Màu Lá Úa - Cần xem xét sửa đổi khoản 5, điều 9 Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam.

  • Bởi Khách
    30/08/2010
    0 phản hồi

    Màu Lá Úa

    Tuy nhiên, sau khi đất nước thống nhất năm 1975, và nổi bật là đường lối đổi mới được đưa ra từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 6 năm 1986, thì đòi hỏi về một xã hội Dân chủ văn minh phù hợp với quy luật khách quan, xu thế thời đại và thực tiễn của đất nước được đặt ra và chú trọng. Cả trong các nghị quyết của Đảng, các văn bản của bộ máy chính quyền đều có nội dung bảo vệ và phát huy quyền Dân chủ, trực tiếp và gián tiếp lồng ghép nội dung. Song, vẫn tồn tại nhiều hạn chế về hiệu quả do nhiều nguyên nhân. Về nguyên nhân khách quan thì có thể cần thời gian và quyết tâm, nhưng, về chủ quan, vẫn còn đây đó mang tính hô khẩu hiệu, vận động hình thức, thực hiện theo kiểu "thử sai, sai sửa". Và, nguyên nhân của tình trạng đó là nguyên nhân mang tính cơ chế, nó bị giới hạn "trói buộc" từ nội dung hiệu lực của khoản 5 điều 9 Điều lệ Đảng đã nêu trên.

    Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội theo quy định của điều 4 Hiến pháp. Chính lẽ đó nên mặc dù chỉ là một bộ phận trong cả hệ thống chính trị, nhưng vì vai trò lãnh đạo là cương vị quyền lực cao nhất bao trùm tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt cho nên mọi cương lĩnh, chiến lược, chủ trương, chính sách, công tác tư tưởng, tổ chức - cán bộ (nhân sự), công tác kiểm tra, giám sát v.v... của Đảng Cộng sản Việt Nam được xem như là "NGUỒN" cho mọi tổ chức và hoạt động Lập pháp, Hành pháp, Tư pháp của Nhà nước trong quá trình xây dựng quản lý điều hành đất nước.

    Điều lệ của Đảng cũng là một nội dung của "NGUỒN" nói trên.

    Trải qua 70 năm từ ngày thành lập đến nay, Điều lệ của Đảng được sửa đổi, bổ sung qua các kỳ Đại hội Đảng toàn quốc để luôn phù hợp với xu thế thời đại và thực tiễn của đất nước, phù hợp với ý chí, nguyện vọng của nhân dân. Trước mỗi lần sửa đổi ở mỗi kỳ Đại hội Đảng, dự thảo được phổ biến nội bộ lấy ý kiến trên phạm vi toàn quốc cho tất cả Đảng viên tham gia góp ý, rồi Đại hội thông qua.

    Đáng chú ý nhất cho sự sửa đổi, bổ sung Điều lệ Đảng là việc lấy ý kiến trước Đại hội và thông qua tại Đại hội toàn quốc lần thứ 10, năm 2006, về việc cho phép Đảng viên làm kinh tế tư nhân (đoạn "... có lao động, không bóc lột..." của Điều lệ cũ, Đại hội 9, qua Điều lệ Đại hội 10 bỏ đi cụm từ "không bóc lột" tại khoản 1, điều 1), đồng nghĩa là về mặt lý luận đã phát huy tinh thần đổi mới của Đại hội 6 về xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường, cũng như đã ngày càng công nhận hơn vai trò của kinh tế tư nhân đối với công cuộc xây dựng và phát triển đất nước, coi như "cởi trói", cho phép, khuyến khích Đảng viên biết làm ăn kinh tế trở thành những nhà tư bản.

    Tuy nhiên, dù trải qua bao kỳ Đại hội, kể cả đến thời gian này chuẩn bị cho Đại hội 11, có một điều khoản của Điều lệ chưa hề được đưa ra thảo luận, đó là khoản 5 điều 9, vẫn hiệu lực cho đến nay, Điều lệ Đảng Đại hội toàn quốc lần thứ 10 năm 2006 tiếp tục thông qua, đoạn: "... Ðảng viên có ý kiến thuộc về thiểu số được quyền bảo lưu và báo cáo lên cấp ủy cấp trên cho đến Ðại hội đại biểu toàn quốc, song phải chấp hành nghiêm chỉnh nghị quyết, không được truyền bá ý kiến trái với nghị quyết của Ðảng. Cấp ủy có thẩm quyền nghiên cứu xem xét ý kiến đó; không phân biệt đối xử với đảng viên có ý kiến thuộc về thiểu số".

    Vì sao phải lấy ý kiến về nội dung này?

    Xét về tính lịch sử đấu tranh của đất nước, thời kỳ Đảng đang hoạt động và thực hiện vai trò lãnh đạo các phong trào khi đất nước đang trong tình trạng chiến tranh, các cuộc đấu tranh Chính trị, quân sự luôn trong tình thế mạng lưới mật thám quân thù dày đặc, có nguy cơ bị quân thù đe doạ về tinh thần, đàn áp, tấn công với hoả lực mạnh hơn gấp bội. Do đó, việc giữ bí mật thông tin cho việc Đảng lãnh đạo phong trào quần chúng, giữ vững lập trường cho quần chúng Cách mạng khi đấu tranh Chính trị, tư tưởng cho lực lực lượng vũ trang an tâm "đời chúng ta đâu có giặc là ta cứ đi", tinh thần quyết chiến quyết thắng là ưu tiên hàng đầu, nên việc Điều lệ Đảng quy định không được truyền bá ý kiến trái với Nghị quyết của Đảng là cần thiết. Nếu để lộ ra ý kiến thuộc về thiểu số sẽ gây mất an tâm cho dân, cho quân, gây hoang mang, nghi ngờ, mất đoàn kết đội ngũ, tổn hại tinh thần chiến đấu.

    Xét về mặt kinh tế - chính trị, thời kỳ chống Pháp trước và sau năm 1946, kể cả hai giai đoạn từ khi chưa lập được Chính phủ đến lập được Chính phủ năm 1945, cho tới chiến thắng Điện Biên lẫy lừng 1954, tiến về Hà Nội... thì sự lãnh đạo của Đảng đối với nền sản xuất xã hội bị hạn chế cả về lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất do Pháp và "chính quyền Bảo Đại" đang kiểm soát phần lớn lãnh thổ Việt Nam. Do đó, việc đẩy mạnh phát triển xã hội về mọi mặt trên cơ sở một nền Chính trị ổn định, xã hội kỷ cương là chưa có nên chưa cần đặt ra yêu cầu về thúc đẩy phát triển một xã hội Dân chủ.

    Qua thời kỳ chống chủ nghĩa can thiệp Mỹ thì lãnh thổ thuộc thẩm quyền của Chính phủ đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng chỉ hạn chế từ vĩ tuyến 17 trở ra Bắc, đến năm 1972 đến được bờ Bắc sông Thạch Hãn, Quảng Trị, phần còn lại của đất nước vẫn chưa dành được đang tiếp tục đấu tranh, thì cũng tương tự giai đoạn trước năm 1954, yêu cầu về một xã hội Dân chủ cũng chưa cần thiết phải mở rộng, vì tất cả cho cuộc đấu tranh quyết liệt một mất một còn.

    Tuy nhiên, sau khi đất nước thống nhất năm 1975, và nổi bật là đường lối đổi mới được đưa ra từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 6 năm 1986, thì đòi hỏi về một xã hội Dân chủ văn minh phù hợp với quy luật khách quan, xu thế thời đại và thực tiễn của đất nước được đặt ra và chú trọng. Cả trong các nghị quyết của Đảng, các văn bản của bộ máy chính quyền đều có nội dung bảo vệ và phát huy quyền Dân chủ, trực tiếp và gián tiếp lồng ghép nội dung. Song, vẫn tồn tại nhiều hạn chế về hiệu quả do nhiều nguyên nhân. Về nguyên nhân khách quan thì có thể cần thời gian và quyết tâm, nhưng, về chủ quan, vẫn còn đây đó mang tính hô khẩu hiệu, vận động hình thức, thực hiện theo kiểu "thử sai, sai sửa". Và, nguyên nhân của tình trạng đó là nguyên nhân mang tính cơ chế, nó bị giới hạn "trói buộc" từ nội dung hiệu lực của khoản 5 điều 9 Điều lệ Đảng đã nêu trên.

    Đành rằng, trong điều khoản đó, có quy định thêm "Cấp ủy có thẩm quyền nghiên cứu xem xét ý kiến đó; không phân biệt đối xử với đảng viên có ý kiến thuộc về thiểu số", nhưng thực tế quy trình thực hiện chức năng tổng hợp ý kiến của Đảng viên từ địa phương, từ các ban ngành v.v... cho các cuộc họp của Ban chấp hành Trung ương Đảng, rồi chức năng kiểm tra biên bản các cuộc họp trong toàn Đảng để xem xét việc biên bản có thật sự phản ánh đúng những gì đã diễn ra hay không, phải nói là nhiều bất cập.

    Một điều khoản đã không còn phù hợp với đường lối đổi mới không ngừng của Đảng cho giai đoạn phát triển của đất nước hiện nay.

    Chính bởi điều khoản đó, một vị đại biểu của dân với tư cách là Đại biểu Hội đồng nhân dân, Đại biểu Quốc hội, nếu là Đảng viên, thì đương nhiên sẽ gặp vấn đề khó xử khi nếu Nghị quyết của Đảng mà vị đó đã tham gia họp, lại không trùng với nguyện vọng của dân địa phương nơi vị đó đại diện, cho dù Nghị quyết lại đáp ứng được nguyện vọng của dân nhiều địa phương khác mà vị đó không đại diện. Do đó, một mặt vị Đại biểu có nhiệm vụ phải nói lên tiếng nói của cử tri, nhưng mặt khác với tư cách là một Đảng viên lại không được nói lên ý kiến thuộc về thiểu số vì cử tri của Đại biểu đó là thiểu số thôi so với cử tri đa số (trùng với Nghị quyết của Đảng).

    Rất khó xử. Không nói lên tiếng nói cho cử tri sẽ bị hiểu nhầm, bất tín nhiệm. Và chắc chắn nếu nói ra ý kiến thuộc về thiểu số sẽ chịu ngay một hình thức kỷ luật của Đảng. Thực tế đã có không ít trường hợp như vậy.

    Và cũng chính bởi điều khoản đó nên một thời các tổ chức Đảng thuộc Đảng bộ PMU-18 luôn được đánh giá là "trong sạch vững mạnh", cho đến khi vụ việc tham nhũng nổi đình nổi đám được phanh phui thì "cháy nhà mới ra mặt chuột", hoá ra các biên bản đánh giá quá trình lãnh đạo của tổ chức Đảng ở đây còn nhiều khuất tất. Các Đảng viên biết đấu tranh cho cái đúng bị chủ nghĩa cơ hội, bè phái, chủ nghĩa cá nhân đã vùi dập. Ý kiến thuộc về thiểu số trong tổ chức Đảng ở đây suốt thời gian đằng đẳng chẳng ai bảo lưu hay xem xét cho thấu đáo.

    Và cũng chính điều khoản đó nên nhưng Đảng viên có sáng kiến mang tính cách tiến bộ, hứa hẹn mang lại hiệu quả cao, nhưng vì mới lạ nên có phần gây nhận thức và tâm lý nghi ngại trong đa số Đảng viên còn lại, cho dù họ sẵn sàng hy sinh quyền lợi (chấp nhận hình thức kỷ luật) để phục vụ cho mục đích ích nước lợi dân, nhưng khi bị họ bị kỷ luật thì lý do không ai được nói ra ý kiến thuộc về thiểu số theo quy định của Đảng khiến cho công luận nghi ngờ và e ngại "người Đảng viên bị kỷ luật", bởi công chúng tại thời điểm đó không mấy ai biết kỷ luật là vì sao; một ví dụ điển hình là ông Kim Ngọc nguyên bí thư tỉnh uỷ Vĩnh phúc, được xem là tác giả của "khoán 10" nổi tiếng.

    Ngoại lệ là có cố Thủ tướng Chính phủ Võ Văn Kiệt, thời tại vị Bí thư Thành uỷ thành phố Hồ Chí Minh có nhiều lúc "xé rào" cải cách trong phát triển kinh tế, trong việc trọng dụng người tài là người của chế độ cũ Việt Nam Cộng hoà v.v... mà ông đã có thành công nhất định dù không ít dị nghị từ trong Đảng về ông. Nhưng số Đảng viên giữ cương vị cấp cao như ông thì mấy ai. Còn lại số giữ cương vị thấp, không chức vụ thì khó có thể mấy ai biết sáng kiến của họ được, nếu Nghị quyết Đảng (nơi họ là thành viên và sinh hoạt) thông qua không có ý kiến của họ, thuộc về thiểu số, cấm ai nói ra sau cuộc họp.

    Và cũng chính điều khoản đó nên trong quá khứ, có những chiến lược khi đưa ra thực hiện, qua thời gian đã chứng minh tính sai lầm về cả lý luận lẫn thực tiễn, do chủ quan duy ý chí muốn phát triển học theo lối "đại nhảy vọt". Sở dĩ sai lầm không sớm nhận ra, mà kéo dài, một phần cũng bởi những ý kiến thuộc về thiểu số (mang tính phản biện) cho việc nhận ra sai lầm đã không được chú trọng cho đúng với ý nghĩa của nó; sai lầm vẫn tiến hành lại còn được vinh danh là "chủ trương lớn của Đảng".

    Nếu đặt vấn đề bí mật Nhà nước là yêu cầu của điều khoản nói trên, cũng như các chính sách chiến lược đối ngoại, bí mật An ninh quốc gia, thông tin tình báo, bí mật Quốc phòng, bí mật Điều tra v.v... thì cũng không vì lý do đó mà cho là hợp lý. Bởi lẽ các cơ quan Nhà nước đã có Luật, văn bản dưới Luật điều chỉnh chế độ công tác nói chung hay cho các lĩnh vực công tác đặc thù về chế độ bảo mật. Đó là các yêu cầu về chuyên môn trong tất cả các cơ quan Nhà nước, thuộc thẩm quyền quản lý và điều hành của lĩnh vực chuyên môn ngành nghề.

    Không nên cho là bí mật của Đảng phải phụ thuộc vào bí mật của các cơ quan được Đảng lãnh đạo. Ngay như các Quốc gia thể chế chính trị họ có 2 hay nhiều Đảng phái có Đảng viên trong bộ máy Nhà nước, nhưng hiệu quả giữ bí mật cho nhiệm vụ quản lý điều hành Quốc gia đâu có kém đi.

    Và quan trọng hơn hết, "Ðảng lãnh đạo, tôn trọng và phát huy vai trò của Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị - xã hội" (Chương "Ðảng và những vấn đề cơ bản về xây dựng Ðảng" - Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam).

    "Đảng bao biện làm thay Nhà nước sẽ hạ thấp cả vai trò lãnh đạo của Đảng, cả hiệu quả quản lý của Nhà nước" (cố Tổng bí thư Lê Duẩn).

    Cần xem xét sửa đổi khoản 5, điều 9 Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam!

    Chủ đề: Pháp luật

    Hãy chia sẻ suy nghĩ của bạn

    0 phản hồi