Ngô Nhân Dụng - Trung Quốc mất dần lợi thế kinh tế

  • Bởi Admin
    04/09/2010
    0 phản hồi

    Ngô Nhân Dụng

    Người ta rất dễ hiểu lầm nên sinh ra nhiều ảo tưởng về thực lực Trung Quốc, trong lãnh vực kinh tế cũng như quân sự. Gần đây có một nhà báo rất uy tín và không ưa gì Trung Quốc đã viết rằng trong mươi năm nữa sức mạnh quân sự của nước Tầu sẽ bằng nước Mỹ. Lầm to. Sức mạnh quân sự có thể đếm được bằng số tiền chi trong việc quốc phòng mà suy ra. Hiện nay ngân sách quốc phòng của Mỹ khoảng 700 tỷ Mỹ kim một năm, lớn bằng tổng số ngân sách của các nước khác trên thế giới cộng lại. Giáo Sư Bùi Mẫn Hân đã nghiên cứu về nước Tầu của ông suốt đời, năm ngoái đã tiên đoán trong 72 năm nữa thì ngân sách quốc phòng của “cả Á Châu” mới hy vọng lớn bằng ngân sách Mỹ. Ðến lúc đó thì không biết còn người dân nước nào muốn đánh nhau nữa hay không!

    Người ta cũng đầy những ảo tưởng về kinh tế Trung Quốc. Nhân tin tức nói Tổng Sản Lượng Nội Ðịa của Trung Quốc đã lên hàng thứ hai trên thế giới, trong bài trước, mục này đã viết về các nhược điểm của nền kinh tế nước này. Xin trình bày thêm những chỗ suy nhược khác để quý vị độc giả thấy rõ hình ảnh kinh tế Trung Hoa, để biết con “Cọp Giấy” này chưa có gì đáng sợ.

    Một yếu tố giúp Trung Quốc trở thành khu nhà máy chế tạo của thế giới là nhân công rẻ tiền; lực lượng đông đảo các nông dân, công nhân thiếu việc làm, nên họ chấp nhận lương rất thấp. Họ sản xuất hàng hóa tung ra khắp thế giới, đem ngoại tệ về cho ngân hàng trung ương. Hàng trăm triệu thanh niên từ nông thôn lên thành phố sẵn sàng đổ mồ hôi trong xưởng máy, vì dù bị chủ nhân “bóc lột” thì mức sống cũng còn khá hơn là tiếp tục đổ mồ hôi trên đồng ruộng mà không đủ ăn. Họ hoan nghênh tư bản ngoại quốc đầu tư. Năm 1962 nhà kinh tế Joan Robinson người Anh khôi hài rằng: “Nỗi khốn nạn vì bị tư bản bóc lột so ra cũng không thể nào đau bằng nỗi khốn nạn vì không có ai bóc lột!” Các công ty ngoại quốc đã bỏ vô nước Tầu 500 tỷ đô la, đang sử dụng 16 triệu công nhân. Trong số 200 công ty xuất cảng nhiều nhất ở Trung Quốc có 153 công ty do người nước ngoài làm chủ một phần hay hoàn toàn. Trả lương thấp để dễ xuất cảng; toàn dân nhịn tiêu thụ để tiết kiệm, đó là những bí quyết thành công của Trung Quốc trong 30 năm đổi mới kinh tế vừa qua.

    Các bí quyết đó đang dần dần biến mất vì dân chúng đang thay đổi. Thành phần lao động trẻ từ 15 đến 29 tuổi giảm đi nhiều, còn lớp tuổi già tăng lên. Một bằng cớ là trong hai năm vừa qua số sinh viên ghi tên vào đại học giảm liên tục. Nhà dân số học Sái Phương (Cai Fang), thuộc Viện Khoa Học Xã Hội ở Bắc Kinh, từ 5 năm trước đã báo động nước Trung Hoa sẽ thiếu nhân lực. Có hơn 100 triệu người Trung Hoa ở vào lớp tuổi từ 65 trở lên, chiếm khoảng 8% dân số. Ðến năm 2017, Sái Phương tính toán, lớp tuổi này sẽ chiếm 10% dân số. Trong 25 năm từ 2005 đến 2030 số người trong tuổi làm việc (từ 15 đến 64 tuổi) chỉ tăng trung bình 0.4% mỗi năm. Trong thời gian đó trên toàn thế giới lớp tuổi lao động này gia tăng với tỷ lệ 1.2% một năm, gấp ba lần. Lớp tuổi sắp về hưu (50 đến 64) sẽ tăng thêm 67%.

    Giáo Sư Bùi Mẫn Hân, đang sống ở Mỹ, nêu thống kê của Bộ Lao Ðộng Xã Hội Trung Quốc cho biết người Trung Hoa mỗi ngày già hơn. Vào năm 2005 thì tuổi đứng giữa trong dân số Trung Hoa là 32.5 tuổi (median, tiếng Việt gọi là Trung Số, tức là có 50% già hơn và 50% trẻ hơn tuổi này, khác với số trung bình). Với đà dân số thay đổi hiện nay, đến năm 2020, tức là 10 năm nữa thôi, tuổi đứng giữa ở bên Tầu sẽ lên xấp xỉ 38. Như vậy thì đến năm 2020 gần một nửa dân số nước Tầu sẽ thuộc lớp 40 tuổi trở lên. Một cuộc nghiên cứu gần đây phỏng vấn các nông dân có ý định lên thành phố làm việc hay không; hơn 15% những người trả lời “không” đã nêu lý do vì tuổi đã già; mà thật sự thì họ chưa tới 40 tuổi. Lực lượng lao động năng nổ nhất xây dựng kinh tế Trung Hoa đang trở về già!

    Cũng theo thống kê của bộ Lao Ðộng Xã Hội Trung Quốc lớp tuổi từ 60 trở lên chiếm 11% dân số vào năm 2005, đến năm 2020 sẽ chiếm hơn 17%. Tới năm 2030, tức là 20 năm nữa, sẽ có 351 triệu người Tầu già hơn 60 tuổi, chiếm gần một phần tư dân số (23%). Người già không làm việc nữa, bọn trẻ phải nuôi. Vào năm 2005 cứ 5 người làm việc nuôi một người nghỉ hưu; tới năm 2030 vì số người già tăng lên, cứ 2 người làm việc là phải nuôi một người nghỉ hưu. Ít người làm việc hơn thì kinh tế tăng chậm hơn, ai cũng hiểu. Mười năm trước vào năm 2000, lợi tức bình quân tăng 5.3% một năm. Nhưng đến năm 2020 tức là trong 10 năm nữa tỷ lệ gia tăng sẽ chỉ còn 2.9%. Nhìn vào thành phần các lứa tuổi trong dân số thì ở Á châu Nhật Bản cũng giống như Trung Quốc. Còn Việt Nam, Ấn Ðộ trái lại, là những quốc gia trẻ trung đang lên.

    Khi tỷ số người trong lớp tuổi già tăng thì số chi tiêu về y tế trong cả xã hội sẽ tăng theo. Do đó, tỷ lệ tiết kiệm sẽ giảm. Chi phí sản xuất sẽ cao hơn vì số công nhân hiếm hoi sẽ đòi tăng lương. Hai lợi thế cạnh tranh của Trung Quốc trong mấy chục năm qua sẽ biến mất, là lực lượng nhân công rẻ và tỷ lệ tiết kiệm cao. Hiện nay các công ty ở Trung Quốc đang chuyển cơ sở sản xuất tới những vùng “sâu và xa” để khai thác số nhân lực trẻ chưa chịu đi tìm việc ở những tỉnh gần bờ biển. Trùng Khánh ở tỉnh Tứ Xuyên (82 triệu dân) ở miền Tây đang phát triển rất nhanh. Ngay các tỉnh phía Ðông như An Huy (62 triệu dân) cũng đưa chính sách hấp dẫn giới đầu tư ngoại quốc, trong năm 2009 đã thu hút được gần 4 tỷ Mỹ kim do ngoại quốc đầu tư vì ở đó lương còn thấp và đất giá rẻ. Nhưng các lợi thế đó đang dần dần biến mất.

    Khi nhân lực bắt đầu thiếu hụt, người lao động sẽ đòi tăng lương. Chúng ta đã đọc tin các cuộc đình công tại những hãng Honda, Foxcom (của Ðài Loan) khiến ban giám đốc phải tăng lương từ 20% đến 30%. Ðạo luật Lao Ðộng ban hành đầu năm 2008 đã cho phép công nhân được hưởng quyền làm việc theo hợp đồng khiến cho giới lao động có thêm vũ khí đấu tranh. Ðúng như Karl Marx mô tả hơn 150 năm trước, khi giới vô sản có cơ hội tụ tập lại trong các xưởng máy, họ dần dần “giác ngộ quyền lợi giai cấp” của mình. Trong các cuộc đình công tại 3 công xưởng hãng Honda tại Quảng Ðông, thành phần công nhân năng động nhất là các sinh viên trường dậy nghề đến thực tập. Những công nhân có học hơn thì cũng ý thức và đòi hỏi quyền lợi cao hơn. Lớp công nhân trẻ không so sánh lợi tức của họ với đám chú bác, anh chị còn lam lũ cầy cấy ở đồng ruộng, như công nhân trong thế hệ 1980, 90 nữa. Bây giờ họ có những khát vọng cao hơn, muốn được sống như những người dân thành thị; tầng lớp trung lưu mới đang thành hình.

    Ai cũng phải thấy là giới lao động ở Trung Hoa đang bị bóc lột. Trong các ngành công nghiệp chế tạo, có 112 triệu công nhân, trong đó 70% làm về kim loại. Lương của họ trung bình được trả chưa đến một đô la (US$ 0.81), chưa bằng 3% lương người thợ làm cùng một việc ở Mỹ. Cho nên, họ đang đứng lên đòi tăng lương. Trong 5 năm từ 2002 đến 2006, lương trung bình đã tăng 9% một năm, ở thành phố tăng 11% vì sinh hoạt đắt đỏ. Chi phí nhân lực ở Trung Quốc đang tăng lên, cao bằng người thợ ở Phi Luật Tân hay Thái Lan. Nhiều thành phố đã tăng lương tối thiểu 20%. Công nhân hãng Honda ở Phật Sơn, Quảng Ðông, đình công đòi hỏi và được tăng lương 47%. Cuộc đình công này xẩy ra trong lúc 25 triệu công nhân “di dân nội địa” mất việc phải quay về làng, và sau khi tỉnh Quảng Ðông trù phú nhất nước đã đóng cửa 670,000 cơ sở sản xuất nhỏ ở Quảng Châu, Ðồng Quan và Thẩm Quyến. Ðiều đó cho thấy trong tương lai giới lao động Trung Quốc sẽ đòi được chia phần xứng đáng trong nồi cơm kinh tế quốc gia. Giá thành trong việc sản xuất sẽ tăng lên, Trung Quốc sẽ mất một lợi thế cạnh tranh trên thế giới. Trong tháng 5 năm 2010 số đầu tư ngoại quốc vào Trung Hoa đã giảm 12% so với cùng thời kỳ năm trước.

    Khi lương bổng được tăng lên thì người lao động trẻ sẽ dùng để tiêu thụ chứ không tiết kiệm như lớp cha anh họ. Vì thế, tỷ lệ tiết kiệm của người dân Trung Hoa nói chung sẽ xuống thấp; một lợi thế cạnh tranh khác sẽ bị sút giảm. Nhưng các hậu quả kinh tế của sự thay đổi trong dân số không quan trọng bằng những hậu quả xã hội và chính trị. Chính vì vậy mà ông Ôn Gia Bảo mới nói đến cải tổ chính trị như một điều cần thiết, nếu không thì kinh tế sẽ khựng lại.

    Giáo Sư Hoàng Á Sinh năm ngoái mới xuất bản cuốn “Kinh tế tư bản với đặc tính Trung Hoa, Capitalism with Chinese characteristics.” Ông là người Trung Quốc, chỉ sang Mỹ sau khi đã tốt nghiệp đại học, cho nên hiểu biết về nước Trung Hoa sâu xa hơn nhiều nhà nghiên cứu ngoại quốc.

    Cuốn sách này giành một chương viết về Thượng Hải, nơi được coi là lớn lên nhanh nhất nhưng cán bộ bảo thủ nhất và tham nhũng nhất nước. Ông tham khảo tài liệu của chính phủ Bắc Kinh, thấy từ năm 2000 những người nghèo nhất ở thành phố này đã nghèo hơn. Ðây là thành phố được coi là trung tâm kỹ thuật cao, nhưng số bằng sáng chế ở đây ít hơn ở các tỉnh Triết Giang và Quảng Ðông.

    Giáo Sư Hoàng Á Sinh thấy thập niên 1980 là giai đoạn Trung Quốc phát triển sâu và rộng nhất, đặc biệt là ở các vùng nông thôn, chính là nhờ chính trị thay đổi. Số sản xuất trong thập niên 1980 lên cao là nhờ những xí nghiệp tư nhân ở khắp các vùng nông thôn. Những xí nghiệp hương thôn (Township and Village Enterprises, TVE) phần lớn là tư doanh: 10 triệu trong số 12 triệu xí nghiệp đó hoàn toàn do tư nhân làm chủ. Sản năng của họ cao gấp bội các doanh nghiệp nhà nuớc. Chính lớp doanh nhân gốc nông dân đã đẩy nền kinh tế cả nước đứng dậy.

    Nguyên do chính là nhờ những thay đổi trong không khí chính trị. Chính trị tự do hơn giúp kinh tế mạnh hơn. Giáo Sư Bùi Mẫn Hân, một người Trung Quốc khác đang ở Mỹ, cũng nhận xét rằng hầu hết các thay đổi chính trị quan trọng ở Trung Quốc đã diễn ra trong thập niên 1980. Thí dụ quyết định buộc các nhân viên nhà nước và quốc hội đến hạn tuổi phải về hưu, cải tổ hệ thống tư pháp, gia tăng quyền lực cho quốc hội, thí nghiệm cho dân bàu trực tiếp chính quyền hương thôn. Các chính sách đó đều được đưa ra trong giai đoạn 1980, tạo nên một không khí phấn khởi. Cùng lúc đó, nông dân được vay vốn dễ dàng hơn, nhờ thế những xí nghiệp hương thôn mở ra khắp nơi giảm bớt nạn khiếm dụng. Bây giờ thì tiền bạc được đổ vào các doanh nghiệp nhà nuớc.

    Biến cố Thiên An Môn năm 1989 đã khiến Bắc Kinh thay đổi. “Ðảng Thượng Hải” cầm đầu nước Trung Hoa! Cộng sản Trung Hoa lo củng cố địa vị, bảo vệ các cán bộ trung thành. Họ bắt đầu bỏ rơi nông dân, xây dựng lớp trung lưu thành thị phần lớn là cán bộ, đảng viên, tập trung dưới sự bảo trợ của đảng. Từ thập niên 1990, đảng cộng sản đã sao lãng giới tư doanh ở nông thôn, không được cấp tín dụng dễ dàng như trước. Tiền bạc được dành cho thành phố, nơi tập trung các cán bộ và gia đình của họ. Chính quyền can thiệp để giữ tỷ lệ tăng trưởng cao gần 10% qua các vụ đầu tư thiếu hiệu quả. Nhưng con đường đó không thể bền vững được.

    Nhà nước can thiệp có thể gây hiệu quả trong giai đoạn bắt đầu công nghiệp hóa. Ngay tại Liên xô trong những năm từ 1930 đến 1950, mô hình tập trung chỉ huy cũng có hiệu quả. Nhưng trong những bước tiếp theo thì mô hình đó lỗ rõ nhược điểm không thể cứu vãn. Khi các nước Á Ðông phát triển kinh tế trong thập niên 1970, ở Nam Hàn, Ðài Loan kinh tế phát triển cùng lúc với phong trào dân chủ hóa. Giới lao động Trung Quốc đang tranh đấu để trở thành tầng lớp trung lưu. Họ sẽ có những khát vọng tự do dân chủ. Khi chính quyền cộng sản Trung Hoa chịu thua, cho phép người dân được lãnh lương cao hơn, được tiêu thụ nhiều hơn, thì họ cũng ý thức được rằng họ phải được công nhận là những công dân thực thụ, với đủ các quyền ghi trong Hiến Pháp.

    Hiện nay lợi tức bình quân của người Trung Hoa cũng chỉ lớn bằng người dân các nước Alabnia hay El Salvador. Còn lâu mới so sánh được với người Mỹ. Chính nhờ cơ cấu xã hội cởi mở, tự do, nước Mỹ mới sinh ra được những công ty như Microsoft, Google, Apple. Một chế độ độc tài không thể nào khích lệ người dân mở mang sáng kiến, táo bạo đầu tư. Ðó là nhược điểm căn yếu trong nền kinh tế Trung Quốc. Nếu không dân chủ hóa sớm thì sẽ không thể nào vượt qua được chướng ngại này. Biết như vậy, nước Việt Nam chúng ta phải tránh, không nên bước vào ngõ cụt của Bắc Kinh. Phát triển kinh tế phải đi song song với quá trình dân chủ hóa.

    Chủ đề: Kinh tế, Thế giới

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    0 phản hồi