Trương Đình Trung - Biển Đông và quan hệ Việt - Mỹ - Trung (2)

  • Bởi Admin
    09/09/2010
    1 phản hồi

    Trương Đình Trung

    Ảnh hưởng của Trung Quốc trên thế giới

    Trung Quốc đã biết vận dụng một cách rất khéo léo sức mạnh kinh tế của mình vào lãnh vực ngoại giao, gia tăng uy tín và ảnh hưởng của mình trên trường quốc tế, dần dần vượt qua các cường quốc khác như Nga, Anh, Đức, Pháp và đang ngày càng trở nên một đối thủ đáng ngại của Mỹ.

    Ngay lúc những dòng này được viết ra thì tổng khối lượng kinh tế của Trung Quốc đã vượt Nhật Bản để trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới, chỉ đứng sau có Mỹ, với tổng GDP lên đến 1,330 tỉ dollars trong tam cá nguyệt thứ hai của năm 2010 này, trong lúc GDP của Nhật trong cùng thời kỳ là 1,280 tỉ dollars. Cả năm 2009 thì GDP của Trung Quốc là 4,900 tỉ dollars; Nhật bản là 5,067 tỉ, và Mỹ là 14,256 tỉ dollars.

    Số liệu của năm 2007 cho thấy, trị giá xuất cảng của Trung Quốc ra toàn thế giới đã vượt qua Mỹ: 1,218 tỉ dollars so với 1,162 tỉ dollars. Tổng trị giá đầu tư nước ngoài (FDI) của TQ tính đến năm 2007 lên đến gần 100 tỉ dollars. Năm 2008 tổng trị giá mậu dịch của Mỹ đối với Trung Quốc là 433 tỉ dollars, trong đó nhập khẩu là 348 tỉ và xuất khẩu chỉ có 86 tỉ dollars. Nghĩa là Mỹ đã bị khiếm hụt mậu dịch với Trung Quốc đến 262 tỉ dollars. Trung Quốc hiện là chủ nợ lớn nhất của Mỹ, nghĩa là nước đang mua nhiều các công khố phiếu dài hạn của nước này, theo số liệu mới đây là đến hơn 867 tỉ dollars, chưa kể khoảng hơn 400 tỉ ngân phiếu Trung Quốc mua từ hai công ty tài trợ địa ốc do chính phủ Mỹ đỡ đầu là Fannie Mae và Freddie Mac! Tổng cộng Mỹ đang nợ của Trung Quốc gần 1,300 tỉ dollar!

    Những số liệu trên nói lên sức mạnh kinh tế lớn lao hiện nay của Trung Quốc, và Trung Quốc đã xử dụng sức mạnh kinh tế để đó gây ảnh hưởng đối với các quốc gia khác thông qua các công cụ: Đầu tư, viện trợ nhân đạo, các chương trình trao đổi văn hoá, tham gia các dự án song phương hay đa phương, và ngoại giao. Người ta thường gán cho chính sách đối ngọai của Trung Quốc là thuộc về dạng Soft Power Diplomacy, một từ được dùng đầu tiên bởi Joseph Nye, cựu phụ tá bộ trưởng Quốc phòng và Viện trưởng Havard, tác giả quyển sách nổi tiếng ra năm 2004 Soft Power: the Mean to Success in World Politics. Vắn tắt thì soft power là dùng sự thuyết phục thay cho cưỡng ép (persuasion rather than coercion), tìm cách gây ảnh hưởng thông qua trao đổi văn hoá, viện trợ kinh tế với điều kiện dễ dàng, đầu tư, tham gia các hoạt động đa quốc gia, tránh không áp đặt một cách thô bạo các giá trị lý tưởng như dân chủ-nhân quyền lên các nước khác, không phê phán công việc nội bộ kẻ khác.

    Trung Quốc cũng đã cố gắng gây dựng một hình ảnh đẹp về mình đối với dân chúng khắp thế giới thông qua các hoạt động trao đổi văn hoá, dạy tiếng Hoa, giúp huấn luyện các viên chức hành chánh ,và ngay cả giúp đào tạo thông tín viên truyền thông cho các quốc gia đang phát triển. Hiện Trung Quốc đã thiết lập hơn 500 Viện Khổng Tử (Confucius Institutes) ở tại hơn 70 quốc gia trên thế giới để giới thiệu nét đặc trưng văn hoá của mình. Hàng ngàn trường dạy tiếng Hoa được chính phủ Trung Quốc trợ cấp mở ra tại nhiều nước trên thế giới. Từ nhiều năm qua số lượng học sinh các nước ghi danh học tại các đại học Trung Quốc đã gia tăng rất nhanh. Như Indonesia hiện có số du học sinh học tại Trung Quốc bằng với số du học sinh học ở Mỹ. Nhiều du học sinh hoặc nhận được giúp đỡ tài chánh, hoặc được những học bổng hào phóng của Bắc Kinh trong thời gian du học tại Trung Quốc. Thái Lan hiện cũng gởi nhiều du học sinh qua Trung Quốc học hơn là gởi qua Mỹ. Nhiều viên chức Thái Lan lại còn công khai tỏ ra hảnh diện về tổ tiên gốc Trung Hoa của mình. Ngay cả Philippines, trước là thuộc địa và sau này là đồng minh của Mỹ, hiện cũng đang có khuynh hướng ngã theo TQ; nhất là từ năm 2005 sau khi Philippines rút quân tham chiến ở Iraq về và quan hệ với Mỹ trở nên lạnh nhạt từ đó. Philippines cũng là nước duy nhất trong khối ASEAN công khai, ngay sau tuyên bố của ngoại trưởng Clinton, không ủng hộ sự dính líu của Mỹ vào các tranh chấp ở Biển Đông.

    a- Đối với Đông Nam Á

    Trung Quốc đã chọn Đông Nam Á làm mục tiêu đầu tiên cho việc mở rộng ảnh hưởng của mình vào ĐNA, và sau đó ra các nơi khác. Trung Quốc đã tìm cách gia tăng các hoạt động mậu dịch và tài chánh đối với các nước trong vùng; đặc biệt nhất là đối với những đồng minh truyền thống của Mỹ, cố tìm cách để trung hoà ảnh hưởng kinh tế của Mỹ đối với các quốc gia đó với những thủ đọan tài chánh tinh vi. Như cách đây mấy ngày, Trung Quốc đã ký với Singapore, một trung tâm của thị trường tài chánh Á châu, thành lập một quỹ trao đổi tiền tệ trị giá 150 tỉ nhân dân tệ (hơn 22 tỉ dollars). Mục đích chính của quỹ đó là giúp giới nhập cảng của các quốc gia trong khu vực có thể nhập cảng hàng Trung Quốc dùng đồng nhân dân tệ mà không phải xử dụng dollars làm tiền tệ trung gian trong giao dịch quốc tế. Trước đó, Trung Quốc cũng đã thành lập những quỹ tương tự như vậy với Thái Lan, và đề nghị với nhiều nước khác. Rõ ràng các loại quỹ như vậy (gọi là currency swaps) nếu được áp dụng mở rộng sẽ giúp gia tăng ảnh hưởng kinh tế của Trung Quốc, đồng thời đẩy lùi vai trò tiền tệ quốc tế của đồng dollars.

    Trung Quốc cũng đã thành công trong việc thành lập khu vực tự do mậu dịch (Free Trade Area) với khối ASEAN. Mức độ trao đổi mậu dịch giữa hai bên, Trung Quốc & ASEAN, trong khoảng từ năm 2001 đến 2009, đã tăng từ 41.6 tỉ lên đến 213 tỉ dollars; với đà đó thì đến năm 2012 mậu dịch của Trung Quốc sẽ vượt quá mậu dịch của Mỹ đối với khối ASEAN. Năm ngoái Trung Quốc cũng đã cùng với ASEAN thành lập một quỹ hợp tác đầu tư trị giá 10 tỉ dollars dùng cho các dự án về hạ tầng cơ sở, năng lượng, kỹ thuật tin học và viễn thông.

    Trung Quốc cũng gia tăng viện trợ cho các quốc gia trong Vùng, như Lào, Campuchia, Miến Điện. Viện trợ cho các nước này thường tập trung vào các dự án xây dựng hạ tầng cơ sở như đường sá, cầu cống, bến cảng và các cơ sở năng lượng. Lối viện trợ của Trung Quốc có những điểm hấp dẩn khác xa với lối viện trợ thường có của các quốc gia Âu - Mỹ. Trước hết, những viện trợ cho các công trình xây dựng hạ tầng cơ sở dễ gây những ấn tượng tốt cho dân chúng ở các nước nhận viện trợ; tuy rằng trên thực tế việc xây dựng cầu đường bến cảng mang lại nhiều lợi ích, không chỉ cho dân địa phương, mà còn cho cả việc vận chuyển và thu mua nguyên nhiên liệu của Trung Quốc. Chẳng hạn việc xây dựng bến cảng và con đường nối từ bến cảng đó của Myanmar lên tới Vân Nam mang lại rất nhiều thuận tiện cho việc vận chuyển dầu hoả Trung Quốc mua từ Trung Đông về, nhưng bề ngoài các công trình giao thông đó lại rất được lòng của người Miến Điện, và cũng đã giúp Trung Quốc tuyên truyền ảnh hưởng của mình đối với dân chúng các nước lân cận. Mặt khác, viện trợ của Trung Quốc lại không đặt các điều kiện về nhân quyền và dân chủ như các viện trợ của các quốc gia Âu - Mỹ thường có đối với các quốc gia nhận viện trợ. Trung Quốc chỉ thường đặt hai điều kiện khá dễ dàng: không thừa nhận Đài Loan như một quốc gia độc lập, và ủng hộ cho Trung Quốc tại các diễn đàn quốc tế, nhất là tại Liên Hiệp Quốc. Ngoài ra, Trung Quốc luôn tuyên bố không can thiệp vào các vấn đề nội bộ của nước nhận viện trợ. Những năm về sau này mậu dịch của Trung Quốc đối với ASEAN đã bắt kịp và vượt cả Mỹ. Như trong bảng sau đây cho thấy là từ năm 1995 đến năm 2008 lượng mậu dịch của Trung Quốc đối với khối ASEAN đã gia tăng rất nhanh. Bổng chốc, ASEAN trở thành một thị trường xuất nhập khẩu quan trọng của Trung Quốc. Số liệu trong Bảng 1 nói lên sự gia tăng rất nhanh tỉ trọng mậu dịch, và cùng với nó là ảnh hưởng, của TQ đối với khối ASEAN. Trong khi đó, ASEAN không phải là không quan trọng đối với Mỹ. Với mức xuất cảng hơn 68 tỉ dollars, ASEAN vẫn là một thị trường lớn của Mỹ; nhất là trong giai hiện nay khi mà xuất cảng là ưu tiên hàng đầu đóng góp vào việc phục hồi kinh tế. Mặt khác, ASEAN còn là thị trường đầu tư lớn của Mỹ, số liệu năm 2007 cho biết tổng FDI (Foreign Direct Investment) của Mỹ vào thị trường này lên đến 130 tỉ dollars, lớn hơn cả đầu tư vào TQ và Ấn Độ.

    BẢNG 1. - MẬU DỊCH TRUNG QUỐC & MỸ VỚI KHỐI ASEAN

    1995 2008 Bách phân thay đổi
    China xuất cảng qua ASEAN 10,474 * 114,139 * 989.7%
    US xuất cảng qua ASEAN 39,676* 68,151* 71.8%
    China nhập cảng từ ASEAN 9,901* 116,933* 1081%
    US nhập cảng từ ASEAN 62,176* 110,157* 77.2%

    *Tính bằng triệu dollars.

    Riêng đối với Biển Đông, từ lâu Trung Quốc đã không ngừng nổ lực khoanh các vấn đề tranh chấp ở Biển Đông lại trong phạm vi khu vực, chỉ riêng giữa Trung Quốc và các nước trong khối ASEAN mà thôi, và ngay cả chỉ muốn giải quyết tay đôi giữa Trung Quốc và nước liên quan. Do áp lực ngày càng tăng của khối ASEAN, dần dà Trung Quốc đành chấp nhận nêu các vấn đề tranh chấp tại các hội nghị đa phương của khối đó. Mục tiêu chính của Trung Quốc là không có sự can dự cuả một cường quốc từ bên ngoài khu vực; chính yếu là từ Mỹ (external powers). Suốt mấy thập niên qua, Trung Quốc đã tìm đủ mọi cách để gây ảnh hưởng với khối ASEAN. Cử chỉ đẹp đầu tiên là trong vụ khủng hoảng tài chánh Á Châu năm 1997-98, trong khi giới đầu tư và các hedge funds của Mỹ và Âu Châu tháo chạy gây ra sụp đổ tài chánh bắt đầu từ Thái Lan sau đó lan sang các nước Malysia, Indonesia, Nam Hàn, Hồng Kông, Philippines,v.v... thì Trung Quốc đã chìa tay giúp bằng cách kìm giữ đồng Nhân Dân tệ, gia tăng tín dụng, ưu đãi thuế quan, tạo điều kiện tài chánh và mậu dịch thuận lợi cho các quốc gia đó giảm thiểu hậu quả của cuộc khủng hoàng và thúc đẩy sự phục hồi. Sau lần đó, ảnh hưởng Trung Quốc đối với ASEAN gia tăng, đôi bên dần dần đồng ý hình thành khu vực mậu dịch tự do Trung Quốc - ASEAN dự trù thực hiện vào năm 2010 này. Trung Quốc cũng tìm cách gây ảnh hưởng với diễn đàn APEC và khéo léo tìm cách loại dần Mỹ ra khỏi tổ chức này. Lưu lượng mậu dịch, và cùng với nó là quan hệ kinh tế, của Trung Quốc đối với khối ASEAN và các nước Á Châu gia tăng rất nhanh, đã có dấu hiệu là ảnh hưởng kinh tế của Trung Quốc ngày càng đẩy lùi ảnh hưởng của Mỹ. Ngay cả Nhật Bản, rồi Nam Hàn cũng đang ngày càng có tỉ trọng mậu dịch nghiêng dần về phía Trung Quốc. Tóm lại, mục tiêu chiến lược đầu tiên của Trung Quốc là đẩy lùi ảnh hưởng của Mỹ ra khỏi ĐNA, và sau nữa, khỏi Á Châu; ngăn cản sự dính líu của Mỹ vào các tranh chấp ở khu vực này, để chỉ còn Trung Quốc là cường quốc duy nhất đóng vai trọng tài trong các xung đột địa phương. Mặt nào đó, Trung Quốc muốn khôi phục lại địa vị của đế quốc Trung Hoa trước kia, thời mà dưới vòm trời (thiên hạ) thì nước của người Hán là ở trung tâm (trung quốc), vây quanh là các chư hầu phiên thuộc như An Nam, Cao Ly, Nhật Bản.v.v...Vừa là khôi phục mà cũng vừa là rửa mối nhục bị liệt cường phương Tây xâu xé trong gần cả thế kỷ trước đây.

    b- Đối với Phi Châu

    Với cung cách như vậy, viện trợ, và cùng với nó là ảnh hưởng, của Trung Quốc trở nên rất hấp dẫn đối với, không chỉ các quốc gia nghèo ở ĐNA, mà cả với các quốc gia khác ở Phi Châu và Mỹ Latin. Không ngạc nhiên là các quốc gia Phi Châu, như Nigeria, Yemen, Zimbabwea, Sudan, v.v… đã ngày càng có quan hệ mật thiết với Trung Quốc hơn với Âu-Mỹ. Một trong những điểm chính yếu, là khác với Âu-Mỹ, Trung Quốc trong khi giao thiệp với các quốc gia đó đã không đả động gì đến những nhược điểm thiết thân của chế độ chính trị của họ như sự độc tài, vi phạm nhân quyền, tham nhũng hoặc ô nhiễm môi trường. Trung Quốc chỉ luôn tuyên bố là tôn trọng chủ quyền và sự vẹn toàn lãnh thổ của họ, và bất can thiệp vào nội bộ của nhau. Chủ trương đó của Trung Quốc đã có một sức hấp dẫn đặc biệt đối với các quốc gia đang phát triển thường có chế độ độc tài, quân phiệt, do một thiểu số cai trị, và là những quốc gia thường hay bị các quốc gia Âu-Mỹ lên án vì thiếu dân chủ, có những vi phạm nhân quyền trầm trọng, điều kiện làm việc không an toàn và không quan tâm đến vấn đề môi trường.

    Trung Quốc cũng tích cực đóng góp lực lượng duy trì của Liên Hiệp Quốc. Về mặt này, Trung Quốc chỉ đứng thứ hai sau Pháp. Trung Quốc đẩy mạnh các viện trợ nhân đạo và y tế cho nhiều quốc gia, như đã gởi đến 15,000 bác sĩ đến giúp tại hơn 47 quốc gia ở Phi Châu và đã chăm sóc cho hơn 180 triệu bệnh nhân ở đó. Chỉ riêng tại Yemen, trong 40 năm qua, Trung Quốc đã gởi hơn 2000 chuyên viên y tế đến giúp quốc gia này trong vấn đề chăm sóc sức khỏe cho dân chúng tại đó trong những cơn tai biến. Đổi lại Trung Quốc đã được nhiều ưu tiên trong thị trường dầu hoả tại Yemen trong nhiều thập niên qua. Cũng cần thêm rằng Phi Châu là nơi cung cấp đến 30% lượng dầu nhập cảng của Trung Quốc. Trung Quốc trong hơn hai thập kỷ qua là cường quốc đã hoặc cho Phi Châu vay nhiều nợ với lãi suất ưu đãi (concessionary loans), hoặc tha nợ nhiều nhất, thông qua China Import-Export Bank, và viện trợ nhiều cho các lãnh vực hạ tầng cơ sở, thực phẩm và y tế. Dưới con mắt của nhiều giới lãnh đạo Phi Châu thì Trung Quốc đã đối xử với họ một cách bình đẳng và tôn trọng chủ quyền, không can thiệp vào chuyện nội bộ của họ. Có thể nói rằng Trung Quốc đã thành công đáng kể trong nổ lực tranh giành ảnh hưởng với Mỹ ở Phi Châu.

    Trong những thập niên vừa qua, Trung Quốc cũng đã nổ lực xâm nhập, gây ảnh hưởng vào các quốc gia Nam Mỹ, nổi bật nhất là với Venezuela, Brazil. TQ đã tìm cách khai thác những mâu thuẩn lâu đời giữa Hoa Kỳ và các quốc gia Nam Mỹ để thiết lập các quan hệ kinh tế và gia tăng ảnh hưởng của mình. Từ khi Giang Trạch Dân thăm viếng vào năm 2001 đến nay, Trung Quốc đã gia tăng lượng đầu tư vào Nam Mỹ. Chỉ riêng về hạ tầng cơ sở, Trung Quốc đã đầu tư vào Brazil 8 tỉ dollars, gần 20 tỉ vào Argentina, chừng gần 2 tỉ dollars vào Venezuela; và hàng trăm triệu vào các quốc gia khác trong vùng. Trung Quốc đã tìm thấy ở Nam Mỹ như là thị trường tốt cho các sản phẩm của Trung Quốc và cho nhu cầu về dầu hoả, quặng sắt, và quặng đồng rất cần cho nền kinh tế của mình. Trung Quốc cũng hợp tác rất chặt chẻ với Venezuela và Cuba trong lãnh vực tin học và sinh học.

    c- Đối với Trung Đông

    Hiện nay Mỹ phải nhập đến 27% nhu cầu dầu hỏa từ Trung Đông. Trung Quốc lại nhập đến 50% nhu cầu dầu hoả cho sự phát triển kinh tế của mình từ vùng đó. Nhưng Trung Đông lại là địa bàn chiến lược sinh tử của Mỹ, như cựu Tổng Thống Carter trước đây đã từng tuyên bố năm 1980: “Bất cứ toan tính của một lực lượng bên ngoài nào nhằm kiểm soát vùng Vịnh sẽ bị coi như là một hành động tấn công vào quyền lợi sống còn của Mỹ, sẽ bị đẩy lùi bằng mọi phương cách cần thiết, kể cả bằng quân sự”.(Any attempt by any outside force to gain control of the Persian Gulf region will be regarded as an assault on the vital interest of the US. It will be repelled by use of any means necessary including military force).

    Thượng Nghị Sĩ Dân Chủ Henry Jackson cũng từng nói rằng: “Những đe doạ đối với sự liên tục của dòng dầu hỏa từ vùng Vịnh là hết sức nguy hiểm cho nền kinh tế của Tây Phương và Nhật Bản đến mức có thể gây ra đại chiến” (Threats to the continuous flow of oil through the Gulf would so much endanger to the Western and Japanese economies as to be grounds for general war).

    Tuy nhiên mức cương quyết đó của Mỹ chưa hẳn đã làm Trung Quốc nản lòng. Do nhu cầu sống chết về dầu hoả, Trung Quốc đã cố gắng tìm nhiều cách lách qua lá chắn của Mỹ để mở rộng quan hệ với các quốc gia giàu có về dầu hoả ở Trung Đông. Có lẽ không mấy ai chú ý rằng chính một trong những nổ lực thâm nhập vào vựa dầu hoả Trung Đông của Trung Quốc đã góp phần khai mào việc Mỹ tấn công Iraq năm 2003.

    Trữ lượng dầu hoả của Iraq lớn đứng hàng thứ hai trên thế giới chỉ sau Saudi Arabia. Ưu điểm của dầu hoả Iraq là dễ khai thác, giá thành thấp hơn các nơi khác và phẩm chất cao. Ngoài ra, Iraq còn có nhiều vùng có tiềm năng lớn về dầu hoả, nhưng chưa được thăm dò. Nhiều chuyên gia dự đoán rằng nếu thăm dò hết toàn bộ lãnh thổ thì có khả năng trữ lượng dầu của Iraq còn lớn hơn trữ lượng 250 tỉ thùng của Saudi Arabia. Vì những lẽ đó Iraq trở nên một nơi rất hấp dẩn đối với nhiều nước và các công ty dầu hoả, trong đó có Trung Quốc. Saddam Hussein, trong giai đoạn đang còn bị LHQ cấm vận, đã dự trù việc khai thác nguồn tài nguyên dầu hoả đó, với những kế hoạch sản xuất lớn, một khi việc cấm vận kết thúc. Khác với thông lệ ở Trung Đông, Saddam dự trù áp dụng quy chế Production Sharing Agreement (PSA) vào việc sản xuất dầu ở Iraq sau khi hết cấm vận; theo đó chính phủ Iraq sẽ không độc quyền sỡ hữu các mỏ dầu, mà để cho các công ty dầu hoả ngoại quốc được ký khế ước khai thác dầu và ăn chia lợi tức với Iraq. Saddam Hussein đã khéo léo dùng miếng mồi dầu hoả đó vào việc vận động các cường quốc trong Hội Đồng Bảo An LHQ: Pháp, Nga, Trung Quốc sớm bỏ cấm vận cho Iraq.

    Trung Quốc, với công ty dầu quốc doanh CNOC (China National Oil Corporation), đã không bỏ lỡ cơ hội, ngay từ năm 1997, khi sự cấm vận vẫn đang diễn ra, đã ký kết được với Saddam Hussein nhiều hợp đồng PSA để khai thác dầu hoả tại một số mỏ dầu lớn ở Iraq; hai mỏ lớn là Al-Ahdab và Halfayah, ở phía Đông Iraq, với công suất lên đến cả 500,000 thùng/ngày! Ngoài ra, Trung Quốc, thông qua công ty viễn thông Huawei Technologies, vi phạm lệnh cấm vận của LHQ, trong nhiều năm đã cung cấp nhiều phương tiện thông tin tối tân, giúp Iraq xây dựng và nâng cấp hệ thống viễn thông dùng sợi thuỷ tinh quang học (fiber-optic communication network). Sự tích cực xâm nhập của Trung Quốc vào Iraq, một vựa dầu quan trọng ở Trung Đông, là vùng, như lời của cựu Tổng thống Carter, đã được trích dẫn ở trên, mang lợi ích sống còn (vital interests) của Mỹ, đã khiến Mỹ phản ứng tối đa, dẫn đến cuộc chiến Iraq năm 2003; một cuộc chiến mà ngay như nhân vật không đảng phái là Alan Greenspan cũng đã phải thốt lên: “I am saddened that it is politically inconvenient to acknowledge what everyone knows: the Iraq war is largely about oil”( Thật đáng buồn rằng nó là một bất tiện về mặt chính trị để thừa nhận điều mà ai cũng biết rồi: chiến tranh Iraq phần chính là về dầu hoả).

    Sau Iraq, quốc gia quan trọng ở Trung Đông mà Trung Quốc tìm cách kết thân là Iran. Chính tại Iran mà sự khác biệt về chính sách của Trung Quốc đối với Mỹ trở nên gay gắt. Từ nhiều năm qua, trong tư cách một trong năm thành viên thường trực của Hội Đồng Bảo An LHQ (UNSC) có quyền phủ quyết, Trung Quốc đã nhiều lần bày tỏ lập trường trái với quan điểm của Mỹ. Nỗ lực của Mỹ và Âu Châu để vận động tổ chức việc cấm vận Iran thường xuyên gặp phải sự cản trở từ Nga và Trung Quốc; nhất là từ Trung Quốc. Đáp ứng đề nghị cấm vận của Mỹ, Trung Quốc thường kêu gọi đàm phán với Iran để thuyết phục Iran chấp nhận phát triển năng lượng nguyên tử cho mục đích hoà bình dưới sự giám sát của IAEA (Cơ quan Năng lượng Quốc tế). Sau một thời gian dài, với nhiều thôi thúc từ Mỹ, Anh, Pháp, cuối cùng tháng 6/2010 Trung Quốc miễn cưỡng đồng ý ký nghị quyết UNSCR 1929 cấm vận Iran nhắm chính yếu vào các lãnh vực quân sự và tài chánh. Nhưng cùng với việc ký kết nghị quyết cấm vận, Trung Quốc cũng lên tiếng đòi hỏi rằng việc cấm vận phải không nên gây ảnh hưởng đến đời sống bình thường của dân chúng Iran và không cản trở các nổ lực ngoại giao tiếp theo.

    Tuy đồng ý ký kết vào nghị quyết cấm vận của Hội Đồng Bảo An LHQ, nhưng Trung Quốc vẫn tiếp tục duy trì quan hệ kinh tế gắn bó riêng với Iran, đặc biệt là trong hai lãnh vực xây dựng và năng lượng. Trong khi các công ty Tây Phương, do sự cấm vận, ngưng hoạt động doanh nghiệp và rời khỏi thị trường Iran, hàng trăm công ty của Trung Quốc đã nhảy vào thay chân. Trung Quốc đã trở nên đối tác lớn nhất của Iran với khối lượng mậu dịch năm 2009 lên đến hơn 21 tỉ dollars, so với chỉ hơn 400 triệu dollars 15 năm trước đó. Điều đó nói lên sự tiến triển vượt bực trong quan hệ mậu dịch giữa hai quốc gia. Riêng về lãnh vực năng lượng không thôi, Iran bán cho Trung Quốc trung bình gần nửa triệu thùng dầu một ngày, thu chừng 15 tỉ dollars/năm. Tuy là nước sản xuất dầu hoả, nhưng do kỹ thuật lọc dầu kém, Iran thường phải nhập cảng xăng dầu từ nước ngoài, và đó là nhược điểm của Iran mà việc cấm vận của Mỹ nhắm vào. Nhưng Trung Quốc lại là quốc gia vẫn tiếp tục cung cấp xăng dầu cho Iran, đáp ứng đến 1/3 tổng nhu cầu xăng dầu của Iran. Cách đây mấy hôm Trung Quốc lại ký một hợp đồng trị giá 1 tỉ dollars xây dựng công trình hoá dầu cho Iran. Nghĩa là Trung Quốc đã công khai giảm nhẹ hiệu năng cấm vận của Mỹ đối với Iran. Việc này và cùng với sự cố ý dung dưỡng Bắc Hàn có lẽ đã khiến Tổng thống Obama có lời lẽ mạnh mẽ đối với Chủ tịch Hồ Cẩm Đào tại hội nghị G20 vừa qua khi hai bên hội kiến.

    Về mặt ngoại giao, Iran đã được TQ mời tham gia họp với tổ chức Hợp tác Thượng Hải (Sanghai Cooperation Organization, SCO), một tổ chức khu vực gồm Nga, Trung Quốc, và các quốc gia Trung Á, được lập ra trong cố gắng hạn chế ảnh hưởng của Mỹ vào Trung Á.

    d- Đối với Âu Châu

    Ngay cả ở Âu Châu, Trung Quốc cũng đã tìm cách can thiệp vào, ngấm ngầm đối chọi với Mỹ, gây thiện cảm với các nước nhỏ để lôi kéo đồng minh. Trong cuộc tranh chấp ở Kosovo, toà đại sứ của Trung Quốc ở Belgrade đã bị hoả tiển của Mỹ bắn phá chỉ vì có tin tình báo cho biết là Trung Quốc đã ngầm hổ trợ cho Slobodan Milosevic và dùng điện đài của toà đại sứ để giúp quân Serbia chuyển tiếp mệnh lệnh.

    Tóm lại, sự thành công của việc thực thi 4 hiện đại hoá, kinh tế của Trung Quốc đã phát triển rất nhanh với một tốc độ chóng mặt, vượt qua nhiều quốc gia khác, kể cả Nhật Bản, đến nay trở thành nền kinh tế lớn thứ hai chỉ sau Mỹ. Cùng với sự lớn mạnh về kinh tế, là sự gia tăng về địa vị và ảnh hưởng trên phạm vi thế giới, đến mức đang trở thành kẻ thách thức đối với ngôi vị siêu cường số một thế giới của Mỹ. Càng ngày càng có bằng chứng là Trung Quốc không vươn lên một cách hoà bình. Từ Á châu, qua Trung Đông, qua Mỹ Latin, rồi Âu Châu và trên các diễn đàn quốc tế, ở đâu người ta cũng thấy là Trung Quốc đang tìm cách gây dựng ảnh hưởng cho mình và tranh cường với Mỹ. Đã và đang có nhiều dự đoán về sự đối đầu khó tránh khỏi giữa Mỹ, cường quốc bá chủ cả thế giới từ sau Đệ Nhị Thế chiến đến nay, và Trung Quốc một siêu cường đang lên mà mức độ tăng trưởng kinh tế vẫn chưa có dấu hiệu chậm lại. Những va chạm sơ khởi trên Biển Đông của vụ tàu USNS hồi tháng 3/2009 Impeccaple và những sự kiện đang xảy ra trong những ngày vừa qua ở vùng Biển Vàng quanh bán đảo Triều Tiên có vẻ như khẳng định mức chính xác của dự đoán vừa nói. Lời tuyên bố vừa rồi của Ngoại trưởng Mỹ về quốc tế hoá các tranh chấp trên Biển Đông, tiếp ngay với phản ứng mạnh mẽ từ phía bộ trưởng ngoại giao Trung Quốc, lại càng khiến cho người ta tin rằng dự đoán về sự đối đầu Trung-Mỹ đang trở nên hiện thực.

    (còn tiếp)

    Chủ đề: Đối ngoại

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    1 phản hồi

    Báo chí Nhật cũng quan tâm đến vấn đề biển Đông với quan điểm :

    - Trung Quốc kiểm soát Biển Đông để chiếm hữu tài nguyên và ngăn chặn hải quân Mỹ
    - Biển Đông là nơi quốc tế sử dụng, không thuộc độc quyền của ai
    - Các nước cần hợp sức kéo Trung Quốc vào bàn hội nghị

    Trích dẫn:
    Sẽ là hợp lý khi tổ chức các cuộc đàm phán đa quốc gia giữa các nước có quyền lợi trong khu vực để thảo luận về phương cách giảm bớt căng thẳng và các biện pháp xây dựng lòng tin.

    Đàm phán song phương riêng rẽ là không logic khi việc tranh chấp là đa quốc gia quanh biển Đông và là đường hàng hải quốc tế

    TQ đưa ra arguments gì khi áp đặt đàm phán song phương riêng rẽ ?

    http://sgtt.vn/Thoi-su/Quoc-te/129170/Bao-Nhat-nen-buoc-Trung-Quoc-dam-phan-ve-bien-Dong.html

    Báo Nhật: nên buộc Trung Quốc đàm phán về biển Đông

    SGTT.VN - Các hành động của Trung Quốc phô trương sức mạnh để khẳng định chủ quyền tại Biển Đông đã làm tình hình căng thẳng và gây lo ngại cho các nước láng giềng, trong đó có Nhật Bản.

    Mới đây, trong bài xã luận tựa đề “Hợp tác quốc tế có ý nghĩa sống còn ở Biển Đông”, tờ báo Nhật Bản Yomiuri Shimbun đã kêu gọi các nước có quan ngại nên hợp tác với nhau để buộc Trung Quốc phải ngồi vào bàn hội nghị đa phương nhằm giảm căng thẳng tại Biển Đông.

    Yomiuri Shimbun là tờ báo lớn nhất tại Nhật Bản, rất có uy tín, với lượng phát hành hơn 10 triệu bản/ngày, cho nên ý kiến được nêu lên rất đáng quan tâm. Sau đây là bài xã luận.

    Trung Quốc đang sử dụng lực lượng hải quân hùng mạnh của mình để tiến vào Biển Đông, đầu mối quan trọng của các tuyến đường biển quốc tế. Mỹ và các nước châu Á ngày càng cảnh giác trước động thái của Trung Quốc.

    Bốc dỡ hàng tại cảng Kobe, Nhật. Hơn 90% năng lượng và 60% lương thực của Nhật Bản phải nhập khẩu bằng đường biển. Ảnh: Kobe port

    Ngày 16.8.2010, trong báo cáo hàng năm cho Quốc hội, bộ Quốc phòng Mỹ cho rằng “xu hướng hiện nay trong khả năng quân sự của Trung Quốc là một nhân tố chủ yếu làm thay đổi cán cân quân sự trong vùng Đông Á”, đề cập đến các động thái của Trung Quốc tại Biển Đông.

    Nhật Bản cũng không thể xem nhẹ các hành động của Trung Quốc, vì 90% năng lượng và 60% lương thực của Nhật Bản phải nhập khẩu bằng đường biển. Do vậy, Chính phủ Nhật Bản phải tăng cường hợp tác với Mỹ, Việt Nam, Ấn Độ và các nước khác có liên quan để giải quyết vấn đề.

    Trung Quốc kiểm soát Biển Đông để chiếm hữu tài nguyên và ngăn chặn hải quân Mỹ

    Biển Đông có hơn 200 hòn đảo và bãi đá ngầm rải rác, bao gồm cả quần đảo Trường Sa, là sân khấu cho một số tranh chấp lãnh thổ liên quan đến Trung Quốc, Việt Nam, Philippines, Malaysia và các nước khác.

    Trong những năm gần đây, Trung Quốc đã gây ra hiềm khích với các nước khác khi phái chiến hạm vào khu vực trên, viện cớ bảo vệ tàu thuyền đánh cá của họ. Trung Quốc đang xây dựng một căn cứ tàu ngầm lớn trên đảo Hải Nam ở vùng Biển Đông. Một loạt hành động như trên trong thời gian gần đây có thể được hiểu là nỗ lực của Bắc Kinh nhằm đặt toàn bộ Biển Ðông dưới quyền kiểm soát của Trung Quốc, không chỉ để bảo vệ quyền lợi về dầu hỏa và tài nguyên biển của họ, mà còn vì lý do quân sự, chẳng hạn như để ngăn chặn bất kỳ hành động can thiệp nào của lực lượng Mỹ trong trường hợp khẩn cấp liên quan đến Đài Loan.

    Biển Đông là nơi quốc tế sử dụng, không thuộc độc quyền của ai

    Tàu cá Trung Quốc bị phía Nhật bắt giữ ngày 7.9 tại quần đảo Senkaku trên biển Hoa Đông hôm 7.9. Ảnh: AFP

    Trung Quốc đã sử dụng khái niệm “lợi ích cốt lõi” liên quan đến chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ của họ khi đề cập đến Đài Loan và Tây Tạng. Gần đây, họ nói rằng cũng coi Biển Đông thuộc phạm vi “lợi ích cốt lõi” của họ, một động thái càng làm tăng những mối lo ngại về ý đồ có thể có của Trung Quốc đằng sau các hành động gần đây nhất.

    Biển Đông là nơi đi qua của các tuyến đường biển quốc tế quan trọng, nối liền Trung Đông với Đông Bắc Á. Không một nước nào được phép độc quyền sự di chuyển trong khu vực. Chúng tôi mạnh mẽ yêu cầu Trung Quốc tự kiềm chế.

    Việt Nam và các nước châu Á khác đang kêu gọi Trung Quốc giải quyết tranh chấp lãnh thổ thông qua thương lượng đa quốc gia. Nhưng Trung Quốc không muốn từ bỏ lập trường theo đó các nước có tranh chấp chủ quyền phải đàm phán song phương một cách riêng lẻ. Tuy nhiên, nếu tranh chấp lãnh thổ phát triển thành xung đột quân sự, chiến sự sẽ ảnh hưởng đáng kể đến tất cả các nước sử dụng tuyến đường biển của khu vực.

    Các nước cần hợp sức kéo Trung Quốc vào bàn hội nghị

    Trên cơ sở đó, sẽ là hợp lý khi tổ chức các cuộc đàm phán đa quốc gia giữa các nước có quyền lợi trong khu vực để thảo luận về phương cách giảm bớt căng thẳng và các biện pháp xây dựng lòng tin. Cũng có thể là một ý tưởng tốt khi đưa vấn đề này ra xem xét tại Hội nghị Thượng đỉnh Đông Á (EAS) cuối năm nay, mà Mỹ cũng đã có kế hoạch tham gia.

    Để thuyết phục Trung Quốc ngồi vào bàn đàm phán đa quốc gia, điều thiết yếu là các nước cùng chung một mối quan tâm phải hợp tác với nhau. Chính phủ Nhật Bản đã khởi động các cuộc đối thoại về một quan hệ đối tác chiến lược với Ấn Độ vào cuối năm ngoái và với Việt Nam trong tháng qua, với sự tham gia của các giới chức có thẩm quyền trong cả ngành ngoại giao lẫn quốc phòng. Chúng tôi yêu cầu chính phủ Nhật Bản chủ động tận dụng lợi thế của các cuộc đối thoại đó để phát huy những hành động chung nhằm giảm bớt căng thẳng ở Biển Đông