ví dụ điển hình. Những phân tích kinh tế cho thấy rằng Trung Quốc đã dùng việc đầu tư vào Việt Nam là một phần nằm trong chiến lược “hạ sơn” (going out) để thực tập việc mở rộng thị trường cho tư bản tư nhân hoặc của các SOE của Trung Quốc mà thôi, hoặc để tăng cường mạng lưới tiếp cận thị trường cho các doanh nghiệp Trung Quốc, và chủ trương đó chắc chắn gây một áp lực cạnh tranh lớn lên các doanh nhân VN yếu vốn và non kinh nghiệm. Các hình thức viện trợ của Trung Quốc cho VN cũng chỉ là một dạng thức trợ cấp trá hình cho các công ty quốc doanh (SOEs) của Trung Quốc; nghĩa là Trung Quốc dùng chuyển số tiền viện trợ cho một SOE của mình để công ty đó qua Việt Nam hoặc trùng tu một cơ sở sản xuất đã có trước kia trong chiến tranh hoặc mở một chi nhánh doanh nghiệp mới tại Việt Nam.

    BẢNG 2. Ý NGHĨA CỦA MẬU DỊCH TRUNG QUỐC - VIỆT NAM

    Năm Xuất cảng ($ million) Nhập cảng($ million) Bách phân trong tổng mậu dịch của Trung Quốc Bách phân trong tổng mậu dịch Việt Nam
    1991 21 11 0.02 0.7
    1994 342 191 0.2 5.4
    1997 1,079 357 0.4 6.3
    2000 1,537 929 0.5 8.2
    2003 3,179 1,456 0.5 10.3
    2005 5,639 2,549 0.6 12.0

    Source: IMF (various years).

    Điểm đáng chú ý khác là mậu dịch qua vùng biên giới Hoa-Việt ở phía Bắc. Một trong những vấn đề đáng lo ngại là việc buôn lậu đủ các loại hàng hoá mà không có một biện pháp kiểm soát nào hữu hiệu được áp dụng. Trong các mặt hàng buôn lậu có cả buôn người và buôn lúa gạo. Có nguồn tin ước tính rằng hàng năm có đến chừng 700,000 tấn gạo buôn lậu qua biên giới Trung Quốc! Đây cũng là đầu cầu để khi cần Trung Quốc có thể phát tán tiền giả vào VN như đã được làm trước đây vào những năm 1980s. Người ta cũng ngay cả không nắm vững được con số chính xác của tổng trị giá khối lượng giao dịch giữa các tỉnh biên giới của hai bên như Lạng Sơn, Cao Bằng, Quảng Ninh, Vân Nam, Quảng Tây..v.v…là bao nhiêu. Năm 2009 có chừng gần 5 triệu người qua lại mua bán ở vùng biên giới Phòng Thành. Số người này buôn bán theo kiểu trao đổi (barter), và tất nhiên chẳng có thuế má gì cả! Lưu lượng ước tính chính thức đối với mậu dịch qua lại giữa Phòng Thành và Móng Cái năm 2008 lên đến 4.1dollars! Rõ ràng mậu dịch qua biên giới là một phương cách khéo léo của Trung Quốc nhằm vào hai mục đích: một là giúp nuôi sống các tỉnh Quảng Tây, Vân Nam rất nghèo và kém phát triển mà chính phủ trung ương Bắc Kinh chưa có điều kiện để tài trợ; hai nữa là dùng biên giới Hoa - Việt làm cửa ngõ mở rộng mậu dịch xuống vùng ĐNA phục vụ cho nhu cầu phát triển của kỹ nghệ nội địa Trung Quốc.

    Điểm khác nữa ít ai lưu ý là vai trò của người Hoa trong nền kinh tế Việt Nam hiện nay. Theo ông Gabriel Kolko, tác giả của hai quyển sách về Việt Nam khá nổi tiếng là Việt Nam: Anatomy of War và VN: Anatomy of Peace thì một ước tính cho thấy rằng ở Miền Nam Việt Nam hiện nay người Hoa, dưới hình thức này hoặc hình thức khác, đang làm chủ đến gần 60% cơ sở sản xuất kỹ nghệ nhẹ! Phần đông số người Hoa này trước đây bị trục xuất khỏi Việt Nam trong những năm 1977-1980; nhưng sau đó dưới chính sách Đổi Mới lại được cho trở lại Việt Nam và ngay cả được trả lại tài sản để tiếp tục sinh sống! Trước năm 1975, ai cũng biết là người Hoa ở Chợ Lớn nắm quyền thao túng thị trường lúa gạo toàn Miền Nam. Chính phủ VNCH trước 1963 đã ra lệnh cấm người Hoa không được làm một số nghề. Sau 1963, đã có một vị Thủ Tướng trẻ của Miền Nam xử bắn nơi công cộng một đại thương gia Hoa kiều vì tội đầu cơ lúa gạo. Đặc điểm của người Hoa ở Việt Nam là họ luôn tự xem mình là người Hoa. Năm 1975, họ đã dương ảnh Mao Trạch Đông để chào đón Bộ đội Việt Nam tiến vào SG-Chợ Lớn. Khi ra hải ngoại, họ không bao giờ chịu thừa nhận cờ Việt Nam, họ hoặc xin chào cờ Thanh Thiên hoặc cờ Ngũ Tinh! Với tinh thần dân tộc đó của người Hoa, người ta không thể không nghi ngờ rằng Trung Quốc đang dùng Hoa kiều để xâm chiếm Việt Nam về phương diện kinh tế, hoặc chí ít cũng dùng họ như là Đạo quân Thứ Năm trong quan hệ Hoa - Việt.

    Tóm lại Trung Quốc, do ưu thế tuyệt đối về kỹ nghệ và tài chánh, đã nỗ lực biến Việt Nam thành thị trường cung cấp nguyên nhiên liệu, thị trường tiêu thụ hàng kỹ nghệ đang lên, đầu cầu đi vào ĐNA của doanh nghiệp, và giúp góp phần vào sự phát triển các tỉnh lạc hậu Quảng Tây, Vân Nam. Nghĩa là biến Việt Nam thành một thứ sân sau của nền kinh tế Trung Quốc. Đồng thời, Trung Quốc cũng dùng kinh tế như một lợi khí để chi phối chính trị Việt Nam; đặc biệt là dùng kinh tế như một vũ khí, phối hợp với chiêu bài “xã hội chủ nghĩa anh em”, kín đáo uy hiếp, lung lạc và gây chia rẽ trong giới cầm quyền ở Hà Nội.

    (còn tiếp)

    Chủ đề: Đối ngoại

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    0 phản hồi